SÀI GÒN, SÀI GÒN (2)

 TRẦN TRUNG SỸ




Nói về Sài Gòn, nhiều người cho rằng không một khu trung tâm thành phố nào ở Đông Nam Á đẹp như Trung Tâm của Sài Gòn, khu vực ngay trước Nhà Hát Thành Phố. Tôi đã đi đến thủ đô của nhiều nước trong vùng, đúng là các khu trung tâm của họ bề thế, rộng mở, có nơi nhộn nhịp nhưng khá đơn điệu, không để lại ấn tượng, khác với Sài Gòn.

Bạn đi trên đường Tự Do xưa, nay là Đồng Khởi, từ Nhà thờ Đức Bà xuống dần về Gia Long nay là Lý Tự Trọng, dưới hàng cây xanh mát rượi, sắp qua Lê Thánh Tôn là đã thấy thấp thấp ở đằng ấy bóng dáng của khu Trung tâm. Một vùng sáng rộng mở bình thản nằm giữa quần thể kiến trúc phương Tây tao nhã với đường nét đẹp xưa và nay khá đa dạng nhưng hài hòa, bổ sung cho nhau, tô điểm bởi những mảng cây xanh thấp thoáng. Luôn có đông người và xe cộ qua lại nhưng không ồn ào, không vội vã, chỉ thấy nhẹ nhàng và thanh lịch. Trông sang trọng nhưng lại ấm cúng và thân thiện.

Một người bạn tôi người nước ngoài khi đi bộ trên đường Đồng Khởi, ngang đến đây đã nói ồ một tiếng, đầy bất ngờ, khi nhìn Trung tâm Thành Phố với nét quyến rũ từ nơi này. Một chút lãng mạn như thế này chỉ có ở Sài Gòn.

Người Pháp ngày xưa xây dựng Sài Gòn với mong muốn thành một nơi được xem như là Paris ở phương Đông nhiệt đới. Theo tài liệu để lại các kiến trúc sư ngày đó đã bỏ nhiều công sức và đã tự hào về những công trình xây dựng ở Sài Gòn, dù không thể so sánh với Paris về bề thế nhưng mỹ thuật thì chưa hẳn. Cho nên Sài Gòn mới có một Nhà thờ Đức Bà gạch nung đỏ độc đáo nổi bật giữa nền trời và thảm cỏ hoa, những mặt đường mênh mông ôm sát chân tường và những hàng cây cao vút, một Dinh Norodom sau này là Dinh Độc Lập dáng dấp bề thế và uy nghi khi nhìn xuyên qua những táng cây rừng có cây trên cả trăm tuổi quanh năm rợp bóng, mới có tòa nhà Đô Chính nay là Trụ sở UBND TP và một tòa Bưu Điện Sài Gòn chuẩn mực về cả nét kiến trúc kinh điển phương Tây và cả về vị trí tọa lạc, một trụ sở Ngân hàng Nhà nước trước đây là Ngân Hàng Quốc gia nhìn ra bến Chương Dương cạnh Cầu Mống, bằng đá xám, đẹp và trang trọng cả ngoài lẫn bên trong không thua kém bất kỳ một trụ ngân hàng quốc gia nào ở  Châu Âu, một nhà Bảo Tàng Thành Phố mà trước đây gọi là dinh Gia Long thanh thoát, và … một Trung tâm Sài Gòn đẹp như ta có hôm nay.

Nói về khu Trung Tâm Sài Gòn như thế tôi biết có rất nhiều người không đồng tình, nhất là những người sống ở Sài Gòn trước 1975, những người từng một thời ngồi ở Givral hay Continental bên tách café nhìn qua Caravelle và Nhà Hát Thành phố trao đổi và trầm ngâm về thời cuộc, cái chỗ mà cách đây hơn 70 năm nhà văn Graham Greene tác giả The Quiet American đã từng ngồi.

Đúng là khi người ta cải tạo khu café terrace rộng mở ngồi từ cao thấp dần nhìn ra toàn cảnh khu vực Trung Tâm mang phong cách nhiệt đới độc đáo của Continental để thành một nhà hàng sang trọng bít bùng như hiện nay Trung tâm Sài Gòn như hụt hẫng và khi đập bỏ luôn cả passage Eden, nghĩa là đã khai tử Givral, nhà sách Xuân Thu và La Pagode thì Trung Tâm Sài Gòn như thiếu mất phần hồn, hết vẻ quyến rũ như xưa. Tiếc thật. Thế nhưng, xin hãy nghĩ lại coi, mấy chục năm chịu chi phối bởi bao tác nhân xa lạ với Sài Gòn, không ít người lúc nào cũng muốn và có quyền thay đổi Sài Gòn theo cách nhìn giản đơn và tư duy chạy theo những con số của họ, thì việc còn được một điểm dừng đáng yêu để cùng cảm nhận được hơi thở quen thuộc của Sài Gòn xưa như khu trung tâm hiện nay cũng là đáng mừng. Đặc biệt với những người có những kỷ niệm một thời với thành phố này.

Từ khu vực Trung Tâm Sài Gòn để nhìn rộng ra toàn thành phố, còn nhiều điều  tiếc nuối cho Sài Gòn không thể nói ra hết. Nhưng với rất nhiều người từng gắn bó với nơi này, Sài Gòn, dù diện mạo và  vóc dáng đã thay đổi nhiều, vẫn còn đó, như xưa, vẫn có cái bản sắc riêng của nó khác với các thành phố  lớn khác trên cả nước.

                        Tòa Đô Chánh Sài Gòn (trước 1975): Ảnh Internet

Nhẹ nhàng mà day dứt khôn cùng

 (Đọc tập truyện ngắn Hạt u minh của Trần Kiêm Trinh Tiên)

Trần Thùy Mai

Với những ai học Quốc học - Đồng Khánh vào những năm 70, Trần Kiêm Trinh Tiên là cái tên rất quen thuộc. Dù có quen thân hay không, thì hình ảnh Tiên vẫn gây ấn tượng với nhiều người: một thiếu nữ khuê các, dễ thương và nhu mì, một trong vài mỹ nhân của trường Đồng Khánh, cho đến tận bây giờ vẫn còn in bóng sâu đậm trong ký ức ngưỡng vọng của nhiều chàng trai Huế ngày ấy.

Trinh Tiên có duyên với văn chương từ thời còn đi học. Năm 1974, truyện Sao núi của Tiên – được ký tên với bút danh Trần Thị Thái Khương – được chấm giải nhất của báo Điện Tín trong cuộc thi “Viết cho Việt Nam Hoà Hợp”. Và bây giờ, tập truyện ngắn Hạt u minh của Tiên ra đời, gồm những tác phẩm Tiên đã viết trong một thời gian dài, sau khi đã rời Huế và thiên di qua những vùng miền rất xa.

Tập truyện này chỉ gồm tám truyện ngắn, nhưng ôm chứa trong lòng một thế giới rộng dài: những câu chuyện trong đó đã diễn ra trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ, trong không gian trải rộng qua nhiều châu lục. Đó là những cuộc đời Việt tại Úc, Nhật, Pháp, Mỹ… Những câu chuyện khiến ta xúc động bùi ngùi, vì trong đó có rất nhiều hợp tan, mừng tủi và thương nhớ.

HẠT U MINH: tuyển tập truyện ngắn của TRẦN KIÊM TRINH TIÊN

Nhà xuất bản NHÂN ẢNH đã phát hành:

H𝐀̣𝐓 𝐔 𝐌𝐈𝐍𝐇

Thể loại: tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Trần Kiêm Trinh Tiên
Bìa: Đinh Trường Giang
Dàn trang: Công Nguyễn
Phụ bản: Đinh Trường Giang, Tố Tâm Bùi, Đinh Cường, Hoàng Ngọc Biên
Sách in với bìa mềm (màu bên trong) và bìa cứng (màu bên trong)
Sách có trên Amazon

hay liên lạc tác giả: trinhtien.trankiem@gmail.com


"HẠT U MINH": U Minh tiền kiếp trổ mầm bao dung

 Uyên Nguyên

(4/5/2025)


Không phải ngẫu nhiên mà tập truyện ngắn này mang tên “Hạt U Minh” – một cụm từ mờ sâu như lớp bụi thời gian, vừa bừng sáng như một hạt giống đang âm thầm đâm chồi giữa lòng đất lạnh. Nơi cái tựa ấy, người đọc có thể linh cảm được một thế giới ngôn ngữ mà ở đó, những phận người nhỏ bé nhất, những mảnh đời tưởng như đã bị bóng tối chôn vùi, lại hiện ra bằng ánh sáng của hồi tưởng, cảm thông và tha thứ.

Tác giả Trần Kiêm Trinh Tiên không kể chuyện như một người dẫn. Chị bước vào văn chương bằng tâm thế của một người lắng nghe thời gian, lắng nghe những tiếng thở dài bị chôn kín sau từng nếp gấp ký ức. Mỗi truyện ngắn trong tuyển tập này là một cánh cửa, mở ra không gian vừa hẹp lại vừa vô cùng – như một góc bếp nhỏ nơi một người mẹ mất trí lặng lẽ xé trái thị rụng giữa chiều hoang; như một khúc quanh nơi cánh chim gãy cố sải bay trở về với biển mù; như một ngôi chùa nhỏ ở Kim Long, nơi người nữ tu nghe vọng về tiếng chuông nhà Dòng và giấu đi một cơn mộng không tên trong câu kinh chưa thuộc.

Ở đây, ký ức không là một dòng nước trong, mà là dòng sông trầm tích, nơi những uẩn khúc, những yêu thương không trọn, và những cuộc đời lỡ dở được gạn lọc qua một văn phong nhẹ như bụi, tinh như sương. Dưới mắt Trinh Tiên, ngay cả những đớn đau tột cùng cũng không cần gào thét, bởi chỉ một hình ảnh thôi – như đôi tay gầy gò của người đàn bà đưa nắm xôi lạnh cho đứa con thất lạc – cũng đủ nhói lên một vết chạm không lời.

Có gì đó rất lạ trong giọng văn của Trinh Tiên – không cầu kỳ, không sắc cạnh, nhưng cứ thế len lỏi vào lòng độc giả, như một mùi nhang khói cũ, như tiếng chuông ngân từ xa mà ta không rõ bắt đầu từ đâu và khi nào đã chạm đến tim mình. Những phận người trong tập truyện không ồn ào, không làm dáng, không đòi hỏi thương xót. Họ chỉ hiện ra – tự nhiên như cỏ lau mọc ven đường, như câu ca dao của một đứa trẻ đã quên lời mà vẫn còn nhớ điệu.