Ngày tục giảng ở Huế

ngày tục giảng khởi đầu bằng buổi thượng kỳ
học trò xây thành hàng tròn quanh cột cờ
im lặng
lá quốc kỳ leo dần mệt mỏi
bài quốc ca không ai hát nổi say sưa
năm phút mặc niệm những người đã chết
học trò ứa nước mắt không dám nhớ
nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
hàng trăm người gục chết
xác ngổn ngang như củi
đàn bà trẻ con ông già bà lão
lính quốc gia cộng sản
lính mỹ đại hàn
chồng sấp chồng ngửa lên nhau
nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
công chức mất máu
công chức mất đầu
hai hầm chôn sống gần năm chục
người bỏ vợ bỏ con
người xa cha xa mẹ
người bị giết vì lầm
học trò cúi mặt không dám nhìn
thầy giáo cho nhanh vào lớp
2.
buổi học khởi đầu bằng thầy công dân
học trò nhìn thầy thầy nhìn học trò
chua xót
lớp học còn lại năm bảy đứa
phờ phạc như chim bị bão
như kẻ mất hồn
thầy hỏi những đứa kia đâu hết
học trò ngồi chết cứng nhìn nhau
có những trò đã chết
xác còn  chôn trên các vỉa hè
bên mũi cầu trong công viên trong rãnh nước
có những trò đi biệt
chưa biết được ngày về
bỏ sách vở bạn bè thành phố
gởi cuộc đời vui gian nan
có những trò nghỉ học
hoặc đã đi lính cũng nên
bởi cửa nhà cháy rụi
cha mẹ không đủ tiền
nuôi con…
thầy giáo như đã khóc
học trò ngồi nín lặng
lớp học vội vàng tan…
trần đình sơn cước(4-1968)

Tức Khắc Cà Phê /Mưa như Huế /Quạ và chim bồ câu


1.
Tức Khắc Cà Phê

Đâu còn…
Ly cà phê vỉa hè
Đâu còn…
Sớm bạn, chiều bè
Lang bang
Trưa, xế…

Buổi sáng, buổi sáng
Vội vàng, vội vàng
Ly cà phê
Hòa tan

Buổi sáng, buổi sáng
Vội vàng, vội vàng
Ơi những cuộc tình
Tức khắc
Hòa
Tức khắc
Tan…

(5/02)

2.
Mưa như huế

Đầu xuân, San Jose
Trời mưa
Mưa dầm dề…
Mưa lê thê…
Mưa suốt tuần lễ

Giọng ai rất mệ
Mưa… mưa San Jose
Mưa … mưa chi như Huế rứa

Giọng ai nhừa nhựa
Mưa… mưa quá ngày
Mưa… mưa quá đêm
Mưa… mưa chi như Huế miền

Đầu xuân, San Jose
Chiều mưa
Chuyện xưa…
Quyện
 Nay…
Lòng thoảng chút hương cay
Huế những ngày nằng nặng

Đầu xuân, San Jose
Thiếu nắng
Những chồi hoa vẫn còn trốn lạnh
Chỉ trà my
Nở  giùm tôi
Một đóa hải đường
Trong vườn
Mưa như Huế…

(San Jose )

3.
Quạ và chim bồ câu

Ở quê tôi
Người ta vác sào đuổi quạ
Chỉ có bồ câu
Quanh quẩn trước sân nhà

Điều chính điều tà
Như màu trắng bồ câu
Như màu đen áo quạ
Chẳng thể nào dung hòa

Nơi đây
Chim bồ câu và quạ
Chung nhau mảnh trời xanh
Chia nhau một gốc cành

Bồ câu nói với bồ câu
Này trời đất bao la
Đâu phải của riêng ta
Mà còn chung với quạ

Màu trắng bồ câu
Màu đen áo quạ
Là gam độ sắc màu
Mãi bên nhau tồn sinh…

Giật mình
Ta muốn bỏ
Cục bướu đầu cực đoan.

(Tustin 5/93)

Vô ngôn (*) /Nỗi buồn

Trần Kiêm Trinh Tiên
                           
Thuở ấy tình cờ
Người hành khất mù ôm cây đàn thùng
cùng đứa con gái nhỏ
dừng ngang chỗ anh ngồi
nơi người chị buôn hàng chuyến
vừa đẩy bao gạo dấu nhờ dưới chân anh
Con tàu chao nghiêng lúc qua hẻm núi.

Đứa con gái nhỏ cầm chiếc mũ vải trong tay
“ Và kính thưa quý vị
Sau đây chúng tôi xin trình bày
“Hai mươi bốn giờ phép”
Nhạc và lời của Trịnh Công Sơn”
Cô bé chẳng hề băn khoăn
về một tên gọi
chìa chiếc mũ vải trước mặt anh
số tiền anh bỏ vào nhiều hơn một tuần hát dạo
Người cha khản giọng hát về một miền nắng gió
Về nỗi chia xa...
Bạn bè nhìn anh không dấu được nụ cười
Bài ca nào phải của anh
Chỉ nỗi đau chung, một thời khói lửa
Anh lặng như dáng cò, ngồi nhớ cánh đồng mưa.                                             

Anh cũng là người hát rong
Cô đơn hát lời vô ngôn
Hát lời tiên tri thuở mặt trời chưa mọc

O4/2002

(*) bài thơ mang tên “Kỷ niệm” đã đăng trên Tạp chí VAN (số 65, Tháng Năm 2002,  California)  với bút hiệu “Trần Thị Thái Khương”


Nỗi buồn

Khi anh ngồi hát về nỗi buồn
với cái bóng của mình
Con tò vò làm tổ
với đất khô và giọt lệ
Nhện giăng hoài
không hết cuộn tơ sầu

Có ai hái bông hoa ở phương trời này
gửi theo trăng xanh về nơi con sông u hoài
Nơi vườn xưa đọc thơ Tô Đông Pha
Thấy mình ngoài ngàn dặm
Cánh hạc vàng bay qua
thả rơi tình khúc cũ

Ôi những ý nghĩ rất xưa
của một người chưa hề làm thơ
Chỉ biết gửi lòng mình
 trên luống cải vàng bông tháng giêng
ở triền sông.

Anh có tin không
Trong khu rừng già phục sinh
Chim phuợng đã quay về  làm tổ
Khi anh vẫn ngồi hát về nỗi buồn
Với cái bóng của mình.

05/1998

(*) bài thơ đã đăng trên Tạp chí VĂN (số 42, Tháng 8/9 năm 1998,  California)  với bút hiệu “Trần Thị Thái Khương”

Lời Của Thác




Đêm đã qúa canh khuya
Đà Lạt chìm sương lạnh
Ai vẫn lòng canh cánh
Ôm hận, sầu… không tan.

Thác vẫn đổ ầm ào
Nghìn vạn năm trắng xóa
Thác của ông cha ta
Sao nay thành “ thác lạ” (1)

Hỏi đá, hỏi hoa, hỏi…
Ai chia? bờ Bắc bờ Nam
Ai cắt? giòng nước bạc
Ai? Ai dời cột mốc
Ai? Ai lấn biên cương

Đêm Đà Lạt canh tàn
Ai thức và ai ngủ
Ai truy tầm chứng cứ (2)
Bóc trần trái tim gian

Thác vẫn đổ ầm ào
Trăm năm rồi nghìn năm
Ai qua đây còn biết
Thác nầy – thác Viêt Nam?

(3/2012)

(1) Một phần thác Bản Giốc (tỉnh Cao Bằng) đã bị chia cho Trung Quốc và mang tên là thác Đức Thiên (Detian).
(2) Xin đọc “ Sự Thật Về Thác Bản Giốc” của nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh đăng trên
www.diendan.org ngày 14-2- 2012.
(3)Ảnh trên trích từ bài viết vừa nêu của tác giả Mai Thái Lĩnh.

Tháng Tư, Nhớ Một Điều…



Gởi anh Nguyễn Hữu Doãn

Tháng tư (30 tháng tư)
Đã bao lần tháng tư
Tôi thầm nói với tôi
Thôi.
Là quá khứ rồi…

Tháng tư (30 tháng tư)
Lại tới
Tôi thầm nói với tôi
Đừng.
Bới đào lịch sử…

Tháng tư (30 tháng tư)
Vẫn tới
Ký ức tôi hỏi tội
Thắp nén hương chiều
Nhớ một điều
Đột tử:

( “Điều 101, chương 7
Hiến Pháp Việt Nam Cọng Hòa
Năm 1967:
Quốc gia công nhận sự định chế hóa
ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ” ).

Đối lập chính trị, là gì?
Ba mươi bảy năm sau,
Tháng tư
Trên quê hương tôi
Vẫn là điều tuyệt kỵ

Đối lập chính trị, là gì?
Gần bốn mươi năm sau,
Tháng tư
Trên quê hương tôi
Vẫn đầy bóng tối.

Tháng tư ơi,
Nhớ một điều quá ngụy
ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ
Nhớ hồn ma Cọng Hòa
Hay nhớ
Tinh hoa
Đã mất!!!

(30-4-2012)

Lời Đáp Của Một Câu Hỏi Lớn


Tự do? Tự do? Tự do?
Một câu hỏi lớn không lời đáp
Đến tận bây giờ mặt vẫn chau” (1)

Tự do? Tự do?
Ở đâu?
Câu hỏi gần bốn mươi năm sau
Vẫn còn là ẩn số

Người lớn ngoảnh đầu
Trí thức cúi mặt
Im lặng là nhát dao cắt
Tuổi trẻ trái tim rướm máu (1)

Thế hệ chúng tôi
Những nhà thơ bất lực
Còn chút hơi tàn
Và những lời than (2)

Tự do? Tự do?
Ở đâu?
Một buổi chiều tháng tư
Năm hai ngàn mười một
Từ Bu- e - nốt … xa xôi
Một người trẻ Việt Nam
 Trả lời câu hỏi lớn (3)

Ơi người bạn thi sĩ già
Đừng lo sức anh tàn
Không còn người cởi trói

Anh nghe chăng
Tuổi trẻ việt nam
Đã lên tiếng nói
Dù còn bị quản thúc
Dù còn bị tù đày
Dù bóng đêm vẫn còn dày đặc
Dân chủ
Tự do
Lương tri
Chúng tôi sẽ tìm thấy” (3)

1 tháng 5 năm 2011

(1) trích và lấy ý từ trong bài viết của nhà thơ Hoàng Hưng: “ Một Câu Hỏi Lớn Không Lời Đáp?”, Văn Chương Việt , ngày đăng 26.3.2011

(2) “Tháng tư đó làm đời con nghẹt thở
Ba mươi sáu lần ba mươi sáu sợi dây
Mỗi lần đến lại siết thêm chút nữa
Ba già rồi ai cởi trói cho con!”
Trích thơ Khuất Đẩu: “ Tháng tư đen”, Tiền Vệ, 4/20001

(3) “…Cũng như những anh em đang bị tù đày, quản thúc và tất cả những người đang đấu tranh cho một tương lai tốt đẹp ở Viêt Nam, chúng tôi luôn tin tưởng vào lương tri. Thông qua việc xuất bản một cách tự do những điều cần thiết, chúng tôi biết rằng nhiều độc giả của chúng tôi sẽ tìm thấy lại lương tri của mình…” trích diễn từ nhận giải thưởng tự do xuất bản của nhà thơ Bùi Chát đọc tại sảnh đường Jorge Luis Borges ở Buenos Aires chiều ngày 25.04. 2011, trích theo Tiền Vệ 4/20111.

Vẫn sống cùng ngụ ngôn

Gởi anh Mai Thái Lĩnh

Tôi tưởng tôi đã quên
Ngụ ngôn ba mươi năm trăn trở
Chàng thi sĩ đảng trí
Ngủ quên nơi đâu không kịp đón hòa bình
Ôi chiến tranh, ôi hòa bình
Ôi ước mơ nghịch lý
Hạnh phúc thay cho chàng yên nghỉ
Thôi kiếp người đảng trí
Nhớ - quên
Quên - nhớ
Chuyện non nước mình


Tôi tưởng tôi đã quên
Dụ ngôn ba mươi năm không tưởng
Chàng nhạc sĩ độc hành
Chẳng ai hát những lời ca
Một thời gió chướng
Không có bóng cờ chung
Không có vòng tay lớn
Thương cho chàng nằm xuống
Nghìn thu thực mộng
Nhớ - quên
Quên – nhớ
Da vàng
Nhớ - quên
Quên – nhớ
Mẹ gia tài

Tôi tưởng tôi đã quên
Chính ngôn ba mươi năm giông bão
Chàng trí thức dấn thân
Máu nóng – trái tim – dẫu một thời
Lầm lẫn
Nhìn lại nửa đời ư
Nửa đời ai phụ bạc
Còn lại nửa đời ư
Máu nóng – trái tim – vẫn không thể khác
Dấn thân

Tôi tưởng tôi đã quên
Tuổi trẻ đi qua
Tuổi già đang tới
Bạn bè ơi, ai còn ai mất
Ai kẻ vong thân
Ai người quay mặt
Hỡi Huế - Sài Gòn – Hà Nội
Bao nhiêu năm sao vẫn chờ mong

Hãy thà như người mù mắt
Hãy thà như người mất trí
Quên non
Quên nước
Quên tình

Lắm kẻ đã quay lưng
Sao anh còn đối diện
Lắm kẻ đã bỏ đi
Sao anh còn trụ lại
Nhắc làm chi,
Nhắc mãi
Một câu hỏi lương tâm
Xát bầm gan ruột

Kể làm chi, thua
Được
Kể làm chi, tỉnh
Điên
Ngụ ngôn xưa, ba mươi năm hưng phế
Vận vào anh
Một chữ  TRUNG
Hóa thân anh
Con kỳ lân cuối cùng.

2001-2002

Trò Chơi


(Kỷ niệm 30 tháng tư)
Gởi anh Trịnh Đình Ban

Bắt chước trẻ con
Tôi bày lịch sử
Bằng trò chơi chữ
Tôi cắt
Tôi dán…

Khi đất nước chia đôi
Việt Nam chia làm hai nước
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
VIỆT NAM CỘNG HÒA
Tôi cắt: Dân Chủ
Tôi dán: Cộng Hòa/ Việt Nam

Hòa đàm Paris
Có ba chính phủ
VIỆT NAM CỘNG HÒA
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
(LÂM THỜI) CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
Tôi cắt: Dân chủ/ Miền Nam
Tôi dán: Cộng Hòa/ Việt Nam

Đại thắng mùa xuân
(hay) Tháng tư uất hận
Một chính phủ tiêu vong
Một (Lâm Thời) hoàn thành sứ mạng
Đất nước mang tên
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tôi cắt: Xã Hội Chủ Nghĩa
Tôi dán: Cộng Hòa/ Việt Nam

Bắt chước trẻ con
Tôi bày lịch sử
Bằng trò chơi chữ
Tôi cắt
Tôi dán
Một mẫu số chung
CỘNG HÒA VIÊT NAM

Chỉ là trò chơi
Bắt chước trẻ con
Nếu ai tin thật
Hãy
Trưng cầu
Ý dân.

(4/2011)

Kỷ niệm… /Chứng ngôn


Kỷ niệm…

gởi anh Đinh Cường

Khi tôi lớn lên
Các anh như bầy chim di
Trốn xa thành phố
Bỏ lại giòng sông những sáng sương mù
Cây cầu gãy và cổ thành đổ nát
Hàng long não với gió chiều nhả nhạc
Bông sầu đông tím lặng
Chờ ai

Khi tôi lớn lên
Các anh như huyền thoại
Xao xuyến lòng các cô gái đôi mươi
Những chàng trai ôm giấc mộng đổi dời
Mơ các anh
Như mơ thần tượng

Đâu những con đường các anh đã qua
Dáng tài hoa bay trong chiều nắng lạ
Môi đắng cà phê, vàng tay thuốc lá
Trắng đêm dài
Bài thơ sầu
Bức họa rối
Mộng tình ca

Ai qua cầu, rất triết gia
Khắc khoải tồn sinh, trầm tư hiện thực
Bài thơ tình và tuyên ngôn hành động
Giòng sông xanh
Hai nhánh
Chảy xa nguồn

Ai chờ ai
Những chiều mưa
Luống cuống
Lạnh vai gầy cho nét nhạc chao nghiêng
Sông ơi sông, năm tháng nước ưu phiền
Thiếu nữ mơ gì sau cánh cổng thâm nghiêm

Khi tôi lớn lên
Thành phố, các anh, như chuyện kể thần tiên
Nhan sắc hoàng cung không mơ làm công chúa
Bỡi vì ai
Em mang đầy nắng lụa
Lòng thầm mong
Bài thơ sầu
Bức họa rối
Mộng tình ca

Khi tôi lớn lên
Các anh như bầy chim lạ
Một thoáng bay về
Một thoáng bay xa.

(3/02)


Chứng ngôn

Anh đã Đối Diện
(anh đã Đ D) *
anh đã Đứng Dậy
trước năm một chín bảy lăm
anh đã Đứng, Đối… thêm một lúc nữa
sau năm một chín bảy lăm
rồi
(tự) (buộc) nằm
im
nhưng không chịu
lặng

Cảm ơn cục than hồng (1)
Giữa đêm đông lạnh cứng
Cảm ơn ngọn đèn chầu (2)
Sáng lên hai mươi năm
Lời chứng (3)

(3/02)


Tạp chí Đối Diện có lúc đổi tên thành Đ D
(1) ý thơ Đỗ Trung Quân
(2) ý thơ Diễm Châu
(3) tác phẩm “Hẹn Thắp Lên” của Nguyễn Ngọc Lan

Bài thơ vui


tặng Trần đình Sơn Cước


Những cọng cỏ trinh tiên
trên miền nào sơn cước
tiếng hát nào trong veo
chiều xuôi thuyền mạn ngược

chiều bến Tuần ghé qua
khoai sắn trồng chưa lớn
rể cây hà thủ ô
bứt về thay thuốc uống

tiếng chim hót mùa xuân
vui chút tình lao động
những cọng cỏ trinh tiên
như tình ai  sâu lắng

Huế những ngày nằng nặng
mưa bụi bay qua rồi
San José mùa đông
lạnh như miền sơn cước?

ĐINH CƯỜNG

Virginia,22.1.2011
CÁNH CHIM CHIỀU
SƠN DẦU TRÊN BỐ 16X20 IN .DINHCUONG

Tản văn-Cà Phê Một Thuở


Ngồi uống ly cà phê đầu ngày như thói quen đã hằng chục năm, uống một mình lại nhớ đến một thời tuổi trẻ ở Huế với những tháng ngày cùng bạn bè trong những quán cà phê xưa. Ly cà phê đầu đời có lẽ chưa thấy ngon, điếu thuốc còn đắng nghét, say say nhưng có một thời quán cà phê không chỉ là quán mà như là một nơi đầu tiên để những chàng trai mới lớn muốn thể hiện sự trưởng thành của mình, để tự thách thức vượt qua một điều vốn là cấm kỵ nghiêm khắc của gia đình, xã hội, học trò đứa nào mà cà phê thuốc lá là không ra chi.

Những Hoàng Hôn Ở Huế

ai thắp nén nhang ngoài ngõ vắng
trong bóng chiều thơm một nổi buồn
một ngày thấp thoáng khuất đầu núi
một ngày sương khói thấm hoàng hôn

thắp nén nhang đi dọc bờ sông
như người xưa một lần qua đó
dâng tạ thần linh một mái chùa
em gái Kim Long hái hoa cúng Phật
hoa bên vườn nở ngát trang kinh
đêm Thọ Xương chờ tiếng chuông Thiên Mụ
chén trà sương sớm đón bình minh

thắp nén nhang đi lên thượng nguồn
qua những núi đồi qua thôn xóm
ngó núi sông biêng biếc nổi niềm
không biết người sau khi qua đó
có còn thương nhớ đến tiền nhân

những hoàng hôn ở Huế
thơm mùi nhang khói xưa

NGỮ AN

HẠT U MINH*



                                                Trần Kiêm Trinh Tiên           
 

     Lần thứ hai trong năm, lúc Chùa sửa soạn cho vụ mùa, Sư bà trụ trì lại cho tôi hai tuần nhập thất.  Lúc nghe Sư cô Giáo Thọ báo tin, cổ họng tôi đắng khô.  Bao giờ Nhà Dòng ở bên kia đồi cũng phái thầy Huyên kéo chiếc máy cày sang làm đất giúp Chùa vài hôm.  Như thế là tiêu tan hy vọng được gặp lại thầy mùa này. Tôi ngẩn ngơ đứng nhìn ra chiều đang vàng lắm ở trên đồi mà không thấy Sư cô Giáo Thọ quay đi, dấu tiếng thở dài.



      Ngay từ hôm đầu tiên vào thất, tôi đã bắt gặp cái tâm tôi như “vượn chuyền cành”.  Chỉ một tiếng người lao xao bên ngoài cũng đủ làm cho con ngựa chứng bất kham trong tôi trổi dậy. Tôi nhớ thầy Huyên.  Không biết từ mùa nào, khi Thầy kéo chiếc xe máy cày về lại Nhà Dòng, lòng tôi cũng đi theo về bên ấy. Bao giờ thầy cũng  tận tâm làm việc với trái tim vô ưu. Thầy nào biết trong giờ tọa thiền, tôi lại chờ nghe tiếng chuông leng keng thật vui tai từ bên ấy vọng sang cũng như khi tôi đi thiền hành quanh bốn bức tường của căn phòng mà hồ như mình đang bước  đi trên sóng.  “... Hành giả tìm tâm. Tâm nào? Tâm tham, tâm giận hay tâm si?  Tâm quá khứ, tâm hiện tại hay tâm vị lai?... Tâm ưa thích hình dáng như mắt con thiêu thân, ưa thích âm thanh như trống trận, ưa thích mùi hương như lợn thích rác bẩn, ưa thích vị ngon như người thích ăn  thức ăn thừa, ưa thích xúc giác như con ruồi sa đĩa mật. Tìm tâm hoài mà không thấy tâm đâu...”** 

Thành phố nhang khói trầm hương

                                                                                    những hoàng hôn ở Huế  
                                                                                    thơm mùi nhang khói xưa                                                         
Buổi chiều đứng thật lâu ở đâu đó trong sân vườn cho đến khi chạng vạng, để cảm nhận cái mùi hoa cỏ cuối ngày như thơm ngát hơn và nổi buồn cũng mơ hồ và huyễn hoặc lạ. Trong cái ánh sáng nhòa nhòa pha lẫn bóng đêm, cái giây phút giao thoa giữa ngày và đêm như khói sương, mờ mờ ảo ảo. Giờ này mọi người đều đã về nhà, gia đình sum họp. Nhà nhà đã lên đèn, thấp thoáng bóng người cùng tiếng nói, tiếng cười. Đứng ở một góc vườn nhìn vào nhà thấy ấm áp cõi lòng. Giờ chừ thì chưa cơm nước chi mô, mẹ chưa ra thắp nhang ngoài trời thì phải chờ. Chiều mô cũng rứa thắp nhang bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà tổ tiên xong, mẹ ra ngoài sân với nén nhang vái thiên vái địa cầu mong đất trời gia hộ cho gia đình được bình yên. Cái hình bóng của mẹ già thắp nén nhang trong bóng chiều hôm thấy mà thương chi lạ. Không riêng chi bà mẹ mình mà từ đâu đó trong nhà hay ngoài sân vườn khác có những bà mẹ hay người cha thắp những nén nhang trong buổi chiều hôm mới hiểu tại răng ở Huế những ngỏ xóm hoàng hôn thơm mùi nhang khói trầm hương. Một nén nhang thắp trong chiều chạng vạng cũng giống như chén trà dâng cúng trong buổi sớm mai.  
Người Huế sống với tâm linh với kỷ niệm, không ở mô mà đình, chùa, am, miếu, đền, nhiều như ở Huế. Một ngôi chùa thâm tình và gần gũi như một mái âm gia đình, người Huế không gọi vị sư trụ trì bằng đại đức hay thượng tọa mà gọi bằng chữ ôn thân tình đi kèm với tên ngôi chùa, Ôn Trúc lâm, Ôn Từ Hiếu, Ôn Trà am .... nghe ấm cúng như ôn nội ngoại của mình rứa đó.  
Có thể gọi Huế là thành phố của nhang khói trầm hương. Có ngọn khói hương nhẹ nhàng thanh thản, có ngọn khói hương ngậm ngùi tưởng tiếc, có ngọn khói hương ba ngàn cõi nọ với ngàn sau vẫn còn .  
Không riêng chi người ở thôn làng, phố thị thắp nén nhang trong buổi chiều lên đêm xuống hay trong những khi đời thấy bất an, muốn nói vài lời khấn nguyện hoặc để tưởng niệm những người đã khuất thì nén nhang thẻ trầm là một sự cần có. Thời chiến có người lính đi hành quân ngoài ba lô súng đạn có người còn mang theo vài thẻ nhang đi cùng. Chốn trận mạc ngày nào mà không có kẻ chết, không là người của phe mình thì của phe kia, thắp nén nhang cho ấm linh hồn người nằm xuống. Nhiều khi đụng lớn người chết quá nhiều, nhang không còn đủ cắm lên đầu mộ thôi đành một nén thắp chung, mong hương khói đừng quên nắm mộ nào.
vạt đồi yên nghỉ bao đồng đội
nhang còn một thẻ-biết làm sao thắp lên đành cắm nơi đầu gió hương khói đừng quên nấm mộ nào (Thăm mộ chiều cuối năm- Nguyễn Thái Sơn )

NGỮ AN