Trò chuyện với nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân sau khi ông lãnh giải nghiên cứu của Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh ngày 24.3.2015
"Dường như độc lập, độc đảm là đặc điểm nổi bật của Phạm Hoàng Quân. Hầu như hoàn toàn tự học, chẳng có bao nhiêu bằng cấp, nhưng ông nắm chắc, am hiểu sâu sắc cổ ngữ Hán Nôm để có thể bao quát được nhiều sử liệu Trung Quốc, dùng chính lời của họ, sử liệu của họ để bẻ gãy ngụy luận của họ; lại đọc rộng trong tất cả các nguồn tư liệu khác, chăm chú nghiên cứu các công trình của những người đi trước; kết hợp với những chuyến tự mình khảo sát thực địa ở hầu khắp các tỉnh ven biển miền Trung, Phạm Hoàng Quân đã hoàn tất công trình “Hoàng Sa – Trường Sa – Nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc” dày gần 400 trang, gồm 14 bài nghiên cứu công phu, nghiêm túc, khách quan, chặt chẽ, sắc bén, có thể đưa ra đối thoại, tranh luận trên các diễn đàn quốc tế, “từ phân tích tổng quan đến khảo cứu những sử liệu tiêu biểu trong chính sử, phương chí, địa đồ… chứng minh rằng từ thời nhà Hán đến thời nhà Thanh Trung Quốc chưa từng quản lý và xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và vùng Biển Đông Việt Nam”, nhà văn Nguyên Ngọc đã giới thiệu về nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, người vừa nhận được Giải Nghiên cứu vì những công trình nghiên cứu xuất sắc về Biển Đông Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 8- 2015.
PV Ngân Hà
đã có cuộc trò chuyện ngắn
với nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân ngay sau khi nhận
giải ngày 24.3.2015
* Thưa ông,
động cơ nào đã đưa ông
đến với đề tài Biển Đông?
- Đề tài mà tôi nghiên cứu không phổ quát mà là chuyên ngành hẹp, người đọc nó cũng hiếm. Có thể nói rõ ràng thế này, việc mà tôi đã làm xuất phát từ khi tôi nhận thấy những việc mà Trung Quốc họ làm càng ngày càng quá đáng. Nhưng khi ngồi trước một mẩu sử liệu thì tôi phải quên cái cảm xúc đó đi mà chỉ vì tính khoa học của nó. Nước mình đúng thì mình mới bảo vệ, còn nước mình sai thì mình cũng không thể nói bậy được. Làm gì cũng phải trên nguyên tắc khoa học.
Còn nói
về động cơ mà tôi nghiên cứu
bắt đầu là do tò mò, tôi
muốn coi sử liệu Trung Quốc như thế
nào. Có đúng với họ tuyên
truyền hay không. Thật ra nếu mà người
ta tinh ý, sẽ thấy tôi tìm bằng
chứng trước nhất rằng Hoàng Sa-
Trường Sa không phải của Trung Quốc.
Nhưng nó không phải của Trung Quốc
rất khác xa với việc khẳng định
nó là của Việt Nam. Vì có thể
là của nhiều nước khác. Mà
mình cũng không thể nói của mình
hoài được nếu mình không
vững về sử liệu.
* Có lần
ông nói Việt Nam không có tư
liệu gì về Trường Sa?
- Sử liệu của mình chắc chắn nhất là Hoàng Sa, tức là triều Nguyễn của mình đã từng ra đó, có người dân ra đó ở, có thủy quân ra đó đóng. Còn Trường Sa thì chưa chắc, và thực tế là vùng đó ngày xưa, dân của mình không đủ điều kiện, phương tiện để ra đó vì tàu nhỏ, đường xa rất khó đi. Thật ra mình để ý đến TS khoảng thập niên '60. Đầu tiên là các nhà thám hiểm Anh, Bồ Đào Nha, sau là người Pháp chiếm. Nhưng cái đó mình không nói tới, có thể né đi. Nhưng không nói tới khác với anh nói quàng nói xiên.
* Khi biết đến sự thật, anh có nản lòng không? Rồi anh lại phải làm một mình, không ai hỗ trợ?
- Tôi bắt đầu nghiên cứu từ năm 2004. Thật ra tôi không khoái chính trị, tôi học chữ Hán để nghiên cứu nghệ thuật văn hóa Trung Quốc, trước đó tôi viết sách thư pháp. Tôi rẽ qua ngả này vì nhận thấy thực tế không ai đi sâu về nó. Mà cái tật tôi hay coi người ta viết vậy trúng hay trật nên khi có người nào công bố điều gì đó về TQ, tôi tìm sách, tư liệu để xem có chính xác không chứ không theo phong trào. Số đông nói tôi không tin mà chỉ tin vào tư liệu, trực tiếp nhìn văn bản mới tin. Và việc so sánh các dữ liệu thông tin về Biển Đông cũng vì cái máu đó mà đã đưa tôi vào con đường nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và chính xác, giúp tôi tập hợp được nhiều dữ liệu về Biển Đông có lợi cho VN, và công trình được giải Phan Chu Trinh là nhờ quá trình đó. Điều quan trọng nhất của người làm nghiên cứu là phải xem tận mắt tài liệu bằng hết điều kiện có thể có, khả năng mình xem được tới đâu mình phải xem được tới đó. Ví dụ tài liệu của TQ họ nói phần này, phần kia là của họ, mình cũng phải dịch ra cẩn thận để khi mình đọc, có thể có cách để linh động trong lý luận. Trong sử liệu có hai tính cách, một là có lợi cho họ, họ sẽ chọn hết tất cả những cái có lợi để công bố còn bất lợi họ giấu đi. Nhưng mình phải tìm đủ hết để xem cái thuận lợi cho họ có đủ hay không, bất lợi của họ nhiều hay ít. Khi đưa ra, tôi phải đưa đủ, vừa thuận lợi, vừa bất lợi của họ để người ta cân nhắc.
Với môi trường nghiên cứu hiện nay, khi tôi nhận được giải này, có lẽ là do ít người làm điều này thật sự. Vì so với học giả Trung Quốc, tôi chẳng là gì, họ rất giỏi. Mà tôi vẫn được giải có nghĩa là thực tế, học thuật nước mình yếu.
Thật ra, so
với những công bố của TQ, thì
mình thuận lợi hơn do tư liệu của
mình vững chắc hơn. Chỉ có trình
độ nghiên cứu thì mình thua
người ta.
* Anh thấy mình có đáng bị thua về trình độ như vậy không?
- Đáng chớ! Phan Chu Trinh là một người vì dân tộc mà khai minh. Ví dụ như ông có sống đến ngày nay thì lẽ ra việc khai minh này đã lạc hậu lắm rồi. Ngày trước, khai minh để dân tộc phải ý thức rằng mình đang bị lệ thuộc. Ngày nay, không phải vì chuyện đó nữa mà phải tiến tới chuyện làm sao để dung hòa trình độ nghiên cứu của mình với các nước trong khu vực trước chứ chưa nói đến phương Tây, Mỹ. Giờ, chuyện dân tộc không còn quan trọng mà cái chính là mình có được một bộ phận tinh hoa để hòa được với nền học thuật của thế giới mới là điều phải làm. Không có dân tộc nào tất cả đều giỏi mà chỉ một nhóm tinh hoa, nhưng họ thật sự làm được điều gì cho đất nước họ mới quan trọng. Chưa kể môi trường học thuật của mình hiện nay, có người giỏi nhưng chưa chắc ngóc đầu lên được.
* Nói thiệt, lúc anh làm anh có nghĩ đến tinh thần dân tộc gì không?
- Không!
* Vậy giờ anh bị đẩy thành tinh thần dân tộc thì anh nghĩ sao?
- Thì phải chịu thôi chớ sao.
* Vậy giờ anh có làm giống như anh có tinh thần dân tộc không?
- Không. Tôi đã từng nói vui với bạn, tôi tính đi học tiếng Miên để nghiên cứu lịch sử Cao Miên vì nghe nói 18 mẫu xoài của cái ông Trần Quốc Đạt làm vũ khí cho họ được cấp thì nhiều lắm, tôi qua đó làm nghiên cứu cho họ tôi cũng chỉ cần có một mẫu trồng cây, cất căn nhà nhỏ và hàng tháng họ cấp tiền cho tôi đủ sống để làm nghiên cứu, đó là giấc mơ của tôi (cười).
Như tôi đã nói, điều kiện để cho một nền học thuật nói chung và một cá nhân nói riêng, đầu tiên muốn vận hành phải là tiền. Kế tiếp là trình độ chuyên môn và cuối cùng là hoàn toàn khách quan, nghĩa là sự chính xác là chuẩn mực cao nhất chứ không phải dân tộc hay quyền lợi nào. Tinh thần khách quan là không thiên vị. Ba yếu tố trên, theo tôi cũng là tiền đồ của nền nghiên cứu học thuật nước nhà. Giả sử như anh muốn nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề gì, anh phải đầu tư tiền cho một nhóm chuyên gia có trình độ, đủ đẳng cấp về lĩnh vực đó và tôn trọng tính khoa học là tuyệt đối.
* Tại sao từ mê văn hóa nghệ thuật chuyển sang làm nghiên cứu khoa học?
- Thật ra, từ nhỏ đã thích vẽ vời, và mê văn hóa Trung Hoa. Sau đó việc tôi học chữ Hán là vì để đọc và nghiên cứu lịch sử văn hóa nghệ thuật của họ. Thời điểm này tôi đã xuất bản tập Lịch sử Hội họa và Thư pháp Hoa kiều Sài Gòn- Chợ Lớn. Tiếp theo đó Trung tâm Di sản Hoa kiều ở Singapore cũng xuất bản một tập khác về Nhân vật chí Văn hóa ở Chợ Lớn.
* Hồi đó ở Sài Gòn nghe nói anh sống chật vật, về quê rồi, chất lượng cuộc sống ở đây chắc hơn hẳn Sài Gòn?
- Tốt hơn chút, ít nhất là không phải chạy tiền đóng tiền nhà. Không bị căng thẳng bởi chuyện đó mà tập trung làm việc. Tôi nói vậy thôi chứ rất bực khi bị người khác "cám cảnh" bởi mình cực khổ gì đó.
* Bây giờ anh còn vẽ nữa không?
- Không. Vì vẽ cần phải có không gian, mà tôi nhà chật, bày ra dọn mất công lắm. Tôi cũng đâu có thời giờ đâu, dành thời giờ để đọc sách. Chưa kể thỉnh thoảng có người nhờ hiệu đính sách, nể quá cũng nhận nhưng mất thời gian lắm. Đọc một cuốn sách của người khá giỏi thì cũng đỡ, chứ gặp trúng mấy em sinh viên mới ra trường thì mất cả tháng. Nhưng thời gian gần đây tôi tập trung vào bộ sách Trường Sa - Hoàng Sa nên không làm bất kỳ cuốn nào khác. Mà mới có cuốn đầu thôi, còn một cuốn nữa mới toàn vẹn phần nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc. Sau đó là làm cuốn từ sử liệu VN. Các bản dịch liên quan đến TS-HS trước giờ không có chính xác mà không ai hiệu đính, người này nghiên cứu sau người trước cứ dẫn tới dẫn lui cái sai đó hoài mà không ai chịu kiểm tra kỹ. Tôi cũng đang làm một cuốn hiệu đính lại cho cẩn thận, chuẩn xác. Cuốn này cũng khoảng mấy trăm trang.
* Xứ miền Nam từ trước đến nay, người nghiên cứu chuyên sâu như anh có ai không?
- Sao tôi biết được. Có thể có những người học rộng, tạo dấu ấn đặc biệt đối với cuộc đời viết sách của họ. Nhưng đi sâu sắc một việc, tới nơi tới chốn trong việc nghiên cứu thì chưa có ai. Hiện nay đương nhiên cũng không có. Tôi chắc một mình một chợ. Mấu chốt của tôi nói thiệt là tôi cũng có chút háo thắng. Tôi làm việc này vì ganh đua với học giả Trung Quốc. Họ làm cũng ghê quá nên mình cũng muốn làm để họ thấy học thuật VN cũng tám - mười với họ chứ không phải là một - mười như hồi giờ họ nghĩ. Trước giờ họ coi thường VN lắm, không để ý tới. Thậm chí trong những nghiên cứu trong khu vực họ không nói tới VN nữa, họ coi như không đáng kể. Những cái đó mình không biết, mình tưởng họ cũng một nước, mình cũng một nước nên mình bằng họ. Thành ra bây giờ mình tính chuyện VN 40 năm sau mình sẽ là cỡ nào so với mặt bằng khu vực. Giờ lo mà tính. Mảng của tôi, nếu bây giờ làm những điều này, điều này thì 40 năm sau mới có, còn nếu không làm thì coi như... trắng tay luôn. Tất nhiên tôi nói trên cơ sở cần phải tổng kết 100 năm qua, sử học VN đã được và không được gì, rồi sau đó mới tính được. Mình cũng phải đặt giả thiết mình phải bắt đầu làm gì, triệt để cải cách thế nào mới có tương lai được. Tôi nghĩ cái gì hư rồi thì phải bỏ đi làm lại chứ không sửa được nữa.
* Theo kinh nghiệm, thì một sinh viên bắt đầu cuộc đời nghiên cứu mà lại theo ngành hẹp như ông, sẽ nên thế nào?
- Nói không được. Tôi chỉ thấy bắt đầu từ sự tò mò, say mê thôi, chứ xúi bậy lỡ sau này họ nghèo họ lại trách mình. Làm công việc này, chỉ nói trong nghề, phải hội đủ nhiều yếu tố. Riêng trong vấn đề nghiệp vụ, đầu tiên họ phải giỏi ngôn ngữ để làm phương tiện làm việc như riêng chữ Hán phải giỏi cả Hán cổ lẫn hiện đại để đọc đối chiếu văn bản xưa và nay. Phải giỏi cả Văn Việt để dịch tiếng Việt tốt vì có nhiều người rất giỏi tiếng Trung nhưng dịch tiếng Việt đọc không được. Rồi giỏi về Phương pháp nghiên cứu, cái này còn khó dạy nữa. Chưa kể nước mình đang gặp khó chuyện này. Hiện giờ mình đang ứng dụng phương pháp của Tây, trong khi sử liệu cổ thì không hợp. Hay nhứt là mình nên học phương pháp mà Trung Quốc họ giác ngộ thời Lương Khải Siêu. Tức là ông lấy phương pháp của Tây chuyển đổi sao cho phù hợp và làm thành phương pháp nghiên cứu riêng cho Trung Quốc, mà mình vắng đoạn này. Mình từ nghiên cứu cổ điển chuyển sang hẳn phương Tây, bỏ mất giai đoạn chuyển tiếp này cho nên hụt hẫng. Những người nghiên cứu sau cứ ứng dụng phương pháp của Nga hoặc của Tây để nghiên cứu sử Việt, không phải là nó không hay mà nó không thích hợp. Còn tôi, tôi tự làm cho thích hợp được là do có một lúc tôi đọc rất nhiều giai đoạn mà Trung Quốc họ "mở mắt", học giả thời đầu Dân Quốc tiếp cận văn minh phương Tây và nghiên cứu về chính họ với thế giới đang khác biệt ra sao. Tôi thấy rất hợp lý.
* Ngoài việc phải đích thân đi Trung Quốc hay Singapore để mua sách nghiên cứu thì anh chắc phải lấy thêm nhiều nguồn trên internet?
- Có đi Campuchia nữa. Sách ngoại văn của họ còn nhiều hơn mình, đừng có coi thường họ. Nhà sách ngoại văn của Campuchia ở PhnomPenh rộng rãi, thênh thang, trưng bày rất khoa học, sách ngoại văn mà dành cho nghiên cứu nhiều gấp 10 lần nhà sách ngoại văn ở Sài Gòn. Tôi không biết ai đọc, lúc đầu nghĩ chắc là người nước ngoài đến đây. Nhưng ngay sau đó tôi nghĩ: "Thôi rồi, VN vài năm nữa tụt ở lại, chắc cũng xa". Chính việc ai và sách ngoại văn nào được bán ở đây cũng phản ảnh nền học thuật.
Tôi cũng là người có được nhiều cơ hội tốt. Đúng ra tôi đâu có giàu nhưng được bạn bè yểm trợ đầu này đầu nọ nên cũng giúp tôi có điều kiện để làm việc. Nhứt là có tiền để mua sách, vì không có tài liệu không thể nghiên cứu sâu sắc được. Nó giống như nhà kinh doanh phải có vốn, còn cái khéo trong kinh doanh thì tùy thuộc vào tay nghề. Cuối cùng, nói thật nếu tôi làm đề tài khác, chưa chắc được mọi người hỗ trợ như Biển Đông vì đó là vấn đề ai cũng quan tâm và thiết thực với đời sống thời sự.
* Sắp tới anh tiếp tục công việc của mình là một dự án mới?
- Tôi đang muốn dịch bộ sách của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp về nghiên cứu Đông Dương. Nhưng phải là một nhóm làm. Vừa rồi anh Giáp Văn Dương báo với tôi đã có thêm hai dịch giả, một tiếng Trung , một tiếng Pháp sẽ tham gia. Ở Sài Gòn cũng có khoảng 3 người nữa. Bộ sách lớn nên cần nhiều người.
Người phương Tây lấy sử liệu Trung Hoa để nghiên cứu về phương Đông rồi dịch ra tiếng Tây. Tới giờ, người biết tiếng Tây muốn dịch ra tiếng Việt nhưng không chính xác. Dịch ngược trở lại còn sai biệt nhiều hơn. Tôi lấy bộ mà TQ họ đã phục nguyên lại, sử liệu thì họ giữ nguyên, chỉ có lời bàn của người Tây thì họ dịch qua tiếng Trung. Trong một bài, có một phần ba, phần tư là lời bàn của người Tây. Nếu kết hợp cả hai ngôn ngữ thì bộ sách này mới chuẩn. Thật ra, văn nghiên cứu dễ dịch hơn văn chương, chỉ cần chính xác.
* Vậy bộ sách này có ý nghĩa như thế nào trong việc nghiên cứu sử học VN?
- Viễn Đông bác cổ là một Viện của Pháp đặt ở vùng Đông Dương để nghiên cứu các nước Đông Dương và chung quanh Đông Dương, như: VN, Campuchia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc... Quan hệ của những nước này thời đó. Tất nhiên, họ phải lấy sử liệu Trung Quốc dịch sang là bởi vì từ thế kỷ 3, 4 chẳng hạn, họ không thể có. Nhưng phương pháp nghiên cứu của họ hay cho nên người Trung Quốc sau này cũng dịch lại một số lời bàn. Sở dĩ tôi tiếp cận được bộ sách này là do tôi đi Trung Quốc tìm tài liệu và thấy chứ tôi không quan tâm lắm đến sách của người phương Tây. Lúc đầu bộ sách này tôi thấy có nhiều mảng liên quan đến Biển Đông nên tôi thực hiện dịch một số tài liệu phục vụ cho công việc của tôi. Sau có thời gian tôi đọc rộng ra thêm thấy hay quá nên có chủ ý nếu được thì làm bộ này. Chẳng hạn có một người Pháp nghiên cứu tuyến đường hàng hải từ Trung Quốc băng qua các nước Đông Nam Á như thế nào, những quan hệ về bang giao chính trị ngày xưa... đều có liên quan đến Biển Đông. Bản tiếng Trung khoảng 100 bài nghiên cứu và sách. Có những bài nghiên cứu của họ bảy tám chục trang, nếu dịch thì thành cuốn sách, có chú giải khoảng 400 trang. Lúc đầu tôi định có thể nếu cái nào có liên quan đến VN hay những gì mình cần thì dịch trước, nếu có nhiều người thì làm toàn bộ.
* Xem ra ngày dài tháng rộng của anh cũng chẳng có bao nhiêu vì tràn ngập công việc. Thời gian nào anh dành cho gia đình?
- Tôi ở đây nhà không chớ có đi đâu. Vợ tôi làm giáo viên đi dạy rồi lo cơm nước. Con trai cũng đi học bình thường, khi nào có cần gì thì nó hỏi bài.
* Anh có dạy chữ Hán cho con trai không?
- Có chớ, nhưng nó còn nhỏ, ham chơi, học cũng chưa nhiều. Tôi cũng không vội. Giờ nó đang lớp tiểu học, để nói chơi. Tôi thấy nó cũng thích đọc sách. Ở nhà quê đời sống đơn giản nên có thể chủ động để sống cho chất lượng.
* Cám ơn anh vì cuộc trao đổi thú vị này.
Ngân Hà
(thực hiện)
Nguồn:
Bài đã đăng báo Thế
giới tiếp thị, bản do tác giả gửi Diễn Đàn