Nén nhang cho một anh hùng

Phạm Đức Nhì
(Luật sư Trần Danh San, người đọc Tuyên Ngôn Nhân Quyền Cho Những Người Việt Nam Khốn Cùng tại Vương Cung Thánh Đường năm 1977, đã ra đi.)
tran_danh_san
Luật sư Trần Danh san (1936-2013)
Giữa Trần Danh San và Vũ Văn Ánh, do vị trí chỗ nằm ở nhà 3 lúc mới đến phân trại E, A20 Xuân Phước, tôi gần và thân Vũ Văn Ánh hơn. Với Vũ Văn Ánh, tôi có thể đặt câu hỏi trực tiếp về những điều mình muốn biết và được anh trả lời đầy đủ, cặn kẽ. Với Trần Danh San, tôi phải rình những lúc anh trò chuyện với mọi người để len lén đến ngồi nghe ké. Nguyễn Hữu Hồng, một sĩ quan trẻ và cũng hay ngồi nghe ké như tôi, có lần phát biểu: “Tay này đúng là trên thông thiên văn, duới thông địa lý, cái con mẹ gì hắn cũng biết. Đáng nể thật.” Nhờ những lần nghe ké như vậy sự hiểu biết của tôi được mở mang rất nhiều.

Nhưng điều làm tôi khoái Trần Danh San là lý do anh bước vào tù. Lúc ấy, ngoài những sĩ quan trình diện cải tạo như tôi, còn rất nhiều người khác bị bắt vì đã lãnh đạo hoặc tham gia các tổ chức chống lại bạo quyền cộng sản. Bấy giờ họ đã vào tù. Nhưng trước đó, khi nhập cuộc với hoài bão đòi lại quê hương, đất nước, giành lại tự do cho dân tộc, ai chẳng ít nhiều hy vọng, ước mơ có ngày công thành danh toại.
Ai đã từng chiến đấu, đã hy sinh
Mà chẳng có vì một chút mình trong đó.

Việc Kinh Kha nhận lời Thái Tử Đan đi ám sát Tần Thủy Hoàng “diệt hôn quân, trừ bạo chúa cứu muôn triệu dân lành” rõ ràng là một hành vi anh hùng, vì đại nghĩa. Chuyến đi qua sông Dịch của ông lành ít dữ nhiều; canh bạc 8, 9 phần thua, chỉ có 1, 2 phần thắng. Nhưng 1, 2 phần ấy vẫn là có hy vọng; hy vọng giết được Tần Thủy Hoàng để thỏa mãn mộng công hầu khanh tuớng.
Trần Danh San thì khác. Sau khi cùng luật sư Triệu Bá Thiệp soạn thảo bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Cho Những Người Việt Nam Khốn Cùng”, cả hai đã hẹn nhau đem loa phóng thanh đến Vương Cung Thánh Đường trịnh trọng tuyên bố trước bàng dân thiên hạ rồi tươi cười bước lên xe công an, đến số 4 Phan Đăng Lưu…ngồi tù. Kinh Kha còn có 1, 2 phần hy vọng chứ Trần Danh San thì chuyện vào tù là chắc như đinh đóng cột; 10 phần thì vào tù hết cả 11. Kinh Kha và Trần Danh San đều đáng gọi là anh hùng; tuy cái giá mà Trần Danh San phải trả để được gọi là anh hùng nhẹ hơn, nhưng cái anh hùng của Trần Danh San lãng mạn hơn, đẹp hơn, nhân bản hơn và dễ thương hơn nhiều.

Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

Phan Nhật Nam
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, ngày lực lượng Nhảy Dù thực hiện cuộc binh biến báo hiệu cơn sóng gió của chiến cuộc và chính cuộc Miền Nam. Cũng là ngày gã thiếu niên 17 tuổi hiểu rõ Nỗi Đau và Sự Chết có thật dâng lên ngập ngập trong thân, trong lòng. Cảm giác, phản ứng nôn nao sinh tâm lý làm nghẹn đường thở, rì rầm âm động nơi trái tim với câu hỏi.. Mẹ bây giờ ở đâu? Mẹ sống, chết ra làm sao? Em đang nơi nào? Làm sao để sống? Ngày 11 tháng 11 năm nay, 2013, Lễ Cựu Chiến Binh ở Mỹ, người lính không vũ khí nặng lòng, mệt nhọc, buông xuôi... Chứng kiến Người Bạn ra đi sau những ngày, giờ chạm dần vào cánh cửa vô hình hiển hiện của Sự Chết. Trần Danh San ra đi thanh thản sau khi đã sống đủ một đời kiệt liệt.

Hai Luật Sư Trần Danh San (trái) và Triệu Bá Thiệp đang chào mừng thân hữu cựu tù Phan Ðăng Lưu trong buổi kỷ niệm ngày ra “Tuyên ngôn Nhân quyền của những người Việt Nam khốn cùng.” (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Tôi với anh không phải là bạn đồng trang lứa. Anh lớn tuổi thuộc lớp niên trưởng nếu ở trong quân ngũ, của sinh hoạt văn hóa, chính trị, xã hội Sài Gòn, Miền Nam  trước 1975. Anh là luật sư Tòa Thượng Thẫm Huế, con rể cụ Vũ Đăng Dung, Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn Sài Gòn, giai cấp xã hội với chuyên môn nghề nghiệp thuộc thành phần lãnh đạo ở miền Nam, cũng là của hệ thống cầm quyền thuộc các chế độ dân chủ pháp trị trên toàn thế giới. Tôi chỉ là sĩ quan cấp úy của một binh chủng thuần thành tác chiến. Nhưng chúng tôi đã nên thân thiết qua một liên hệ bằng hữu chặt chẽ. Bởi cả hai cùng chung trận tuyến quyết liệt không chấp nhận người, chủ nghĩa, chế độ cộng sản. Cho dẫu hơn ai hết, tôi và anh đồng hiểu rõ chỉ là hai cá nhân hạn chế bởi những điều kiện khách quan lẫn chủ quan, vật chất và tinh thần cần thiết cho cuộc chiến đấu không khoan nhượng và không cân sức nầy. Cuộc chiến đã bị thất bại cụ thể với Ngày 30 Tháng 4 năm 1975. Nhưng chúng tôi không hề thất vọng và tiếp tục phần đương cự trong những hoàn cảnh, điều kiện riêng.

Tôi không hề ngoa ngôn, xưng tụng vô cớ. Xin minh chứng sức mạnh tinh thần, bản lãnh kiên cường của một Con Người – Điển hình của Kẻ Sĩ Việt Nam              
Năm 1977, Sài Gòn, miền Nam đang trong gọng kìm gay gắt của chế độ cộng sản theo khuôn mẫu trại lính của Liên Xô thời Stalin. Đúng ra là hình thái trại tập trung khổng lồ nối dài từ miền Bắc theo khuôn mẫu xã hội xã hội chủ nghĩa của tổng bí thư Lê Duẩn. Trại tập trung bao gồm toàn bộ quân dân cán chính VNCH và gia đình, cùng tất cả thị dân miền Nam. Khối đông người được nói rõ ra là bị xếp vào hạng thứ 14 của 15 giai cấp xã hội theo cách đánh giá từ Bộ chính trị đảng cộng sản Hà Nội. Hạng thứ 15 là thành phần tội phạm hình sự gia trọng bị chung thân khổ sai, hoặc chờ thi hành án tử hình của một loại tòa án nhân dân do những cán bộ cộng sản từ bưng biền miền Nam, từ miền Bắc vào ngồi ghế chánh án.

NHÀ NƯỚC : ÔNG LÀ AI ?

GS CAO HUY THUẦN
Ngày xưa, ta gọi là « Quốc gia ». Quốc gia Việt Nam. Gia là nhà, quốc là nước. Bởi vậy, ai cũng hiểu như là hiển nhiên : Quốc gia là Nhà nước. Nhà nước ấy, theo định nghĩa pháp lý mà mọi người trên thế giới thường học, gồm ba yếu tố căn bản : một lãnh thổ, một dân số, một tổ chức chính trị. Việt Nam là một Nhà nước vì Việt Nam có một lãnh thổ hình chữ S, một dân số gồm nhiều thành phần dân tộc, một chính thể đóng đô tại Hà Nội. Thế giới hiểu Nhà nước Việt Nam là vậy. Nhưng người Việt Nam hiểu như vậy thì lầm to ! Đọc Hiến pháp 1980, rồi Hiến pháp 1992, rồi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp hiện nay, « Nhà nước » trong đó không phải là Quốc gia. Không phải là... Nhà nước ! Không gồm ba yếu tố như ta thường học. Nó là cái gì đó không chính xác, và nó không chính xác vì ngôn ngữ đẻ ra nó không phải là ngôn ngữ pháp lý mà là ngôn ngữ chính trị. Ngôn ngữ chính trị khai sinh ra nó nằm trong Hiến pháp 1980, tức là Hiến pháp chấm dứt Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thiêng liêng của thời Tuyên Ngôn Độc Lập, chấm dứt Hiến pháp 1946 mà ngôn ngữ rất pháp lý, chính xác. Nói lại chuyện cũ may ra hiểu được chuyện mới chăng.

Người đi và gánh nặng còn lại

Phạm Toàn

Đã mấy hôm nay, Huệ Chi bàn với tôi đi viếng Đại tướng, mà chưa thu xếp được thời giờ. Tôi đã bàn lùi: xếp hàng có tới hơn cây số dài dằng dặc tới tận quá cửa Bộ Ngoại giao vòng sang cả bên đường Đài tưởng niệm liệt sĩ, mình lấy đâu sức khỏe và thì giờ? Thôi, ông ạ, đành “lễ xa bằng ba lễ gần” vậy!
Để tưởng nhớ Đại tướng, tôi gắp lên treo trên màn hình tấm ảnh Nguyễn Đình Toán chụp Đại tướng bên cạnh Văn Cao năm 1992 nhân ngày sinh nhật người nghệ sĩ lớn này. Hôm đó, Nguyễn Đình Toán đến nhà Văn Cao, chụp được 9 tấm thì Đại tướng chợt đến. Kiểu ảnh thứ 10 tiếp theo trong cuộn phim chụp dở không ngờ lại là lúc bắt chợt được một phút hai người nghệ sĩ tư lự bên nhau, không một giọt rượu, không một làn khói thuốc, không một lời, không gian lặng tờ, rõ ràng là không buồn, cũng không vui, nhưng rành rành là một vẻ tư lự trong một nỗi lo âu… Nỗi lo âu Đời, nỗi lo âu công dân, và nỗi lo âu nghệ sĩ…
 
Tiếc thương như cũng nhẹ đi. Thế rồi, sáu giờ chiều mồng Chín tháng Mười, hôm qua, Huệ Chi và tôi được vào viếng Đại tướng. Buổi sáng tôi bận đi giúp một trường tuyển giáo viên. Gần trưa, Huệ Chi gọi điện, “Đúng 6 giờ chiều anh có mặt ở cửa nhà số 30, có người đón anh và tôi vào viếng Đại tướng”.
Tôi đến từ lúc 5 giờ. Vì tôi hình dung đường sẽ bị chặn, phải đi sớm để vào cho trót lọt. Hóa ra sớm quá.
Tôi ngồi chờ bên cạnh Đài Độc lập. Nhiều tốp người cũng chờ đó, ngồi trên bức tường xây thấp sát nhà Đại tướng. Thói quen tò mò đẩy tôi đến với một bà to lớn mặc áo đen chừng trên dưới năm mươi tuổi. Chiếc huy hiệu Hồ Chủ tịch hiện rõ trên ngực áo. Phải là người có thành tích rồi! Hỏi, hóa ra là người trên Thái Nguyên về viếng, ba đoàn nhỏ đang chờ nhau họp thành đoàn lớn.

Con Hanh và Cá Sấu

Gởi anh Huỳnh Tấn Mẫm


trao-kien-nghi
15 nhân sĩ trí thức đại diện Nhóm khởi xướng Kiến Nghị 72
và Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 2013, trao Kiến nghị cho
Ủy ban sửa đổi Hiến Pháp ngày 04/02/2013. Ảnh sưu tầm trên mạng.


Có “ con cá hanh
Còn bơi trong sông vắng
“ (1)
Hôm nay trời mưa
Hay trời nắng
Hôm nay nước đục
Hay nước trong
Lóng ngóng – long ngong
Con hanh (thật lòng...)
Tìm bạn?

Có con hanh, mắc nạn
Chọc trời
Thủng một lỗ trời xanh
Xì một chút gió lành
Quẩy đuôi
Ao đầm đầy bông sen giả

Có con hanh, một thời
Tử sinh đầm phá
Không muốn thành lươn
Và rắn
Quá khứ: xin khói hương
Và lộng kính

Có con hanh, biển động
Hóa kình ngư
Vượt sông Hồng, sông Mã
Vì Hoàng Sa, Trường Sa
Chặn loài cá mập...

Bão hôm nay cấp mấy
Trăng còn treo trên đọt cau
Thôn Vỹ
Từ đường:
Tường nghiêng, mái sập
con hanh
Vẫn còn bơi trong sông vắng
” (1)
Ngập ngừng...

...Than ôi
Sông hồ chỉ còn toàn hanh
Đổi màu
Và cá sấu...

T.Đ.S.C
(2013)

(1) Dựa theo ý thơ Nguyễn Khoa Điềm

* Bài đã đăng trên diendan.org .

“Cây Vả Đơm Bông...”

    Nhắc đến những người bạn cùng thời của nhà thơ Ngô Kha, người ta thường  nhớ đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, họa sĩ Đinh Cường, nhà văn Bửu Ý...Tuy nhiên, có một người bạn khác ít được nhắc tới nhưng  họ lại có một tình cảm đặc biệt dành cho nhau. Đó là nhà thơ, dịch giả Diễm Châu.

Họ là những nhà thơ. Họ quen nhau từ trước năm 1975.
Vào những năm chiến tranh trở nên khốc liệt, thơ của họ chỉ xuất hiện trên các tạp chí được gọi là tiến bộ như tạp chí Đất Nước, Trình Bày , Đối Diện.  Những bài thơ đó họ ghi “tặng” hoặc “gửi“ cho nhau.Thường mỗi bài văn, bài thơ khi được viết để tặng hoặc gửi riêng cho ai, thì giữa tác giả và người được tặng hoặc có mối đồng cảm, hoặc có kỷ niệm mà chỉ hai người ấy mới chia xẻ được… Bài thơ “Mùa đông chiến tranh ở Huế” được viết và đăng trên tạp chí Đất Nước năm 1969, Ngô Kha đã đề tặng Diễm Châu:

   “…tôi thấy người vô danh đi trên vỉa hè
        Tìm kiếm kẻ thân yêu trên bảng số
        Khi trời đổ mưa

CHÚNG TA CẦN HOÀ HỢP, KHÔNG CẦN HOÀ GIẢI

Bát Thạch Kiều

                                                               ...Đại thắng mùa xuân 
                                                                 (hay) Tháng tư uất hận 
                                                                 Một chính phủ tiêu vong 
                                                                 Một (Lâm Thời) hoàn thành sứ mạng...

                                                                  "Trò Chơi", thơ Trần Đình Sơn Cước

Lúc ấy tôi còn trẻ, nghe tin "Giải phóng miền Nam", nước nhà hoà bình thống nhất, mừng như điên. Gia đình tôi như mọi gia đình, đều có người bên này bên kia, lúc đó thực tình đã nghĩ rằng chuyện lớn nhất sau chiến tranh là "Hoà hợp và hoà giải dân tộc".

 Bây giờ đã gần 40 năm trôi qua, vẫn cứ câu nói ấy "đến hẹn lại lên" như một điệu hát buồn vô nghĩa. Để rồi mọi người đều quên. "Hoà hợp và hoà giải" như nó đã được đặt ra lúc ban đầu đã trở thành không đối tượng. Những người ra đi thì đã ra đi, chết thì đã chết, trở về thì đã trở về... những quyết định ấy có những lý do kinh tế, tình cảm... chứ chẳng mảy may vì cái gọi là "chính sách Hoà hợp và hoà giải" đãi bôi. Đó vẫn chỉ là một khẩu hiệu lá nho mà thôi, của những kẻ không hề tin vào chính điều mình nói.

Thôi, bỏ đi có được không ? Đừng lải nhải nữa, để đặt ra những câu hỏi có thực chất: Đất nước này, dân tộc 85 triệu con người này cần gì ?

Chén đắng


Gởi Nguyễn Thanh Văn

chendang

Trang thư bạn viết
Như viên thuốc sầu
Mất ngủ
Chuyện đã cũ
Có phải chúng ta
ngây thơ
Hay sách vở dối lừa
” (1)
Có phải trái tim
Bốc lửa
Hay cái đầu chúng ta
Chọn lựa?

Chuyện đã xưa
Chẳng còn ai muốn nhớ
Vì không thể chung bàn
Với người chiến thắng
Nên lũ chúng ta
Nhận về
Chén đắng

Đêm nay thức trắng
Trang thư bạn viết
Những ngày xưa tuyệt đẹp
Những ngày xưa
Hối tiếc?

Trang thư bạn viết
Kỷ niệm, tình thân
Dẫu trái tim nguội lạnh
Thể nào
Quay lưng?




  1. Thơ NGUYỆN: “Tình Yêu CủaTôi”, vanchuongviet.org ngày 1.5.2011.
  2. Ảnh cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đang tập bài hát “Nhân Danh Việt Nam” cho sinh viên học sinh Huế trong một đêm không ngủ tại giảng đường C Đại Học Khoa Học Huế năm 1972. Ảnh trích lại từ album ảnh “ Những tháng ngày nhớ mãi” của hai giáo sư Nguyễn Ngọc Minh và Lê Thị Bạch Yến gởi cho bạn bè.

Tháng tư của tôi


  • Gởi anh Nguyễn Phú Yên
  • Tưởng nhớ chị Quyết, nhớ những ngày tan tác sau góp ý xây dựng Hiến Pháp 1980 tại Huế.


littlesg


Tháng tư (30 tháng tư)
Không còn tháng tư thắng
Tháng tư thua
Tháng tư đen
Tháng tư đỏ
Tôi đã bấm nút xóa
Vào bộ nhớ tôi
Sạch sẽ...

Tháng tư, chỉ còn đất trời
Nắng, gió
Và mùa xuân đang tới
San Jose có bảng chỉ đường
Vào khu Sài Gòn Nhỏ
Tôi mỗi ngày
Vội vàng, vội vàng
Hao mòn nỗi nhớ...

Tháng tư, chiều đi qua những triền đồi
Nở đầy hoa daffodils vàng
Thấu cơn đau của người bạn
Vừa phục sinh sau ca đại phẩu...

Tôi nói với tôi
Những điều không có thật
Những Hải Thượng Lãng Ông của “ thế kỷ a còng ”
Lọc được máu
Thay được tim
Đổi được óc
Nhân thêm những người tử tế

Tôi nói với tôi
Giữ làm chi những điều bể nát
Thí dụ: điều 4 Hiến Pháp
Nghịch lòng dân
Ngược chiều lịch sử

Tôi nói với tôi
Một mai nằm lại bên này
Nghe biển xoáy
Vào giấc mơ song tịch
Nhớ bạn bè
Thương thế hệ trẻ
Đâu “ lộ trình”
Đâu “ khoảng trống” khai sinh
Nền tảng mới ? (1)

Tôi nói với tôi
Dù sao
Vẫn đợi
Đời như đá lăn
Đá dập
Tháng tư về
Thông điệp ai gởi lại
“ Đừng tuyệt vọng
Tôi ơi...”
(2)

(4/2013)
http://www.diendan.org/sang-tac/thang-tu-cua-toi

(1) Theo hai ý chính trong bài “ Lộ trình xây dựng một hiến pháp dân chủ” của nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh, xuất hiện trên 2 trang mạng Bauxite Vietnam và Pro&Contra:
http://www.procontra.asia/?p=1826
(2) Nhạc Trịnh Công Sơn