
Cũng vào khoảng này 50 năm trước là thời gian giới báo chí tại Miền Nam đứng lên đòi quyền tự do báo chí, cùng với người dân đòi quyền được thông tin ngay thực. Nhiều người chỉ còn nhớ tới cuộc biểu tình không tiền khoáng hậu mệnh danh là “Ngày ký giả đi ăn mày”. Vào ngày 10 tháng 10 năm 1974, hàng trăm ký giả, nhà báo, nhân viên in ấn, phát hành và dân chúng đã tụ tập tham gia ngày này. Có thể nói đây là một cuộc biểu tình bột phát lớn nhất chưa từng thấy ở Miền Nam.
Đã hẳn biến cố này được phe Cộng sản khai thác triệt để khiến nhiều người bên phía Quốc gia cũng đâm nghi ngờ là do phe Cộng sản giật giây. Trong khi tìm những bài đã viết về biến cố này, tôi không khỏi bật cười khi đọc các bài viết (1) của người trong nước gọi những ký giả tham dự cuộc biểu tình này “các nhà báo cách mạng và yêu nước miền Nam” nhằm chống lại “bàn tay sắt của chính quyền miền Nam bóp nghẹt tự do báo chí”. Như thể trong chế độ Hà Nội tự do báo chí được triệt để tôn trọng.
Là người trong cuộc, đặc biệt lại là người đứng tên một trong ba tờ nhật báo bị chính phủ đương nhiệm Nguyễn Văn Thiệu truy tố về tội “phỉ báng, mạ lỵ” khi đăng bản cáo trạng chống tham nhũng của Phong trào Nhân dân Chống Tham nhũng và Kiến tạo Hòa bình do linh mục Trần Hữu Thanh lãnh đạo, nhân kỷ niệm 50 năm biến cố này, tôi cảm thấy cần lên tiếng về cuộc tranh đấu cho tự do báo chí của giới báo chí Miền Nam mà “Ngày ký giả đi ăn mày” chỉ là một biến cố tuy nổi bật song chỉ có tính cách tượng trưng. Nhật báo Sóng Thần do tôi làm chủ nhiệm là tờ báo đầu tiên nhận được trát đòi hầu tòa vào ngày 31 tháng 10, 1974.
Miền Nam Việt Nam, còn gọi là Việt Nam Cộng hòa, với sự tiếp tay của Hoa Kỳ và thế giới tự do chính thức được thành lập vào năm 1955, và là nền dân chủ duy nhất của một lịch sử dài mấy ngàn năm nếu không bị ngoại bang đô hộ thì là dưới một chế độ quân chủ chuyên chế. Tồn tại vỏn vẹn có 20 năm, với một nền dân chủ còn non nớt và một cuộc chiến do Cộng sản Bắc Việt khởi động, người Miền Nam dù vậy đã thực hiện được nhiều tiến bộ về kinh tế, giáo dục và văn hóa mà chính họ khi nhìn lại cũng không khỏi ngạc nhiên; và đã hẳn giờ là nuối tiếc của nhiều người trong nước, bên cạnh nỗ lực không ngừng của Cộng sản Việt Nam vẫn ra sức xóa sổ VNCH ngay cả bây giờ sau nửa thế kỷ họ chiến thắng, vì lẽ gì nếu không phải là sợ. Tôi đã viết về các tiến bộ Miền Nam đã đạt được trong bài giới thiệu cuốn (2) “Việt Nam Cộng Hòa 1955-1975 – Kinh nghiệm Kiến Quốc” của một nhóm giáo sư trẻ gốc Việt, trong bài này.(3)
VNCH có tự do báo chí, như đã ghi trong Hiến pháp; và tất nhiên tự do đó phải chịu những hạn chế trong một chế độ dân chủ còn phôi thai và bị chiến tranh do Việt Cộng khởi động gây bất ổn, nghi kỵ, tang tóc khắp nơi. Dân Miền Nam không được phép lập đài phát thanh hay truyền hình tư, nhưng được quyền ra báo, viết sách, làm xuất bản mà không quyền lực nào chỉ đạo họ phải viết cái gì, viết ra sao.
Nhờ nền giáo dục phổ biến và phần lớn miễn phí, đặt trên căn bản nhân bản, dân tộc và khai phóng, số học sinh, sinh viên gia tăng, nhu cầu sách vở cũng nhờ vậy mà tăng trưởng, tiếp tay đẩy mạnh các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có các ngành thuộc văn học nghệ thuật, báo chí và xuất bản. Hàng đống sách—truyện, biên khảo, sách dịch, kể cả những sách vở của Marx, Lenin lẽ ra phải là đồ quốc cấm—bầy bán trong tiệm, la liệt đầy đường phố, khiến người nữ cán bộ Dương Thu Hương khi vào “giải phóng” Miền Nam đã phải bật khóc thốt lên (4), “Trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bày trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette.”