Thương tiếc Phi Nhung

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

z2800807831175_ada8dbf9339bdf3b20cd3579280dd350

 

Tôi không gọi cô là ca sĩ, khi mà danh từ ca sĩ lâu nay đã bị lạm dụng bởi một số không ít người vốn chỉ “hát từ cổ trở lên” đang làm hỏng thị hiếu của lớp trẻ nhưng lại giỏi tự đánh bóng tên tuổi, tự quảng bá và thuê người tung hô mình là Diva! Tôi không gọi cô là nghệ sĩ, khi danh xưng nghệ sĩ đã bị bôi nhọ bởi một số kẻ pha trò hề nhố nhăng chỉ giỏi làm tiền đám đông và đã lợi dụng cái hư danh bong bóng xà phòng mê hoặc, mua chuộc khán thính giả nhằm phục vụ cho cá nhân ích kỷ của mình! Tôi cũng không gọi cô là “nhà từ thiện”, khi hành động từ thiện thật sự và cao quý đang bị làm méo mó bởi không ít kẻ thuộc “người của công chúng”, người của giới showbiz kém tài thiếu lương tâm đương làm đau đầu cả xã hội…

Bạn tôi, nhà báo Lưu Trọng Văn vừa gọi cô là một Teresa của Việt Nam. Tôi thì muốn gọi cô là một người phụ nữ Việt Nam đẹp nhất. Cô có một tuổi thơ vất vả, sớm mồ côi mẹ, đã đổ mồ hôi của một người lao động lương thiện, tần tảo thay mẹ nuôi các em; và tiếng hát của cô đã hình thành trong nỗi đồng cảm với cuộc mưu sinh vất vả của đồng bào mình. Niềm đam mê nghệ thuật ca hát của cô lớn dần, ngày một rung động hơn, thắm thiết hơn trong tình thương với những đứa trẻ bất hạnh không máu mủ ruột thịt mà cô nhận nuôi dưỡng chăm sóc như con đẻ…

Ca sĩ Phi Nhung trút hơi thở cuối cùng trưa 28-9 tại Bệnh viện Chợ Rẫy

 

28/09/2021 12:18 GMT+7

(Source: Tuoi Tre online)



HOÀNG LỘC - TIẾN


TTO - Sau thời gian chống chọi với COVID-19, và được sự nỗ lực điều trị của y bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy nhưng ca sĩ Phi Nhung đã không qua khỏi, cô trút hơi thở cuối cùng vào lúc 11h57 trưa nay, 28-9. Bệnh viện Chợ Rẫy xác nhận với Tuổi Trẻ 


Ca sĩ Phi Nhung trút hơi thở cuối cùng trưa 28-9 tại Bệnh viện Chợ Rẫy - Ảnh 1.

Ca sĩ Phi Nhung - Ảnh: GIA TIẾN

Trước khi mất, ca sĩ Phi Nhung được chẩn đoán bị biến chứng nặng của COVID-19, đông đặc phổi và hoại tử một phần phổi; kèm cơn bão Cytokine, suy đa cơ quan. 

Bệnh nhân được chạy ECMO (tim phổi nhân tạo), lọc máu liên tục. 

“Tất cả các loại thuốc cao cấp nhất đã được bệnh viện sử dụng để điều trị cho ca sĩ Phi Nhung. Tất cả y bác sĩ đã nỗ lực hết mình nhưng đã không thể cứu sống được ca sĩ và rất đáng tiếc trước sự ra đi này” - nguồn tin từ Bệnh viện Chợ Rẫy chia sẻ.

BÁT CANH CỦA MẸ




Hoa tím nở từ cây lá cẩm

Gói xôi nằm trong lá chuối xanh

Lá lốt thơm ngày giỗ kỵ

Bẹ bạc hà nhớ mẹ nấu canh


Tạ ƠN TRÊN tạo ra Trời Đất

Cho ta cây cỏ và muôn loài

Ăn bát rau nhớ sông nhớ gió

Tâm vô thường bình an thế gian...


trần đình sơn cước


(Ảnh: từ trái & trên xuống: 1 & 2: cây & hoa lá cẩm
3: lá lốt 4. cây bạc hà)





Việt Nam một thế kỷ qua, Nguyễn Tường Bách và tôi

 Ngô Thế Vinh

(Source: Van Viet)

Dẫn nhập: Việt Nam Một Thế Kỷ Qua, Nguyễn Tường Bách và Tôi là tên hai tác phẩm hồi ký của bác sĩ Nguyễn Tường Bách và cô giáo Hứa Bảo Liên, người bạn trăm năm của Nguyễn Tường Bách. Đây là hai bộ hồi ký đặc sắc về cuộc tình lãng mạn của một chàng trai Việt và một cô gái người Hoa ở Hà Nội cùng nổi trôi theo vận nước cho tới khi họ gặp lại nhau trên đất Côn Minh Vân Nam và trở thành đôi vợ chồng sắt son thuỷ chung với bao nhiêu tận tuỵ và hy sinh – nhưng quan trọng hơn thế nữa, đây chính là một phần của lịch sử sinh động và đầy biến động trong ngót một thế kỷ qua trong những cơn bão táp của Cách Mạng Việt Nam và cả lục địa Trung Hoa.

image

Hình 1: trái, BS Nguyễn Tường Bách; phải, cô giáo Hứa Bảo Liên trong cuộc phỏng vấn của LS Lâm Lễ Trinh, ngày 24.09.2005.

[nguồn: Little Saigon TV, hình ảnh Đinh Xuân Thái] [6]

TIỂU SỬ

Nguyễn Tường Bách sinh ngày 26 tháng 3 năm 1916, tại Cẩm Giàng một huyện lỵ nhỏ thuộc tỉnh Hải Dương, nhưng gốc từ một gia đình làng Cẩm Phô, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đã ra miền Bắc từ hai đời trước. Gia đình Nguyễn Tường có bảy anh em: Nguyễn Tường Thuỵ, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam – Nhất Linh, Nguyễn Tường Long – Hoàng Đạo, Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân – Thạch Lam, và Nguyễn Tường Bách – Viễn Sơn.

Patricia Donegan


Võ Tấn Phát dịch
(Nguồn: Fb Nguyễn Bá Trạc)

























nước trong rất lạnh
đom đóm biến mất
không còn gì
-Chiyo-ni 1703-1775; Donegan & Ishibashi dịch
Haiku Nhật Bản, dạng thi ca ba dòng đơn giản, là hình thức thi ca phổ biến nhất thế giới hiện nay. Từ khi được Phương Tây biết đến khoảng 100 năm trước, nó được nhìn dưới nhiều nhãn quan. Như một cách truyền tải một hình ảnh mỹ học, như một cách để thưởng thức thiên nhiên, và như một cách để ghi lại khoảnh khắc “a ha!” của Thiền Tông. Có lẽ nó cũng được coi như một phương tiện để thấu hiểu “vô thường” — một phương cách (hay một lối thực tập) để chúng ta có thể hiểu và chấp nhận sự hoại diệt của chính mình và mọi thứ xung quanh ta.
Haiku mang đến cho ta cả sinh lẫn tử của mỗi khoảnh khắc. Mọi thứ đều bị lột ra trần trụi. Không có tốc độ hiện đại, mà chậm rãi và tự nhiên, chúng ta khám phá ra cái gì đơn giản hiện diện ở đây, như thông qua thiền định: cơ thể ta đang già đi, nắng chiều trên khăn trải giường, tiếng còi hụ ở xa. Bất kỳ thứ gì đang hiện diện vào chính khoảnh khắc này, không tô vẽ. Cuốn Tạng Thư Sống Chết nói về những trạng thái trung hữu (bardo) này, những trạng thái chuyển tiếp từ một thực tại này sang thực tại khác, từ sống sang chết rồi tái sinh. Những trạng thái chuyển tiếp này cũng hiện hữu trong mỗi khoảnh khắc trong đời sống của ta trên thế gian này, mỗi khoảnh khắc đều có sinh và tử. Một hậu quả của cơn sốc vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một nhận thức sâu rộng hơn về sự vô thường này ở tầm ý thức của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, và trên thế giới.
Thông thường cần có một khủng hoảng cá nhân như cái chết hay chia ly với một người thân yêu để đánh thức sự thấu hiểu này về tình trạng thực tại của đời người. Chính vì không thể chấp nhận sự vô thường này nên ta an vui ít và khổ đau nhiều. Như Pema Chödron, một vị thầy thiền định của Tây Tạng đã dạy: “… hạnh phúc ở trong khả năng thư giãn trước thực tại, mà cơ bản là phù du, năng động, thay đổi, không hề chắc chắn, không hề thường hằng. Thực tại tự bản chất là vô thường…”
hoa tím, mọc đó đây
trong hoang tàn
của căn nhà đã cháy của tôi
—Shokyu-ni 1713-1781
Tuy nhiên, trong lúc tăng tốc chạy theo văn hoá hậu hiện đại, ta vì sao đó quên mất điểm này. Ảnh hưởng của tốc độ là bỏ qua, chối từ, và phủ nhận quá trình tự nhiên của đời sống. Vì mọi thứ đều cần thời gian để phát triển: một khu vườn, những bước chân của trẻ con, sự tin cậy của một người bạn, hiểu được bản đồ các ngôi sao, hay thậm chí một tách cà phê hay trà ngon. Điều này được minh họa mới đây trong một biếm họa Nhật Bản về cách pha trà Nhật: một trăm năm trước, cần một giờ để pha và uống trà trong một nghi lễ trà truyền thống; năm mươi năm trước, mười lăm tới ba mươi phút để nấu nước trong ấm và pha trà trong tách bằng gốm; hai mươi năm trước, năm phút để nhúng một gói trà vào nước nóng trong một cái ly giấy; mười năm trước, năm giây để mua một lon trà nóng từ máy tự động. Nền văn minh hiện đại đang tiến lên hay lùi lại vậy?
Một nền văn hoá chạy theo tốc độ thì sẽ bỏ qua các luật tự nhiên. Bởi vì trong cơn nghiện vô thức với tốc độ và sống gấp này, ngay cả những hành động đơn giản như uống trà, quá trình sinh ra, lớn lên, già đi, và chết, cũng không được chú ý. Không có điều nào bị thiếu, chỉ có quá trình chuyển hoá là bị mất. Bất kỳ sự chuyển hoá đến từ suy ngẫm là bị bỏ qua. Và khi không còn tự suy xét, nhất là suy xét về sự hoại diệt của ta, thì làm sao ta có thể nhìn thấy ta trong vũ trụ của mình một cách tường minh được. Đấy chính là nơi mà nhận thức haiku điền vào chỗ trống — như một lối thực hành để ý thức hơn về những tình trạng thực tại tức thời này trong đời sống của ta.
nhổ tóc bạc —
bên gối
tiếng dế
—Basho (1644-1694)

vươn lên từ hoang tàn đổ nát: đài quốc gia tưởng niệm và viện bảo tàng 9/11


♦ 0 bình luận ♦ 13.09.2021 

  (Nguồn: Da Màu)

 TD-BaoTang911-01

VƯƠN LÊN TỪ ĐỐNG TRO TÀN:
Trái, hai ngọn tháp của World Trade Center bị không tặc tấn công ngày 11 tháng 9, 2001. 
(Hình vẽ FEMA) Phải, One World Trade Center ngày nay, cao 1,792 feet (546 mét)  kể cả đỉnh nhọn, gồm 104 tầng và năm tầng hầm. Hình chụp từ một góc Hồ Tường Niệm phương Nam, dưới là dòng du khách đứng ngắm quanh hồ Hồ Tường Niệm phương Nam. Toà nhà thấp bên góc tay mặt là một phần của Viện Bảo Tàng 9/11. (Ảnh Trùng Dương, 10/2014)

  

Tôi đến New York vào một ngày đầu tháng 10 năm 2014, với mục đích viếng thăm Đài Tưởng Niệm Quốc Gia và Viện Bảo Tàng  9/11. Công viên 9/11 Memorial thì đã mở cho công chúng từ hồi kỷ niệm 10 năm Biến cố 9/11. Riêng Viện Bảo Tàng 9/11 thì mới mở cửa cho công chúng vào xem hồi tháng 5. Chuyến đi vừa để tưởng nhớ lại biến cố đau thương làm rúng động thế giới và giết hại gần 3,000 người, vừa để chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc tuyệt vời nói lên sức sinh tồn của quốc gia và dân tộc Mỹ mà tôi hãnh diện là một thành phần. 

Đó là một ngày Chủ Nhật trời đã vào thu, nhưng lá chỉ mới lác đác đổi mầu vàng, đỏ đó đây, chưa thể gọi là rực rỡ được. Vợ chồng người bạn, Nhị và Giang, và tôi đáp xe bus từ Toms River, một thành phố gần bờ biển Đại Tây Dương thuộc tiểu bang New Jersey, đến thành phố New York ở phía đông bắc mất khoảng trên một tiếng, rồi lấy xe điện ngầm metro nhắm hướng World Trade Center và 9/11 Memorial. 

Kiều Chinh | 20 Năm Nhìn Lại Biến Cố 9/11




NỤ HỒNG YÊU THƯƠNG

Nhã Duy

11-9-2021

Nụ hồng ngày sinh trong một lần đến New York và ảnh hai là của bảo tàng. Ảnh trên mạng

Những người từng ghé thăm cụm bảo tàng tưởng niệm nạn nhân 9/11 tại New York chắc thế nào cũng thấy hay từng chụp dăm tấm ảnh những phiến đá đen khắc tên các nạn nhân, mà lác đác đó đây cắm những đóa hồng trắng.

Người ta gọi đó là những “nụ hồng ngày sinh”, Birthday Rose.

LỜI MẸ DẶN


 










VÕNG ĐƯA 
TRƯA 
NGHE 
LỤC BÁT…

GIÓ HÁT

LỤC BÁT
NHẠC 
LÀNG TA
ĐỪNG ĐI XA
TÉ NGÃ.

Trần Đình Sơn Cước 

(9/21)


(Ảnh: Vũ Hùng)

HOÀNG XUÂN SƠN: “CŨNG CẦN CÓ NHAU”

Trích từ "Cũng Cần Có Nhau"  - phóng bút của Hoàng Xuân Sơn, Nhân Ảnh xuất bản Tháng Mười 2013 [3].


Quán Văn lúc mới thành lập. Từ trái: Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang, Trần Đại Lộc, Hoàng Xuân Sơn. Ảnh: Đỗ Việt Anh (Đỗ Tăng Bí) 1967

Trong ý nghĩ tình cờ nào đó của một ai đề xướng, Nhóm Sinh Viên Văn Hóa đứng ra thành lập Quán Văn (ông Đỗ Tăng Bí xác nhận qua điện thư ý kiến cho ra đời Quán Văn là của ông).Quán Văn, cái tên trở thành rất thân thuộc về sau là một trong những tụ điểm sinh hoạt văn nghệ tiên phong của thanh niên sinh viên học sinh rất có khí thế, có sức lôi cuốn mãnh liệt và tạo được nhiều tiếng vang trong những năm dài biến động. Có thể nói không ngoa: Chính Quán Văn đã đưa tên tuổi nhiều nghệ sĩ sáng tác, trình diễn đi sâu vào lòng thưởng ngoạn của giới trẻ và người mộ điệu. Từ Thanh Lan/ Từ Công Phụng đến Khánh Ly/Trịnh Công Sơn v.v. và nhiều ca nhạc sĩ, thi sĩ khác nữa. Sinh hoạt văn nghệ từ Quán Văn như một bàn đạp, dần đi sâu vào các khuôn viên đại học, đoàn thể và ngay cả tư nhân về sau. Quán Văn là tiền thân của Thằng Bờm, Hầm Gió, Hội Quán Cây Tre . . .

Tưởng cũng nên nhắc lại, bọn tôi dù có tham gia các bang, nhóm riêng nhưng vẫn luôn luôn là thành viên của CPS1.Cơ quan này đã hỗ trợ đắc lực cho các sinh hoạt mang tính chất văn học nghệ thuật.

Cuối năm 1966, đầu 67, anh em CPS tham gia công tác cứu trợ nạn nhân chiến tranh vùng giới tuyến Gio Linh/ Cam lộ/Đông Hà. Chiến dịch được mang tên Công Trường Thanh Niên Vùng Giới Tuyến gồm nhiều anh chị nhiệt tình hăng hái không nề súng đạn hiểm nguy mang vật liệu, phẩm vật đổ xô ra miền địa đầu dựng lại người dựng lại nhà cho đồng bào cật ruột. Một ngôi nhà mẫu bằng vật liệu thật nhẹ trong tinh thần cứu trợ khẩn cấp được tạm dựng trên khu đất trống trước thềm tam cấp, nơi Khám Lớn cũ hồi xưa đặt cỗ máy chém hành xử tội nhân, thoai thoải bước xuống sân cỏ rộng phía bên dưới. Lúc anh chị em sinh viên học sinh về lại Sàigòn sau gần một tháng trời công tác, ngôi nhà mẫu cứu trợ vẫn còn đó.

Nhận thấy ngôi nhà tuy có vẻ sơ sài nhưng tọa lạc ở một địa điểm khá thơ mộng, anh em bàn thảo và nảy ra ý kiến dựng một quán cà phê văn nghệ làm nơi tụ họp thường xuyên cho giới trẻ, với vật liệu đơn sơ thô thiển, tự chế lấy bàn ghế, quày hàng v.v.Thế là phe ta hăng hái bắt tay vào việc. Mọi người đều đồng ý với tên đặt: Quán Văn. Vốn liếng sơ khởi là do đóng góp tài chánh của các thành viên Nhóm Sinh Viên Văn Hóa dưới hình thức đầu tư cổ phần. Nói nghe có vẻ to tát thế nhưng sự thật đa số anh em là sinh viên nghèo, còn đang theo đuổi việc học, còn ngửa tay nhận trợ cấp gia đình, nên tài khoản đóng góp cũng chỉ đủ chi dùng hàng họ cà phê nước ngọt lúc ban đầu.

BỒ ĐỀ























“TỨ DIỆU ĐẾ”…
Chôn dưới cội bồ đề

Một đời
cào
xới

Vẫn một đời
U
MÊ.

trần đình sơn cước
(9/21)

THE VERY HUNGRY CATERPILLAR: Animated film by ERIC CARLE


 

ERIC CARLE ( 1929 - 2021 )




Eric Carle (June 25, 1929 – May 23, 2021) was an American author, designer and illustrator of children's books.[2] His picture book The Very Hungry Caterpillar, first published in 1969, has been translated into more than 66 languages and sold more than 50 million copies. His career as an illustrator and children's book author took off after he collaborated on Brown Bear, Brown Bear, What Do You See?. He illustrated more than 70 books, most of which he also wrote, and more than 145 million copies of his books have been sold around the world.[3]

Trí thức, nhìn từ Nguyên Ngọc

 


Nguyễn Thành Phong

( Fb Nguyễn Thành Phong. Dẫn theo Văn Việt)

Rất nhiều người, trong ngày hôm nay, đã chia sẻ trên trang của mình tình cảm, lòng ngưỡng mộ và thái độ kính trọng đối với nhà văn Nguyên Ngọc nhân dịp ông tròn 90 tuổi. 

Không nhiều văn nhân, nhà khoa học, nghệ sỹ ở nước ta đã và sẽ nhận được tình cảm mọi người dành cho mình với sắc thái như trường hợp Nguyên Ngọc.

Hỏi đâu là một hình mẫu điển hình đáng kính trọng nhất của trí thức, thì đó chính là nhà văn Nguyên Ngọc.

Người trí thức mẫu mực chính là người dùng được tài năng và nhận thức của mình đóng góp vào thành công của đại nghiệp dân tộc. Và trong trường hợp thất bại, thì bằng câu chuyện về số phận của đời mình, mang đến cho hậu thế những bài học, ngõ hầu giúp họ "sáng mắt ra" để có thể tiến bộ trong cải biến đại nghiệp sau này.

Nguyên Ngọc có cả thành công và thất bại. Thành công và thất bại của ông cũng chính là thành công và thất bại của đại nghiệp dân tộc.

Les Feuilles Mortes_Yves Montand à l´Olympia




Les feuilles mortes

JACQUES PRÉVERT


Oh! je voudrais tant que tu te souviennes
Des jours heureux où nous étions amis
En ce temps-là la vie était plus belle,
Et le soleil plus brûlant qu'aujourd'hui
 
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Tu vois, je n'ai pas oublié...
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,
Les souvenirs et les regrets aussi
 
Et le vent du nord les emporte
Dans la nuit froide de l'oubli.
Tu vois, je n'ai pas oublié
La chanson que tu me chantais.
 
C'est une chanson qui nous ressemble
Toi, tu m'aimais et je t'aimais
Et nous vivions tous deux ensemble
Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais
 
Mais la vie sépare ceux qui s'aiment
Tout doucement, sans faire de bruit
Et la mer efface sur le sable
Les pas des amants désunis
Jacques Prévert





English Translation:

The dead leaves

Oh! I wish so much you would remember
Those happy days when we were friends
Back then life was more pleasant
And the sun was more blazing than today
 
The dead leaves are picked up by the shovelful
You see, I have not forgotten...
The dead leaves are picked up by the shovelful
So are memories and regrets
 
And the north wind carries them away
Into the cold night of oblivion
You see, I have not forgotten
The song you used to sing to me
 
It is the song that looks like us
You did love me and I loved you
And two of us, lived together
You did love me and I loved you
 
But life separates those who love each other
Very gently, quietly
And the sea erases from the sand
The steps of separated lovers