Quốc hội khóa 13 và Quốc hội khóa 14 và Hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Nguyễn Thị Từ Huy
Tranh minh hoa. Dan Quyen website

Tại sao Quốc hội Việt Nam khóa 13 lại vượt quá quyền hạn của mình, vội vàng bầu bốn chức vụ chủ chốt của bộ máy quyền lực? Câu hỏi này đã lan truyền trong nhân dân từ khi thông tin về về việc này được đưa ra, và cũng đã có nhiều diễn giải.
Việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14 và bầu các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của nhà nước cho nhiệm kỳ của Quốc hội khóa 14 là một bằng chứng hùng hồn cho việc Hiến pháp Việt Nam chỉ là một mớ giấy lộn. Những người soạn thảo Hiến pháp và thông qua Hiến pháp (tức là Quốc hội) lại là những người coi nó không ra gì, sẵn sàng vi phạm nó, chà đạp nó bằng các quyết định và các việc làm tùy tiện của mình. Trong khi đòi người dân tôn trọng luật pháp, thì cơ quan lập pháp tự mình ngồi xổm lên pháp luật. Điều này chứng minh một nhận định của Hannah Arendt từ những năm 50 của thế kỷ trước: trong một thế chế toàn trị «tất cả đều có thể xảy ra».

Nhân 15 năm ngày Trịnh Công Sơn ra đi: NHẠC PHẢN CHIẾN CỦA TRỊNH CÔNG SƠN


Nguyễn Phú Yên

Nhớ Người Năm Cũ, pencil sketch on bristol paper by Nguyễn Trọng Khôi 
(photo from Nguyễn Trọng Khôi facebook)


  • Trịnh Công Sơn (TCS) là một trong số những người viết nhạc tình nhiều nhất. NS Thanh Tùng còn cho rằng TCS là người viết tình ca hay nhất thế kỷ XX. Dù tán đồng hay không, chúng ta cũng thừa nhận TCS viết nhiều bản nhạc tình rất hay. Tuy vậy để được nổi tiếng, TCS không chỉ có tình ca. Và chỉ có tình ca thôi thì ông cũng chưa trở thành một hiện tượng trong nền tân nhạc VN. Phải đợi đến giữa thập niên 1960, TCS được chú ý hơn với những bài nhạc phản chiến của mình. Nói đến phản chiến thì phải thừa nhận cả dân tộc VN vào thời điểm ấy đều phản chiến cả, đơn giản vì đất nước và dân tộc đã phải trải qua bao nhiêu điêu linh, thống khổ với nhiều cuộc chiến tranh rồi. Ta có thể tìm thấy những bài ca phản chiến của nhiều nhạc sĩ trong dòng nhạc lính, trong phong trào du ca, phong trào thanh niên sinh viên… Nhưng phải đợi đến TCS thì phản chiến mới trở thành một dòng nhạc riêng.


Sau những bài ca trữ tình nhẹ nhàng về tình yêu, về quê hương, TCS đã viết những giai điệu mang tính thời sự hơn, thể hiện tâm trạng khắc khoải của người thanh niên trước vận nước, tác động rõ rệt vào đời sống xã hội. Những giai điệu đó khởi phát từ thành phố quê hương ông rồi lan ra cả nước. Bửu Chỉ đã nói về nhạc phản chiến của TCS như sau: “Phản chiến ở đây là bày tỏ thái độ của mình không tán thành chiến tranh, và sự không tán thành này có ý nghĩa là một sự đồng cảm, chia sẻ với những con người đang phải gánh chịu những nỗi mất mát, đau thương trong chiến tranh. Đồng cảm mà không đứng ở ngoài, đứng ở một bên; mà đứng ở cái thế chung cùng một phận, một định mệnh”(1).

Để hiểu quá trình hình thành ca khúc phản chiến của TCS, ta thử ngược dòng với các tác phẩm đầu tay của ông. Thật vậy, TCS khởi đầu sự nghiệp bằng những ca khúc trữ tình. Năm 1959, ông viết "Ướt mi" và trong suốt thời gian học tại Trường Sư phạm Qui Nhơn (1962-1964), một loạt ca khúc của ông như "Thương một người, Nhìn những mùa thu đi, Hạ trắng, Biển nhớ"… lần lượt ra đời và được phổ biến rộng rãi. Sau đó mới đến dòng nhạc phản chiến của ông. Tất cả tác phẩm đó không thể tách rời nhau, chúng gắn bó mật thiết như thể đó là tâm huyết từ một bản ngã duy nhất của người nghệ sĩ.

Để tiễn đưa 300 cây cổ thụ đường Tôn Đức Thắng:ÔM CÂY - ÔM NGƯỜI TA YÊU THƯƠNG - ÔM CHÍNH MÌNH



Dự án nghệ thuật sắp đặt


Ly Hoàng Ly





Cay co thu tren duong Ton Duc Thang. Anh Google
Nghĩ đến 300 cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng sắp bị chặt, buồn vô cùng.
Đường Tôn Đức Thắng và tôi có kỷ niệm không thể quên.
Tôi đang trong tình trạng đi đứng ngồi khó khăn, phải nằm dưỡng nhiều tháng cho đến khi lành hẳn.
Ước gì tôi khỏe để có thể thực hiện performance - installation ÔM CÂY - ÔM NGƯỜI TA YÊU THƯƠNG - ÔM CHÍNH MÌNH, để tiễn biệt 300 cây cổ thụ. Dự án này tôi đã khởi xướng và thực hiện từ năm ngoái, 3 ngày liên tiếp từ 20 đến 23 tháng 3 năm 2015, khi dự án chặt 6.700 cây xanh ở Hà Nội được công bố.
Sức khỏe hiện nay của tôi không đủ để tôi ôm 300 cây. Nhưng tôi sẽ đủ sức để ôm 1-2 cây thật lâu, thật sâu, trước khi cây bị đốn.
Các cô chú, anh chị và các bạn ơi, có ai cùng tôi tham gia dự án này không ạ.
300 người mỗi người ôm một cây, cùng một lúc, truyền cho cây tình yêu thương và lòng biết ơn của mình. Nếu chỉ có 150 người đồng ý tham gia thôi thì mỗi người sẽ ôm 2 cây. Nếu chỉ có 50 người thì mỗi người ôm 6 cây.

Những con chữ lang thang không ngày tháng

Lữ Quỳnh
Gửi Trịnh Xuân Tịnh,
lu_quynh-dinh_cuong_trinh_cong_son-buu_chi-1988
Từ trái: Lữ Quỳnh, Đinh Cường, Trịnh Công Sơn và Bửu Chỉ (1988)
Tôi xin làm đá cuội…, 
…làm hạt mưa tan giữa trời.
(Trịnh Công Sơn)
Từ nhiều năm nay trước khi lên giường ngủ, tôi phải uống ba loại thuốc an thần một lúc. Ngày Đinh Cường còn, chúng tôi thường trao đổi nhau về tên vài loại thuốc trị chứng mất ngủ này. Anh có uống thử, nhưng rồi vẫn trở về với Ambien 5mg,  dù thuốc chỉ giúp anh chợp mắt vài ba tiếng, không ngủ lại được.  Anh đã dùng khoảnh khắc này để làm thơ, những bài thơ như tin nhắn mỗi ngày đến bạn bè khắp nơi. Tôi thì có những giấc ngủ ngắn, sâu nhưng đầy mộng mị, thường bàng hoàng khi chợt tỉnh. Như những đêm gần đây, tỉnh ra, thường nghĩ ngay về một người bạn, để rồi hốt hoảng biết bạn mình không còn nữa. Hình ảnh đó, con người đó đã tan theo mây khói rồi. Lòng thắt lại thảng thốt, có thể nào? Có thể và Không thể. Cứ như đám mây vần vũ mãi trong đầu. Vẫn biết vô thường là thường, mà sao vẫn không thể là rừng xưa đã khép.

Ám ảnh Tôi

Trần Đình Sơn Cước
sander_rally
Sanders Rally. Google Image
Tiếng dội của hôm qua
Đập vào tôi hiện tại
Chính trị gia vỡ phổi
Nhét bùa mê đám đông
Vùng lên
Vùng lên
Hỡi 99 phần trăm cùng khổ (1)

Lạnh toát thân tôi
Trán mồ hôi đẫm ướt
Tiếng hô
Vọng từ thế kỷ trước
Vọng từ quê mẹ trầm luân
Tiếng hô
Vọng từ đống đống xương khô
Vọng từ triệu triệu nấm mồ
Cách mạng
Cách mạng (2)
Cho tôi biến thành tượng khỉ
Ngậm miệng
Bịt mắt
Che tai
Đừng thấm vào tôi
Đừng ngấm vào đất,
vào nước,
vào tổ tiên,
vào con cháu
Màu đỏ
Đất hãi hùng cải cách
Người rợn người đấu tố
Xin mặt trời ngủ yên” (3)
Bình minh không mang màu máu
Tắt giùm tôi
Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu” (4)
Xin trăng sao
Sáng ánh đêm rằm
Tiếng dội nào sâu thẳm
Đập vào tôi hôm nay
Chính trị gia lay động
Ám ảnh tôi mỗi ngày…
Trần Đình Sơn Cước
Sunnyvale 3/2016
(1), (2) Phỏng diễn ý thượng nghị sĩ Bernie Sanders, ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2016 của Đảng Dân Chủ.
(3) Nhạc Trịnh Công Sơn
(4) Bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
Source: Sangtao.org

Rừng Tây Nguyên và hạn hán kỷ lục Tây Nam Bộ


Nguyên Ngọc
  
Tình trạng hạn hán, thiếu nước ở sông Mê Kông năm nay hẳn là do nhiều nguyên nhân: có chuyện biến đổi khí hậu toàn cầu, và chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn từ việc Trung Quốc xây đập thủy điện trên sông Mê Kông, con sông nằm một nửa trên đất Trung Quốc, và đấy lại là phần đầu nguồn.
Từ nhiều chục năm nay, nhà văn người Mỹ gốc Việt Ngô Thế Vinh đã liên tục lên tiếng về nguy cơ này. Tâm huyết và quan tâm sâu sắc đến tác động của các đập trên đầu nguồn con sông này đối với các khu vực hạ lưu, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ, vựa lúa nổi tiếng của nước ta, ông đã tìm mọi cách để đi đến khảo sát cụ thể tận nơi dù bị phía Trung Quốc ngăn cấm gay gắt.
Kết quả chuyến đi dũng cảm và công phu này của ông là một cuốn sách rất quan trọng, có tên “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng”, báo động hai nguy cơ lớn nay đã hành hiện thực: sông Mê Kông thiếu nước gây ra hạn hán và tai họa xâm mặn tàn phá đồng bằng Tây Nam Bộ, và việc Trung Quốc quấy phá ở biển Đông.
clip_image002
Tây Nguyên hạn, trẻ em phải vào rừng tìm những khe nước nhỏ.  (ảnh Nguoiduatin)

HOÀNG NGỌC BIÊN: XUÂN HƯƠNG và cái chênh vênh của cuộc đời






Đôi lời:  Sau bài nghiên cứu " Hoàng Ngọc Biên với con đường tiểu thuyết mới và thời gian tìm thấy lại" của nhà văn Ngô Thế Vinh gây được sự chú ý lớn của bạn đọc trong và ngòai nước, đặc biệt các bạn đọc trẻ lần đầu bắt gặp một tác giả tài hoa trong nhiều lĩnh vực văn học, hội họa, âm nhạc, trình bày, dịch thuật...
Nhận thấy còn có nhiều đề tài thú vị và bổ ích về tác giả nầy, chúng tôi tò mò trò chuyện thêm với ông để hầu cống hiến thêm cho bạn đọc một đôi điều ...
Hôm nay, nhân ông đưa một vài hình ảnh về người cháu nội của ông rất ham mê đọc sách như ông hồi thơ ấu, chúng tôi xin trích giới thiệu một vài kỷ niệm ấu thời của ông do ông trả lời thư của chúng tôi ngày 16 tháng 3 năm 2016.

Image result for hoàng ngọc biên
  1. Ben đang đọc sách       2. Ông nội, nhà văn Hoàng Ngọc Biên với ly cà phê


  1. Ngày nay tôi là người cái nhớ cái quên rất vô trật tự: có cái chỉ nhớ thời gian, không nhớ đúng câu chuyện, cái nhớ rõ câu chuyện thì không xác định được thời gian... Nói lan man, quên trước quên sau, lúc nào cũng cần có một cái gì làm chỗ dựa. Đọc và mê đọc sách từ khi nào? Làm sao một ông già ký ức lôi thôi như tôi trả lời đây... Có kỷ niệm thơ ấu nào...” May quá, chính câu hỏi này của anh đã làm chỗ dựa ấy, đã gỡ rối cho tôi. Tôi chỉ nhớ những ngày tản cư từ làng này qua làng khác, thời cha còn ba lô trên vai cong lưng đạp xe trên những con đường rừng ở Việt Bắckhi nào rời bàn đèn thuốc phiện của ông nội tôi,vì ông đang hoặc sắp lim dim ngủ, thì tôi đến bên bà nội, nhất là những ngày mẹ tôi phải lặn lội cuốc bộ mấy chục cây số đi, rồi mấy chục cây số về, giữa làng Vĩnh Phước và tỉnh Quảng Trị để mua chút hàng lẻ tẻ đem về bán bên một làng Đạo cách nhà mấy cây số mà mấy năm trước mẹ có nhắc, nay tôi đã quên mất tên. Bà nội tôi là một người kỳ lạ: bà là người không hề được đi học, không biết đọc biết viết, nhưng hồi còn bé khi tôi gặp bà, thì bà đã thuộc Kiều từ bao giờ không biết. Trong số những truyện bà nhiều lần đem kể cho thằng cháu đích tôn, ngoài truyện Kiều với tôi thời đó là dài vô tận, tình huống nào tình tiết nàovới tôi cũng có thể nẩy sinh nhiều intrigues khác nhau, còn có vô số những truyện khác ngắn hơn... Thí dụ
                      Xuân Hương tuổi mới nên ba
                      Tay cầm gậy trúc dắt cha ăn mày...

  1. Truyện này tôi không nhớ tên, nói đúng là không biết tên. Chỉ nhớ là truyện Xuân Hương tuổi mới nên ba thế thôi. Sau này có nhiều dịp hỏi các người chuyên môn trong vòng quen biết, có nhiều giải đáp ít nhiều mơ hồgần tám mươi tuổi tôi vẫn chưa gặp một xác quyết nào... Gần đây tôi có đem hỏi thăm anh Đặng Tiến, câu trả lời của nhà nghiên cứu văn học rất có thẩm quyền là:Phạm Công Cúc Hoa (và sau mộlát) hay là Lâm Sanh Xuân Nương... Không nhớ truyện ở đâu, nhưng Xuân Hương lại là truyện đầu tiên dẫn tôi đi vào văn chương, và cái hình ảnh nổi trôi bấp bênh củcô gái tuổi mới nên ba ấy trở thành cái nổi trôi bấp bênh của cuộđời. Hình ảnh nổi trôi ấy, sau này chập chững bước vào sách đọc, tôi thấy hiện diện cùng khắp, trong mọi thứ văn chương xa gần – như những biến khúc của thế giới sách đọc mà tôi bị lôi cuốn đi tìm, say mê dò tìm... Câu hỏi chưa có ai trả lời, tôi chấp nhận không tra hỏi thêm, vui vẻ mang theo mình - coi như cái chênh vênh của sự thật kia cũng chỉ là cái chênh vênh của cuộc đời...
             Hoàng Ngọc Biên 



Nhà Sử học Tạ Chí Đại Trường qua đời tại Sài Gòn. Vĩnh biệt Sử gia Tạ Chí Đại Trường

WESTMINSTER (NV) - Nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông Tạ Chí Đại Trường, vừa qua đời tại Sài Gòn, thọ 81 tuổi. Người chị dâu của ông Tạ Chí Đại Trường, là bà Nguyễn Thị Minh Hiền, xác nhận với Người Việt tin này.

Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường. (Hình: Trần Triết/Người Việt)

Theo bà Minh Hiền, ông Tạ Chí Đại Trường mất vào khoảng từ 4 giờ đến 4:30 sáng ngày 24 tháng Ba (giờ Việt Nam), tại tư gia ở Quận 5 của người anh ruột, là ông Tạ Chí Đông Hải.

Hoài Khanh, Gió Bấc Trẻ Nhỏ Đóa Hồng Và Dế – Khúc hát nao lòng


Nguyễn Lệ Uyên
hoai_khanh_2.jpg
Nhà thơ Hoài Khanh (1933-2016)
LTS: Nhà thơ Hoài Khanh vừa qua đời ngày 23.3.2016 tại nhà riêng ở Biên Hòa, Đồng Nai Việt Nam, hưởng thọ 83 tuổi. Chúng tôi đăng lại bài của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên viết về ông như một nén nhang tưởng nhớ.
Khoảng giữa thập niên 1960, tôi đứng xa nhìn ngắm Hoài Khanh qua những bài thơ đăng rải rác trên các tạp chí Văn Nghệ Sài Gòn, một vài truyện ngắn, một số dịch phẩm và đặc biệt là các bài viết về thi ca Châu Phi da đen. Đứng rất xa đọc và không có một ý niệm nào rõ rệt, ngay cả khi đến tòa soạn gửi bài cho tập san Giữ Thơm Quê Mẹ thấy ông đang ngồi tiếp chuyện thầy Thanh Tuệ và Tuệ Sĩ.

Nỗi khó xử của giáo sư Lý Chánh Trung



Đoàn Thanh Liêm



Giáo sư Lý Chánh Trung (1928-2016)

Cũng như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung là giáo sư dạy môn Triết học tại các Đại học ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Vì cả hai người đều có tên là Trung, nên để phân biệt thì bà con thường gọi là Trung Lý, Trung Nguyễn. Trung Lý thì viết ít, nhưng các bài nhận định thời sự đầy tràn nhiệt huyết của ông được nhiều giới trẻ hồi đó rất hâm mộ. Còn Trung Nguyễn thì lại là một nhà biên khảo nổi tiếng với nhiều tác phẩm được phổ biến khá rộng rãi trước 1975. Cả hai ông đều xuất thân từ trường Đại học Louvain nổi tiếng ở Bỉ hồi đầu thập niên 1950. Cả hai ông đều là những trí thức có đầu óc cởi mở tiến bộ, chịu ảnh hưởng của “phe tả, không cộng sản” ở Âu Châu sau thế chiến, và không có mấy thiện cảm với chính sách của người Mỹ ở Việt Nam. Cả hai ông còn là thành viên hoạt động của Phong trào Trí thức Công giáo Pax Romana, thời Đệ nhất Cộng hoà, cùng với các bác sĩ Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Văn Thơ, luật sư Nguyễn Văn Huyền, các giáo sư Phạm Thị Tự, Phó Bá Long, Trần Long, các chuyên gia kinh tế Lâm Võ Hoàng, Anh Tôn Trang, kỹ sư Võ Long Triều, v.v.

Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ


Ngô Thế Vinh

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long & VN 2020 Mekong Group
Thiếu thực chất là thực trạng hiện nay của Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong. Các viên chức Hoa Kỳ từ Hành Pháp tới Lập Pháp thì đã nói nhiều về cam kết với vai trò mở rộng của Hoa Kỳ trong Lưu Vực Sông Mekong nhưng tổng số đầu tư thì chưa đáng kể…
“Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á. Tổng Thống Obama và tôi tin rằng khu vực này là thiết yếu cho tiến trình toàn cầu, cho hòa bình và thịnh vượng và chúng tôi mở rộng cam kết với các thành viên thuộc Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á trên mọi thách đố trong tương lai.” Ngoại trưởng Hillary Clinton, ASEAN Summit 07/28/2009
“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh của cư dân sống phụ thuộc vào con Sông Mekong với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.” Thượng nghị sĩ Jim Webb’s Press Releases 12/08/2011

Sự trở lại muộn màng của Hoa Kỳ

Sau Chiến Tranh Việt Nam, sự vắng bóng của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á đã để lại một khoảng trống về địa dư chánh trị, và đây cũng chính là vận hội để một Trung Quốc với tham vọng mau chóng lấp đầy. Với sức bành trướng của Trung Quốc từ kinh tế tới quân sự ngày càng đè nặng trên 5 quốc gia trong lưu vực sông Mekong, cộng thêm với những động thái hung hãn của Bắc Kinh nhằm “Tây Tạng Hóa vùng Biển Đông/Tibetization of South China Sea”, nói theo ngôn từ rất tượng hình của B.A. Hamzak, thuộc Viện Hàng hải Mã Lai/Malaysian Institute of Maritime Affairs, đang trực tiếp đe dọa tới những quyền lợi thiết thân của chính nước Mỹ, đã đến lúc chánh quyền Tổng thống Obama không thể không quan tâm tới sự thách đố của Trung Quốc, một quốc gia đông dân nhất thế giới đang nhanh chóng vươn lên như một siêu cường cả về kinh tế lẫn quân sự. Bắc Kinh không chỉ cạnh tranh ráo riết mà còn với tham vọng vượt qua Mỹ trong thập niên tới của thế kỷ này. Nguy hiểm hơn nữa, nói theo ngôn từ của Jane Perlez, báo New York Time, đó là một “cạnh tranh mất-còn/zero-sum game.”[9] Do đó, một chiến lược trở lại với khu vực Đông Nam Á của Hoa Kỳ là một tiến trình tất yếu chứ không phải là ngẫu nhiên.
Hoa Kỳ là một trong những nước tài trợ cho Ủy Hội Sông Mekong, đồng thời cũng đã từng viện trợ cho các quốc gia Mekong, lại có tiếng nói đầy quyền uy trên các tổ chức ngân hàng lớn của thế giới như World Bank/WB và Asian Development bank/ADB… với tư thế đó cùng với hành động tích cực dấn thân, Hoa Kỳ hy vọng có thể tìm lại thế đứng, với “vai trò đối trọng” hạn chế được phần nào sức bành trướng của Trung Quốc trong lưu vực.

Người chị Việt Nam




Trịnh Phong


Xin tặng bài này tới những gia đình có người tử nạn trong chiến tranh nhưng không có tiền đi tìm mộ.
Đoàn Văn Thận, "Huyền Thoại Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây", sơn dầu 100x120cm. Google Images


Tôi lang thang những đồi cát miền Trung
Tìm mộ người em trai tử trận,
Mười bẩy tuối, trái tim bụi đời chưa vẩn
Để lại bóng hình trong tim mấy cô nữ sinh
Khẩu súng Nga lạnh lẽo vô tình,
Đôi giày vải Tàu buốt chân rừng núi gập ghềnh đất lạ
Chỉ ba lít máu, bốn mươi cân, nào có gì quý giá!
Từng đoàn các em áo xanh màu cỏ như trót hẹn ước cùng cỏ xanh.

Em đi, hình bóng nhỏ khuất dần cùng chuỗi ngày nặng nề,
Vất lại sau mình những tháng năm đói nghèo dai dẳng. 
Chiều chiều dõi nhìn phương nam, tưởng đạn bom vang rền trong vắng lặng,
Đêm xóm nghèo thao thức bao mẹ già.
***
Tôi cũng ra đi một mùa hè ấy,
Thầm mong gặp đứa em non nớt những đêm quân hành.
Trăng núi, mưa rừng, bom đạn vây quanh
Vốc nước suối, không vợi nỗi lòng man mác.
Khói bom nhuộm suối tóc đen ngả bạc,
Viên ký ninh vàng thẫm sắc da chì…
Rồi mấy chục năm cũng qua đi.
Những vết thương trên mình một thuở chiến trường vẫn còn nhức nhối.
Và đêm đêm trong giấc mơ hãi hùng đạn bom vang dội
Đồng đội cũ của tôi, những cô gái trẻ từ lâu không còn trên cõi đời,
Lại trở về, tay trong tay hớn hở tươi vui...
***
Mấy chục năm đã ra đi!
Biết bao chuyện đời đã thành vô nghĩa!
Cây cỏ lại xanh đất xưa chiến địa,
Xương trắng đã thành đồi cát, 
Máu đỏ đã thành lá hoa...
Mà lòng thương nhớ người thân không bao giờ phai nhạt.
Tôi bán con lợn, dành dụm ít tiền,
Gói ghém chút hành trang trong cái ba lô thời chiến tranh đã sờn vải bạt
Thắp nén hương, đặt chén nước cúi đầu xin phép mẹ
Lên đường tìm mộ em trai... 

Tranh của Họa sĩ Hoàng Ngọc Biên

Trong bài biên khảo của nhà văn Ngô Thế Vinh về nhà văn, họa sĩ Hoàng Ngọc Biên " Hoàng Ngọc Biên Với Con Đường Tiểu Thuyết Mới và Thời Gian Tìm Thấy Lại", ông viết:

"...Nếu Nguyên Khai năm 1994, đã mạnh dạn mở rộng tầm nhìn của người nghệ sĩ vào thế giới kỹ thuật computer hiện đại: anh sáng tạo những bức tranh sơn dầu vẫn với đường nét tài hoa rất Nguyên Khai nhưng có sử dụng thêm cả những chip điện tử như chất liệu mới trong không gian hội hoạ của mình.

     Thì Hoàng Ngọc Biên từ thập niên 1990, đã bắt đầu vận dụng kỹ thuật số  Digital, để sáng tạo nhiều bức đồ hoạ với đường nét thuần khiết bình dị nhưng bố cục và màu sắc thì đặc sắc..."

Đêm ở nhà Maruki (1996)
Bên Kia Thung Lũng (1996)
Nắng Trên Tường ( 1997)
Đêm Xanh Saitama ( 1997)

GIỮA NHỮNG DÒNG THƠ LỜI CHƯA NÓI

Phan Tấn Hải

clip_image002[4]

Tôi có tên bạn ở quê nhà nghèo
 không kể xiết, vẫn lang thang mỗi ngày
 làm thầy lang dạo, trên chiếc xe đạp
 chở đủ thứ kim châm, sách cổ, và

đôi khi vài bài thơ làm dở muốn
 tìm người nghe góp ý, nhiều khi không
đủ gạo về nuôi vợ con trong ngày,
đói thê thảm vẫn lạc quan đi nhà

 thờ mỗi ngày lần chuỗi xin quan phòng,
 ngồi cà phê vỉa hè vẫn nhẩn nha
đọc cho người nghe bài kinh “xin tha
 thứ người…” mà nào thế hệ chúng tôi

 có tội tình gì, mà bàn tay bàn
 chân đầy chai sạn mỗi khi vui mừng
 tìm được ngày bán sức lao động,
 giữa một thời thơ ném ra giữa đường

để mong quên luôn một đời, chỉ mong
 giành giụm cho đủ tiền mua một chiếc
 xích lô để kéo hết đời bên các
 hè phố Sài Gòn, mong các con lớn

 lên đủ chữ đọc cho thông, để nhìn
 vào mắt cha đẫm lệ tìm đọc lại
 giữa những dòng thơ lời chưa nói.

Chia Xẻ Chút Tự Hào Truyền Thống


Trần Đình Sơn Cước

Mùa hè năm 2015 chúng tôi tổ chức lễ cưới cho cô con gái thứ hai. Cháu kết hôn với một người Mỹ. Lớp trẻ thuộc thế hệ người Việt thứ hai có bạn, lập gia đình với người thuộc các sắc dân khác không còn là điều xa lạ trong cộng đồng người Việt ở Mỹ. Đây cũng là điều tự nhiên vì lớp trẻ này lớn lên toàn vẹn trong môi trường xã hội, giáo dục của Mỹ; hấp thụ nền văn hóa văn minh phương tây nhiều hơn nền văn hóa mà cha mẹ ông bà các cháu mang theo khi phải định cư ở nước ngoài.
Con gái và rể chúng tôi đều là sinh viên của trường đại học Stanford nên thánh lễ chính thức được tổ chức tại nhà thờ của trường. Nhà thờ này mang tên Stanford Memorial Church tọa lạc ngay trung tâm của trường đại học. Đây là một trong những ngôi nhà thờ được xây dựng sớm, nổi tiếng của miền Tây nước Mỹ. Bà Jane Stanford đã xây dựng xong nhà thờ này vào năm 1903 để tưởng nhớ người chồng của bà, ông Leland Stanford. Chính hai ông bà đã lập nên đại học Stanford để tưởng nhớ người con của họ, Leland Jr. Stanford. Mặc dầu họ là những người có đức tin, nhưng họ không gắn kết hẳn với một đạo giáo nào nên khi thiết lập nhà thờ họ đã qui định nhà thờ được mở cho mọi người. Nhờ tinh thần phóng khoáng đó, nhà thờ đã phục vụ được nhu cầu tinh thần rộng rãi nhất cho cộng đồng đại học.



hinh-1

hinh-2



hinh-3

hinh-4


Nhà thờ Stanford Memorial Church mặt trước và bên trong

HOÀNG NGỌC BIÊN, Mơ Làm "Người Không Có Trái Tim"

CAO HUY KHANH


Nhà văn, nhà thơ, họa sĩ Hoàng Ngọc Biên

Nhà văn, họa sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1938 tại Quảng Trị. Sống ở Mỹ.

Thuộc dòng họ Hoàng nổi tiếng ở Quảng Trị ( Hoàng Thi Thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường...). Tài hoa, đa năng, vào Sài Gòn làm Bộ Giáo Dục vừa viết văn, dịch truyện dịch thơ, vẽ tranh , trình bày báo... Tất cả đều theo khuynh hướng cấp tiến hiện đại kể cả trong quan điếm sống và hành động cảm tình thiên tả ( trong ban biên tập tạp chí Trình Bày có xu hướng chống chế độ Sài Gòn).

Bỡi thế sau 1975 vẫn ở lại TPHCM thể hiện ý hướng hợp tác hòa hợp hòa giải dân tộc xây dựng lại tất cả sau chiến tranh. Cộng tác với nhật báo Tin Sáng (phụ trách trình bày) của nhóm trí thức nhân sĩ tiến bộ miền Nam được nhà nước cho phép xem như tạo một đầu mối trung gian với chế độ mới cộng sản với lớp thị dân chưa "quen" với cộng sản.

Một cuộc đời âm thầm

Nguyễn Văn Đức
cha_nguyen_the_thuan
Linh mục Yuse Nguyễn Thế Thuấn
Đây là một bài viết có tính cách riêng tư nhưng có nhiều thông tin giá trị được viết từ năm 2010. Là bạn thân của tác giả, anh Nguyễn Văn Đức, tôi xin gởi đến Ban Biên Tập. (Trần Đình Sơn Cước)
Ngày 28 tháng 3 năm 2010 là ngày giỗ thứ 35 của linh mục Yuse Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, người đã sống một cuộc đời âm thầm để chuyển ngữ toàn bộ cuốn Kinh Thánh gồm Tân Ước và Cựu Ước từ tiếng Hipri, Aram và Hilạp ra tiếng Việt. Với một cuộc sống âm thầm là vậy, nhưng cái chết của ngài còn âm thầm lặng lẽ hơn so với những người đã chết tức tưởi trong vụ chôn sống tập thể tại Huế – Thừa Thiên hồi Tết Mậu Thân 1968. Linh mục Thuấn ra đi, để lại một công trình dịch thuật Thánh Kinh còn dang dở. Ngài chưa dịch xong ba quyển : Yob, Cách Ngôn, và Baruk. Khi xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh, ban Xuất bản gồm học trò và bạn bè của ngài đã dịch ba quyển này từ bản tiếng Pháp ‘Bible de Jerusalem.’

Suy ngẫm về lá thư của một bạn sinh viên quê Sầm Sơn trên Facebook

Bauxite Việt Nam
Giải đất hình chữ S nằm về một góc Đông Nam châu Á này bao gồm núi sông, trời biển, rừng suối, gò đồi, đồng ruộng, đầm lầy… tất tật đều là tài sản chung của cả cộng đồng dân lộc Việt từ thuở khai thiên lập địa đến nay. Cả một dân tộc đã chung lưng đấu cật cùng nhau, ngày này qua tháng khác đổ không biết bao nhiêu máu, mồ hôi, góp tay xây dựng, gìn giữ, mở mang suốt mấy nghìn năm mới tạo nên được. Vì thế, ngay dưới thời phong kiến, tuy vua chúa có quyền ban cấp đất đai cho quan lại bề tôi có công nhưng mỗi khi làm việc động chạm đến quyền lợi tối thiêng liêng của dân, triều đại nào cũng nhìn vào lòng dân mà cân nhắc rất kỹ lưỡng. Có loại đất phong cấp trên giấy tờ hàng nghìn mẫu mà không hề có trên thực địa và có loại đất gọi là thực phong, thực cấp thì chỉ giới hạn ở một diện tích rất nhỏ, nhiều lắm là một làng. Và Triều đình cũng chỉ ban phong để các công thần hàng năm thu thêm một khoản ngoài thuế của nhà nước, chứ không phải tự tiện muốn chiếm lấy đất của hộ dân nào thì chiếm, hoặc tự tiện giao đất của gia đình này cho gia đình kia làm cho dân chúng nhiều người trắng tay, lâm vào tình cảnh lầm than đói khát. Nếu cả một vùng không còn yên sống, đi ngược với chính sách yên dân thì sẽ mắc tội lớn với Triều đình. Nghĩa là dù vai trò của ông vua trong chế độ phong kiến được coi là là tối thượng (Thiên tử con trời) thì vẫn không vua chúa nào dám liều lĩnh làm càn đến mức trắng trợn cướp đất của dân.
Dưới thời Pháp đô hộ cũng vậy. Tuy là kẻ xâm lược đến chiếm nước ta, các nhà tư bản Pháp muốn mở đồn điền đều phải có đơn xin Nhà nước Bảo hộ cho phép mình trưng khẩn. Mà trưng khẩn ở đây là khai khẩn đất hoang vô chủ, phần lớn là đất cao nguyên, đồi núi, để biến thành đất trồng trọt, sau một số năm sẽ đóng thuế cho Nhà nước theo luật định. Còn đất đai của dân chúng đang sinh sống và nhiều đời truyền nối cho nhau làm phương tiện sinh sống, nhằm bảo tồn sự sống của gia đình, họ mạc, làng xóm mình, thì ngoại trừ một vài trường hợp hãn hữu, những nhà tư bản Pháp đâu có dại nhảy vào tranh cướp. Ngay pháp luật của chế độ thực dân cũng không cho phép họ cái quyền phi lý kia.
Chỉ có dưới chế độ XHCN Việt Nam ngày nay mới nảy sinh ra một thứ luật, đúng hơn là một thứ quyền, rất lạ: quan chức nhà nước đứng đầu cả nước hay đứng đầu một vùng, mỗi khi nhìn thấy một mảnh đất, một bãi biển, một ngọn núi hay một đầm hồ nào đấy có vẻ ngon mắt, có khả năng sinh lời khi chuyển đổi mục đích kinh doanh, thì họ liền ngỏ lời với “đối tác” – có thể là các doanh nghiệp, nhóm lợi ích, thậm chí là đối tác nước ngoài – và nếu được đối tác tán đồng mua với giá cao để biến thành đất thổ cư, làm khu vui chơi giải trí, làng sinh thái hoặc khu chung cư…, là y như các vị quan lớn nhà ta tự cho mình cái quyền cắm cây cọc gọi là “quy hoạch” vào đấy rồi định một giá rẻ mạt bắt dân phải bán, cũng định ra một thời hạn để xuống lệnh đuổi dân đi. Nếu dân không chịu bán, không chịu đi thì lập tức cho đội quân chức năng – trong đó có cả tầng lớp lưu manh đầu gấu do chính quyền trực tiếp chiêu mộ – đến cưỡng chế bằng đủ mọi cách; cách thường dùng nhất là trấn áp, phá tan nhà cửa ruộng vườn trồng trọt của dân. Rất nhiều người dân tay lấm chân bùn đang yên đang lành bỗng nhiên một sớm tỉnh dậy thấy mình mất đi tất cả. Mất trắng. Họ trở thành dân oan, phải kéo nhau đội đơn đi kêu cứu hết nơi này nơi nọ suốt năm này tháng khác. Có người quá bức xúc kéo đến trụ sở chính quyền phản đối thì bị kẻ cầm luật trong tay “khởi tố”, như trường hợp người dân Sầm Sơn mất bãi biển hành nghề ngư nghiệp cha truyền con nối hàng nghìn năm, rộ lên từ hơn một tuần nay. Tình cảnh của họ đúng là tình cảnh lớp người tha hóa, nhưng tha hóa không phải do quy luật đào thải tự nhiên – mà do chính kẻ cầm cân nẩy mực đẩy họ đến bước đường cùng.
Mà đâu phải chỉ có nông thôn. Một thành phố như Hà Nội, có bao nhiêu chợ cổ truyền như chợ Hôm, chợ Hàng Da, chợ Bưởi, chợ Mơ, chợ Cửa Nam… cho đến hết thời Pháp vẫn để dân yên ổn buôn bán làm ăn, bởi họ biết người Việt vốn còn rất nghèo, tầng lớp tiểu thương đông đảo thường chỉ có một gánh hàng cỏn con ngày ngày tất tả mua từ ngoại ô đem vào phố bán, các loại chợ đó là nơi “hạ gánh” thuận tiện nhất của họ. Mà người mua cũng vậy, với túi tiền vốn không xông xênh gì mấy, các bà phụ nữ nội trợ thường mỗi sáng chỉ đạp xe vào chợ một chốc là ra về với mớ rau, con cá đèo trên giỏ là xong. Ấy thế mà người đứng đầu nhà nước hoặc đứng đầu Kinh đô đã để mắt đến không gian của những chợ cổ truyền nọ từ lâu. Họ chỉ cần ra một cái lệnh giải thể các chợ đó để xây “trung tâm thương mại”, thế là một sớm những chị tiểu thương bừng mắt dậy bỗng không còn đất ngồi bán hàng nữa. Họ phải long tong chạy xuôi chạy ngược khắp các phố phường Hà thành. Đâu có thể ngả gánh ra bán là họ ngả gánh ra. Rồi họ tụ tập nhau lại (phải tụ tập nhau đông đúc thì mới bán được hàng, tâm lý người bán và người mua xưa nay là thế). Và các chợ cóc cứ thế hình thành, chiếm hết vỉa hè của nhiều phố xá, làm cho Hà Nội ngày càng nhếch nhác bẩn thỉu hơn, trong khi diện tích các chợ cũ bán xong, tiền vào túi lãnh đạo rồi lại rơi vãi vào đâu không biết, nhưng các trung tâm thương mại hoành tráng xây lên thì chẳng ma nào thèm vào. Không có tiền để mua một chỗ ngồi bán đã đành, ngay người mua tìm cho được chỗ gửi xe để leo lên các tầng chỉ mua một mớ rau, vài ký gạo là điều quá chừng cực nhọc. Không ít trung tâm thương mại ở Hà Nội trở nên vắng teo. Ấy thế mà chẳng một ai trong các thế hệ ngồi trên đầu dân chịu rút kinh nghiệm, chợ này đuổi dân xong để bán cho nhà doanh nghiệp rồi chợ khác lại đuổi dân tiếp, càng lâu về sau thì đội quân lang thang trong hàng ngũ tiểu thương ngày một thêm đông đảo. Họ chưa đến nỗi là dân oan nhưng cũng mấp mé loại người một sớm phải đứng đường, lúc này lúc khác bị công an bố ráp giật hết các gánh hàng tấm quẳng lên xe đem về đồn…
Thử hỏi, cái việc làm hoàn toàn trái ngược với truyền thống nói trên đây, vừa thất nhân tâm, vừa đẩy dân chúng đến chỗ hết đường sinh sống, có thể gọi tên đúng là gì nhỉ? Xã hội chủ nghĩa chăng? Lấy dân làm gốc chăng? Không được. Đối với những người còn chút lương tri giải thích bằng những lời như thế là không đứng đắn. Đành phải tìm một từ chính xác để gọi cho đúng bản chất, dù rằng lâu nay chúng ta vẫn cố tránh, bởi không phải một ai cũng muốn đóng vai chú bé nói về vị Hoàng đế cởi truồng. Nhưng hiện tại đất nước đang hào hứng với khí thế “dân chủ đến thế là cùng” kia mà. Vậy thì đành xin thưa, chỉ có hai từ đơn giản thôi, hai từ hoàn toàn thích hợp với hành động không tiền khoáng hậu của các vị – ĂN CƯỚP. Và nếu nói như người xưa thì có thể thêm ĂN CƯỚP CÓ MÔN BÀI.
Cực chẳng đã phải gọi tên những việc làm vốn bị nhân loại ghét bỏ này, thực lòng chúng tôi không lấy gì làm thích thú. Nhưng nếu không nói thì chính mình lại tự đánh mất nhân cách, tự mình rơi vào tình thế nuốt nhục. Nói ra, dẫu có thể mang tiếng là lăng mạ những ai ai đó, thì đối với người còn tỉnh táo, mà chúng tôi tin rằng còn, sau khi đã trải qua cú sốc, hẳn sẽ có lúc giật mình về món “thuốc đắng” gửi gắm trong mấy lời thô thiển này. Và chỉ cần giật mình thôi cũng đủ là sự cảnh báo với mình để quyết tâm tìm cách “dã tật”, khi mà khuyết tật đang lồ lộ ra khắp nơi mọi chốn.
BVN
Thư bạn đọc
FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận
Kính gửi: Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cùng các công nhân viên cán bộ trong hệ thống chính quyền tỉnh.
Tôi là: Văn Thị Hương SN 1996
tại: Sầm Sơn-Thanh Hóa
hiện là sinh viên năm nhất Khoa Ngôn ngữ Anh Đại học Đông Đô.