Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt Đọc thơ: Vẫn sống cùng ngụ ngôn

 Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026


 Phan Tấn Hải

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn sống cũng ngụ ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.

Nỗi buồn đó ghi trong bài thơ Tiếc thương nơi trang 71, do Trần Đình Sơn Cước viết từ Chicago năm 2021, để tưởng nhớ K. (độc giả không thể đoán là ai, dĩ nhiên, chỉ trừ tác giả và vài người ở Huế) với dòng chữ ghi chú “Xuân Mậu Thân 1968” hẳn là ám chỉ người tên K. chết trong trận này, trích bốn dòng cuối bài thơ:

Đạn bom chôn một mối tình

Vùi trong đất mẹ tuổi bình minh xuân...

Vườn xưa hoa nở mưa dầm

Hải đường nắng ải đỏ bầm cố nhân.

(VSCNN, trang 71)

Vẫn sống cùng ngụ ngôn

 Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026


 

 

Chúng tôi vừa nhận được tập thơ Vẫn sống cùng ngụ ngôn của nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và nhà thơ Trần Đình Sơn Cước.

Sau những tháng năm “Theo nhau gió dạt mây trôi/ Theo nhau cơm áo một đời long đong/ Theo nhau theo hết tấm lòng/ Theo nhau theo hết đục trong kiếp người” họ đã “theo nhau” đứng tên chung trong một tập thơ.

Văn Việt xin chúc mừng hai nhà thơ và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nhà thơ Ý Nhi cùng một số bài thơ được trích từ Vẫn sống cùng ngụ ngôn.                                                                                     

Văn Việt

*****

Theo nhau theo hết tấm lòng / Theo nhau theo hết đục trong kiếp người

 Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026


 (Đọc Vẫn sống cùng ngụ ngôn)

Ý Nhi

Hai câu thơ tôi mượn làm tựa đề cho bài viết này nằm trong bài lục bát Theo nhau của Trần Đình Sơn Cước:

                Đôi ta từ thuở vợ chồng

       Theo nhau khi cạn, khi sông lở, bồi

                Theo nhau gió dạt mưa trôi

       Theo nhau cơm áo một đời long đong

                 Theo nhau theo hết tấm lòng

       Theo nhau theo hết đục trong kiếp người

                Dù mai bóng ngả cuối trời

        Theo nhau huyệt mộ theo hồi tái sinh.

Ở một văn bản khác, bài thơ có tên là Bạn đời.

Và ở những bài thơ khác, ta lại gặp những vần thơ tình yêu đằm thắm, chân thành nhất: Yêu em thời con gái/ Yêu gót hồng bàn chân/ Yêu em tròn tuổi mộng/ Dạt dào ngày sống chung… Khi em sống cùng anh/ Một năm rồi nhiều năm/ Tình yêu là biển mặn/ Thời gian là nếp nhăn… Khi em sống cùng anh/ Một năm rồi nhiều năm/ Thời gian là vết nứt / Trên gót hồng bàn chân… (Thời gian) hay Bốn mươi năm vẫn tưởng ban đầu/ Ngập ngừng như thuở mới mới yêu nhau/ Ngày mưa tháng nắng chung vai gánh/ Ngoảnh lại. Ô hay. Tóc bạc màu… (Ban đầu).

Những câu thơ này phải chăng là lời giải thích chân xác nhất cho việc họ, Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước “theo nhau” đứng tên chung cho tập thơ Vẫn sống cùng ngụ ngôn của họ.

Họ, Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước, có chung tuổi trẻ, có chung bè bạn – những “cổ vật của một thời lãng mạn”, theo cách nói của Trần Đình Sơn Cước, họ có chung Huế: “nhỏ xíu và luôn cay như một chén rượu” theo cách nói của Trần Kiêm Trinh Tiên và “Huế nhỏ nhắn ngậm ngùi, diễm lệ trong tàn phai, đài các giữa phong trần… Huế phập phồng lo âu trong chiến tranhvới những đêm đại bác vọng về thành phố…” theo cách nói của Trần Thuỳ Mai[*].

Họ có chung tình yêu văn chương, hội hoạ, âm nhạc.

Và, họ có chung niềm hoài hương dằng dặc tháng năm: Mưa… mưa San Jose/ Mưa… mưa chi như Huế rứa… Mưa… mưa chi như Huế miền (Mưa như Huế/ Trần Đình Sơn Cước), Có ai hái bông hoa của phương trời này/ Gửi theo trăng xanh về nơi con sông u hoài/ Nơi vườn xưa đọc thơ Tô Đông Pha/ Thấy mình ngoài ngàn dặm/ Cánh hạc vàng bay qua/ Thả rơi tình khúc cũ (Nỗi buồn/ Trần Kiêm Trinh Tiên)

Nhưng, thơ là vẻ đẹp, là giọng nói cá nhân. Sự riêng biệt không phải là cần thiết mà là điều kiện đầu tiên, là bắt buộc.

Bởi vậy, người đọc có hai phần thơ trong một tập thơ: Thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Thơ Trần Đình Sơn Cước.

Tràng hạt u minh

 


Trần Kiêm Đoàn

 

 

Xem tập truyện Hạt U Minh, người đọc hình dung nhân gian đâu đó mang tràng hạt u minh – u u, minh minh; mù mù mịt mịt, sáng lòa sáng tỏa – như một chuỗi duyên duyên nghiệp nghiệp tương tác trùng trùng trong dòng đời nghiệt ngã và cô đơn nhưng cũng lắm nẻo đi về thanh thỏa và giải thoát tùy bước đi và hướng tới mà người thiện tâm, quý chữ thường gọi là… tu.

Tác giả là Trần Kiêm Trinh Tiên, một khuê nữ xứ Huế thuộc thế hệ Chiến tranh Việt Nam. Biểu tượng khuê nữ trong văn chương nhà Huế hơi khác với khái niệm đời thường. Đó là chỉ dấu hình ảnh “dễ thương dễ sợ” trong văn phong đượm chất thơ, trong suy tư không vướng mùi tục lụy và khổ đau hay hạnh phúc đều chỉ là phương tiện của hoàn cảnh cùng số phận trước mắt trong nẻo về miên viễn.

Tập truyện Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên, gồm tám truyện ngắn với các nhan đề đầy chất thơ và gợi cảm, như: Hạt U Minh, Nguyệt Cầm, Chim Vạc Con ở Badghis, Dáng Xưa, Đoản Khúc Melaleuca, Chiều Rơi Trên Cây Ginkgo, Bản Giao Hưởng Câm và Trong Khu Vườn Chim Hót, là một tác phẩm văn học vừa nhẹ nhàng như một khúc thiền ca, vừa âm ỉ đầy ám ảnh theo như cảm nhận của nhà văn Trần Thùy Mai: “Nhẹ nhàng mà day dứt khôn cùng.”