Bài
và ảnh (*) Võ
Quang Yến
Ngày thứ bảy 11 tháng sáu năm 2011, nhân kỷ niệm mười năm ngày Trịnh Công Sơn mất, một đêm văn nghệ với Đức Tuấn, Hồng Anh, Thanh Hải và ban hợp xướng JVOX đã được tổ chức ở thị trấn Sceaux, miền nam Paris. Khán giả lại dự rất đông, nhà hát 500 chỗ ngồi chật kín. Khách mời có Khánh Ly ở Hoa Kỳ sang, phần giới thiệu do anh Cao Huy Thuần đảm nhiệm. Như vậy là người nhạc sĩ nổi tiếng xứ Huế luôn tồn tại trong lòng người Việt ở Paris nói riêng, ở nuớc ngoài nói chung. Từ nay với Hội Văn hoá Trịnh Công Sơn, tên nhạc sĩ lại càng được ghi kỹ trong tâm tư. Thật ra, Paris đã nghe nói đến Trịnh Công Sơn từ khá lâu, bắt đầu với bài viết rất dài của anh bạn Jean-Claude Pomonti trong tờ báo le Monde (1969). Bản thân tôi được nghe chính nhạc sĩ đàn và hát qua những băng cat xet tòa soạn báo Bách Khoa gởi tặng trong những năm thập niên 60-70.
Trong những buổi găp mặt trước hè của ban Việt ngữ viện Đại học Paris 7 ở nhà chúng tôi trên đồi Hắc Ký Ni Sơn trong Thung lũng Chevreuse, những năm 1987-90, mỗi lần cô sinh viên Yoshii Michko ôm đàn lại hát Trịnh Công Sơn. Ngày 16 tháng năm 1987, nhà Việt Nam ở đường Cardinal Lemoine, Paris quận 5, tổ chức một cuộc nói chuyện về người nhạc sĩ xứ Huế do anh Đặng Tiến trình bày. Vào thời ấy, Hội Người Yêu Huế đang trên đường phát triển, mỗi lần có dạ hội là có nhạc Trịnh. Hai năm 1985 và 1987, tổ chức tại Nhà Sinh viên Đông Nam Á ở Paris, đại lộ Jourdan, lần nào Hội cũng mời ca sĩ Thanh Hải từ Đức sang hát Trịnh Công Sơn. Có cả một người Đức, cô Inger Pichner, hồi ấy có chồng người Việt, lại hát vài bài như Diễm xưa, Ngủ đi con, tiếng Việt đệm giọng Đức nghe rất dễ thương. Ở Paris, còn có cô Ỷ Lan Pénelope Faulkner, người Ái Nhĩ Lan, hát bài Diễm Xưa (và nói) với giọng Huế thuần túy. Giọng hát trong suốt của Thanh Hát khác với giọng hát mượt mà của Khánh Ly nhưng rất hấp dẫn và với một băng cat xet để lại, chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi cuộc qua Pháp viếng thăm của chính nhạc sĩ.
Thanh
Hải 1985
Yoshii Michiko 1989
Inger Pichner 1987
Năm
1989, từ 27 tháng năm đến 26 tháng
sáu, Trịnh Công Sơn, vào tuổi
50, được Hội
Người Việt
Nam
tại Pháp
mời qua Pháp cùng nhà văn Nguyễn
Quang Sáng. Đối với chúng tôi,
nhạc sĩ là tiêu biểu cho xứ Huế
trước khi là một nghệ sĩ dân
gian, một nhạc sĩ đã sáng tác
ra những bài hát vang dội khắp hoàn
cầu, không chỉ ở những nơi có
người Việt định cư. Vì vậy,
dù không phải là khách mời của
Hội
Người Yêu Huế,
chúng tôi chia phiên nhau đưa đón,
dẫn di thăm viếng, mời về nhà ăn
cơm,… Chúng tôi không dè
có chuyện khó khăn. «Một
số Việt kiều ở Mỹ bay qua Pháp
với ý đồ hành hung và bắt
cóc nghệ sĩ của thành phố, họ
đã chặn đường đoàn để
hành hung. Ý đồ của họ không
thành… Hai chúng tôi phải tản
cư về một tỉnh lẻ. Ở Paris, anh em
khoanh vùng nơi nào Trịnh Công Sơn
được đến, nơi nào là
vùng cấm, và Trịnh Công Sơn
tuyệt đối không được đi
một mình » (NQS). Có lẽ vì vậy
mà vợ chồng chúng tôi hụt đón
nhạc sĩ tại tư thất trên đồi
Hắc Ký Ni Sơn. Tuy đã có hẹn
từ trước, hôm sắp đưa xe lại
đón thì tôi được cho biết
nhạc sĩ đã được mời đi
ở nơi khác. Tội nghiệp cho nhà
tôi, biết khách họ Trịnh thích
uống rượu hơn ăn cơm nên mất
công chạy vạy tìm hỏi cách soạn
đồ nhắm… Dù sao, chiều thứ
bảy 27 tháng năm và tối thứ bảy
10 tháng sáu, hai buổi Gặp
gỡ Trịnh
Công
Sơn - thảo luận, bàn tròn,
văn
nghệ
đã được tổ chức tại Nhà
Việt Nam. Khách lại dự, bạn bè
quen biết hay chỉ nghe tiếng, hâm mộ
đến đông chật kín ngôi nhà
nhỏ. Trong số khách có Trịnh Vĩnh
Trinh, cô em gái của nhạc sĩ, từ
Canada qua, ca sĩ Thanh Hải từ Đức lại,
cô sinh viên Yoshii Michiko ở Paris. Chuyện
trò huyên náo, ồn ào nhưng
biết bao vui vẻ, thân tình thật là
tứ hải giai huynh đệ. Ngày 27.5, hôm
khai mạc cuộc triển lãm tranh Trịnh
Công Sơn ở Unesco cũng là một
thành công mỹ mãn vì có rất
nhiều khách lại xem và mua tranh. Nghe nói
trong thời gian ở Paris, như Ngưu Lang Chức
Nữ, nhạc sĩ có dịp gặp Khánh
Ly từ Mỹ sang thăm.
Riêng
bên phần nhạc sĩ họ Trịnh cũng
cảm thấy xao xuyến trong lòng không ít
và như mọi nghệ nhân gốc Huế
si tình khác, gặp cảnh ngộ thì
dễ yêu dễ thương, đi xa nước
thì mau nhớ quê, nhớ nhà. « Tôi
đã nhớ Paris dù chưa bao giờ gặp.
Tôi nghĩ về Paris đã từ lâu
lắm. Những dòng suy nghĩ đã trôi
đi không có ngày hẹn. Trôi đi.
Đời sống đã trôi đi, đã
trôi qua như bây giờ trước mắt
là dòng suối Loiret, nhìn từ căn
nhà của Đặng Tiến, cũng trôi
đi lặng lẽ. Những con thiên nga cũng
trôi đi trên dòng suối nầy. Lười
biếng trôi đi mà vẫn giữ riêng
cho mình một vẻ đẹp không thể
nào trách móc đươc. Lac
des cygnes, Ballet về cái chết của Thiên
Nga. Tháng 5 trời đất đề huề
một bầu không khí ấm áp rất
thuận lợi cho một cơ thể ốm yếu
như tôi. Paris ồn quá. Ồn ào một
cách hơi hỗn đối với những
tâm hồn tĩnh lặng Đông phương.
Tôi thích phố xá nhưng không
phải là một loại phố xá làm
đau đớn đời sống riêng tư
của mình. Về Orléans nghe chim chóc
ca hát quanh đời (sic). Những cây
platane già, những cây platane trẻ phủ
xuống một nỗi nhớ nhung riêng. Tháng
5, những lớp da bệnh hoạn được
sưởi ấm. Những giọt máu dưới
làn da đã trỗi dậy ca hát một
mùa không tuyết phủ… Người
ta có thể yêu nhau và ghét nhau,
nhưng xin đừng hãm hại nhau. Tôi sợ
lắm những gì mang đến bất hạnh
cho con người. Hãy cố gắng mang đến
cho nhau những giấc mơ, những giấc mơ
làm nên hạnh phúc. Đi đâu
đến đâu hãy chỉ thấy những
nụ cười, những nụ cười như
đóa hồng đứa bé cầm trên
tay đi qua đường phố, rực rỡ
một lòng yêu thương vô tận.
Chúng ta hình như thừa bạo lực
nhưng lại thiếu lòng nhân ái.
Buổi chiều tháng 5, dòng suối Loret
chảy nhẹ nhàng. Đi bộ từ bờ
nầy sang bờ kia còn dễ dàng gấp
nghìn lần những mùa lụt ở Huế.
Buổi chiều ở Orléans bỗng nhiên
tôi nhớ về quê nhà quá. Có
những cái đầu không bình tĩnh
lắm sẽ trách móc tôi vì sao ở
một nơi sung sướng như vầy mà
vẫn nhớ nhà nhớ quê. Than ôi !
Quê nhà chính là tôi rồi tôi
biết làm sao được. Paris ơi !
Đã một thời yêu Paris lắm dù
chưa gặp. Nhưng bây giờ Paris sẽ là
một trong muôn vàn kỷ niệm của
tôi. Đừng buồn, vì Paris vẫn là
Paris và tôi có thể chỉ là một
người quan sát nghèo nếu chưa
hiểu được những gì trong lòng
Paris muốn giấu kín. Tôi không còn
trẻ và Paris cũng chưa già. Paris hãy
mãi mãi giữ gìn một Paris như
thế và tôi, tôi cũng sẽ mãi
mãi giữ gìn một sự mất đi
không cần thiết cho cuộc đời »
(TCS, Orléans, 22.05.1989).
Hôm
Gặp
gỡ Trịnh
Công
Sơn ở
Nhà
Việt
Nam, một người lên hát Diễm
xưa
và nhiều bài khác được đặc
biệt chú ý là cô Yoshii Michiko
(viết chữ Hán đọc âm Việt
là Cát Tỉnh Mỹ Tri Tử), đã
tốt nghiệp cử nhân bên Nhật Bản
(trên đề tài ca sĩ nổi tiếng
đương thời Miyuki Nakajima), hiện đang
dự thảo một luận văn cao học ở
viện Đại học Paris VII. Ở bên Nhật
cô đã từng nghe mấy người
anh hát Trịnh Công Sơn bằng tiếng
Nhật nhưng vì còn nhỏ cô chẳng
có một ý niệm gì về chiến
tranh. Qua Paris học tiếng Việt ở Paris VII,
cô bảo cũng có nghêu ngao nhưng
lúc ban đầu chưa sành tiếng nên
chỉ hát cho vui. Dần dần, khi bắt đầu
thấu hiểu nghĩa lý các bài hát,
cô nhận định không chỉ có
những bài tình ca mà còn có
một số các bài chống chiến
tranh. Cô tìm hiểu từ đâu phát
sinh những bài hát nầy, trong điều
kiện nào chúng đã phát triển
và được phổ biến rộng rãi
thế nào. Cô sưu tầm các băng
cat xet phần lớn nhờ gởi từ Hoa Kỳ
qua, những tài liệu nhờ tác giả
sao chụp ngay từ bản chính, qua điện
thoại thường xuyên bàn bạc với
chính Trịnh Công Sơn… Các bài
hát sưu tập (69 bài phản chiến
trong số 196 tác phẩm), sắp đặt
lại, dịch một số (toàn vẹn 7
bài), bình luận chu đáo, tuy không
có dự kiến kinh sử, trở thành
luận văn cao học với đề tài
Chansons
anti-guerre de Trịnh Công Sơn
(Những bài hát phản chiến của
Trịnh Công Sơn). Với những nhận
xét tế nhị, tinh vi, cô lần lượt
đề cập đến thái độ ban
đầu của nhạc sĩ khi đang chỉ
còn là một nhân chứng quan sát
(1966-67), rồi dần dần mô tả những
nổi đau của người dân trong chiến
tranh, đòi ngưng tiếng súng chấm
dứt thảm họa đang dày vò đồng
bào (1968). Các giáo sư nhận định
cô đã làm một công việc
dịch thuật mạch lạc, trình bày
nghiêm túc các bài hát lắm
lúc khó hiểu, phức tạp trong bối
cảnh chính trị (Đặng Tiến). Cô
cũng đã có công phân tích
kỹ thuật phần ký âm nhưng đồng
thời mạnh dạn vượt ra khỏi khuôn
khổ âm nhạc để đạt đến
phương diện nghệ thuật hiện đại
của xã hội Việt Nam (Langlet). Luận
văn được bảo vệ ngày 2 tháng
bảy năm 1991 ở viện Đại học
Paris VII trong khuôn khổ khoa Ngôn ngữ và
Văn minh Á Đông, trước ban giám
khảo gồm có các vị giáo sư
và cán bộ giảng dạy Philippe Langlet,
Đặng Tiến, Phạm Đán Bình,
Trần Văn Khê (đặc biệt được
mời vào bàn giám khảo). Theo câu
cách ngôn « một trăm lần đọc
không bằng một lần nghe », cô
bắt đầu buổi bảo vệ luận văn
với hai bài hát Đại
bác ru em
và Ngủ
đi con du
dương, tự đệm đàn lục
huyền cầm. Tuy là phòng bảo vệ
luận văn nghiêm trang, khán giả bạn
bè rầm rộ vỗ tay như ở rạp
hát. Sau khi giải thích lý do cuộc
khảo cứu, xác định vị trí
cùa nhạc sĩ trong ngành nhạc học
Việt Nam, cô bình luận thái độ
của nhạc sĩ đối với chiến
tranh. Ngày nay, tiểu sử cũng như tư
tưởng phản chiến của Trịnh Công
Sơn đã được bàn luận
sâu rộng. Để kết thúc buổi
bảo vệ luận văn, cô còn hát
ba bài Ca
dao Mẹ, Tôi có người yêu chết
trận Pleime
và Nối
vòng tay lớn,
được đông khán giả cùng
hát. Đây là một thủ tục
thú vị chưa từng có ở đại
học.
Yoshii
Michiko Trịnh Công Sơn Trịnh
Vĩnh Trinh
Trước
khi đi đến kết luận, cô dành
cả một chương về kích thước
quốc tế của nhạc Trịnh Công Sơn.
Thật vậy nhạc họ Trịnh, ngay trong thời
kỳ chiến tranh, không chỉ nghe ở các
hộp đêm, phòng trà thành phố
mặc dầu bị cấm đoán, lan sâu
vào các vùng chiến khu xa lánh mặc
dầu bị cho là Nhạc
vàng
đồi trụy mà còn được
phổ biến ra nước ngoài, đặc
biệt ở các nước mến chuộng
hòa bình hay dính líu đến cuộc
chiến. Ngoài nước Pháp dễ hiểu
là nơi có nhiều người Việt,
nhạc Việt Nam lan tràn ra quốc tế nhờ
đã đón tiếp nhiều nhà báo
tứ phương lại săn tìm những
thiên phóng sự giật gân. Cũng rất
dễ hiểu nhạc Việt được nghe
nhiều ở Hoa Kỳ với số lớn quân
nhân gởi qua đây. Cô Yoshii Michiko chú
ý là bất cứ ở đâu, nhạc
Trịnh Công Sơn cũng được hát
theo nguyên văn tiếng Việt, chỉ có
ở Nhật Bản là bài hát được
dịch ra tiếng địa phương. Nguyên
là năm 1968, nhà báo Asai Takashi ở
đài Truyền hình Mainichi đem về
Tokyo một dĩa thâu 23 bài hát phản
chiến của nhạc sĩ họ Trịnh. Từ
dĩa nầy, ca sĩ Takaishi Tomoya chọn ra hai bài
Ngủ
đi con
và Tôi
sẽ đi thăm,
đặt lời Nhật, có khác đôi
chút như không còn chuyện da vàng
vì không muốn nhấn mạnh đề
tài nội chiến, hay mẹ ru con mất cha
thay vì mẹ mất con chết ở chiến
trường,… Năm 1969, hãng Nihon Victor cho
xuất bản một dĩa 45 vòng (Ngủ
đi con)
lập tức đạt thành công phi
thường, nhờ các bản nhạc du dương
đã đành mà cũng nhờ đã
phát hành đêm khuya. Nhằm vào
lúc phong trào phản chiến lên cao,
nhiều ca sĩ nổi tiếng khác như
Moriyama Ryoko, Carmen Maki, Katô Tokiko hay nhóm Dyuku
Eisesu cũng đua nhau hát Trịnh Công Sơn,
rút cuộc nhạc sĩ họ Trịnh đoạt
giải Dĩa
Vàng
năm 1969 ở Nhật Bản.
Đằng
khác, năm 1970, ca sĩ Khánh Ly được
mời qua hát ở Hội chợ Quốc tế
Osaka. Cô trình bày một số bài
trong ấy Diễm
xưa, Ca dao mẹ
qua hai thứ tiếng làm rung động lòng
người Nhật vốn đã quen thuộc
và ưa thích nhạc điệu rất
Á Đông của Trịnh Công Sơn.
Sau nầy, cô còn qua Nhật nhiều lần
khác, hát ở đài truyền hình,
trước những khán giả không phải
Việt Nam. Lần cuối năm 1989 cô hát
song ca với ca sĩ nổi tiếng Katô Tokiko.
Bên phần Trịnh Công Sơn, đài
truyền hình Mainichi đặt một bài
hát về Hiroshima và Nagasaki. Có lẽ
không sống trong cuộc, chưa khi nào
viếng đất Phù tang, bản nhạc
không có chút hiện thực, không
làm rung động thính giả Nhật,
lại đúng vào năm 1972, chiến
tranh sắp chấm dứt ở Việt Nam nên
không thấy được phát hành.
Trái lại, năm 1979, hảng Nippon Columbia cho
xuất bản một dĩa 45 vòng (Diễm
xưa)
hai thứ tiếng với Khánh Ly, được
phát trên mạng mỗi kỳ trước
tác phẩm của Kondô Kôichi Vợ
tôi và con tôi đến từ Sài
Gòn.
Tuy dĩa bán không chạy bằng dĩa
xuất bản năm 1969, nhưng phát hành
trên làn sóng quốc gia, bài hát
đã được phổ biến rộng
rãi trong nước. Cô Yoshii Michiko bảo
thấy bên nưóc cô ta, có nhiều
người chưa từng nghe nói đến
Việt Nam, không dính líu gì đến
chiến tranh, cũng nhận ra bài Ngủ
đi con
vì làn điệu đằm thắm nầy
đã ru ngủ họ cả một thời
niên thiếu qua các đài phát
thanh và truyền hình. Trịnh Công Sơn
chắc chắn hả lòng dưới suối
vàng. Còn cô Yoshii Michiko thì luận
văn được chấm hạng Tối
ưu
(Très Bien).
Trịnh
Công Sơn – Thanh Hải
Trịnh Công
Sơn - Trịnh Vĩnh Trinh
Tôi
có gặp lại Michiko ở Thành phố
Hồ Chí Minh hai lần : năm 1992 tại
nhà Trịnh Công Sơn và năm 1998
tại nhà riêng. Lúc nầy cô có
chồng người Việt (ông Trần Văn
Soi tức Thomas Soi, cưới năm 1994) và
hai con. Từ 1993, cô làm cho một công
ty Nhật Bản và qua
nhóm Việt kiều tại Nhật
lo việc
quyên tiền, góp phần
xây
cầu bê tông ở miền Đồng bằng
sông Cửu Long thay thế các cầu khỉ.
Đồng thời cô làm đại
diện cho‘’Chương Trình Bạn
Trẻ Em Đường Phố tại Nhật’’
giúp đỡ tài trợ trẻ em Việt
Nam. Tháng ba năm 2012, cô được mời
thăm trường cũ, viện Đại học
Paris VII, ở địa chỉ mới.
Tuy nói thạo tiếng Việt, cô thuyết
minh bằng tiếng Pháp trên đề tài
« Ưu tư của chính phủ và
xã hội dân sự trước con trẻ
ngoài đường ở Việt Nam ».
Bây giờ cô là tiến sĩ và
giáo sư ở Trung tâm Quốc tế Giáo
dục và Khảo cứu CIER ở viện Đại
học Mie bên Nhật Bản. (Bắt đầu
từ 01.04.2014, cô dọn về Đại học
Okinawa, Bộ học Nhân văn). Cuộc khảo
cứu về nhạc Trịnh Công Sơn ở
Paris đã đưa đường cô đến
Việt Nam, và hơn nữa huớng cô về
một cuộc khảo cứu liên quan đến
tương lai những đất nước đang
cần phát triển lành mạnh trong số
ấy có tổ quốc của thân phụ
các con cô.
Ở
Huế,
ngày 01.04.2013, đúng sau 12 năm Trịnh
Công Sơn mất, khai trương « Gác
Trịnh
, tên gọi lấy ý tưởng từ
câu hát trong bài Đêm
thấy ta là thác đổ ».
« Đây
là căn gác nhỏ, từng là một
chốn đi về của Trịnh Công Sơn
thời kỳ ông còn sống và sáng
tác ở Huế vào thập niên 60, 70
của thế kỷ trước. Tại đây,
nhạc sĩ họ Trịnh đã sáng
tác những ca khúc đầu tiên trong
sự nghiệp sáng tác của mình ».«
Ðược biết Gác Trịnh sẽ trở
thành điểm đến dành cho những
ai yêu mến người nhạc sĩ tài
danh, và là nơi tổ chức các
hoạt động văn hóa, nghệ thuật
như: triển lãm, giới thiệu gương
mặt và những sáng tác mới,
giao lưu văn học nghệ thuật... »
(theo tin các báo tuoitre.vn, vov.vn, tienphong.vn).
Huế
sẽ mãi mãi nhớ đến Trịnh
Công Sơn.
Thành
Xô mùa xuân 2014
Võ Quang Yến
(*)
Trừ ba tấm đầu, tất cả những
ảnh chụp năm 1989 tại Nhà Việt
Nam ở Paris nằm trong cuốn album chọn lọc
tôi tặng nhạc sĩ ngày anh lên
đường về nước. Nhiều tấm
đã được các báo trong nước
trích ra phổ biến và quên đề
tên tác giả !
Nguồn:
Bài đã đăng trên tập san Huế
Xưa và Nay số 121
(1-2 /2014), đây là bản tác giả gửi Diễn Đàn, có sửa
chữa và bổ
sung