Vũ Đình Phòng
Ông có họ với tôi, về bên ngoại (phía cụ bà tôi – họ
Chu, chứ không phải phía mẹ tôi – họ Ngô). Chẳng là ông nội tôi là
con rể của Cụ Nghè Nếnh (tên nôm của làng Mật Ninh, tổng Sen Hồ,
Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Thuở tôi còn rất nhỏ, ông nội tôi
rất mến tôi, và thấy tôi là đứa trẻ dễ bảo nên giỗ Tết, mỗi khi sang
quê ngoại của ông, ông nội tôi thường bảo tôi đi cùng, vừa mang đồ
đạc cho ông, vừa trò chuyện dọc đường. Làng Mật Ninh cách làng tôi
(Đáp Cầu) chừng bẩy tám cây số, chỉ cần đi bộ. Tôi còn nhớ lờ mờ,
dinh cơ Cụ Nghè là một nhà ngói ba gian hai trái, giống như mọi gia
đình khác trong làng, có sân lát gạch Bát Tràng rất rộng, một hàng
cau và một bể nước có hòn non bộ, và dẫy nhà ngang rất dài là nơi Cụ
bà nuôi tằm. Sang đấy tôi hay được cho ăn món nhộng rang béo ngậy.
Nhìn chung là một cuộc sống đạm bạc.
Ông nội tôi kể chuyện, Cụ Nghè hay chữ nên đặt tên con cái rất có ý
nghĩa. Con gái thì tên một loại hoa: Đào, Sen, Cúc… Con Trai thì đặt
theo tên một loài điểu (chim): Phượng, Nhạn, Bằng… Tôi còn rất nhỏ
nên chỉ nhớ nhà ngang có những khung bằng tre để đặt những nong tằm,
kê sát vách các bức tường.
Thế rồi mãi đến năm 13 tuổi, tôi mới gặp một chuyện để lại ấn tượng
cho tôi đến tận bây giờ. Lúc ấy tôi học năm thứ hai trường Chu Văn
An, đóng tại địa điểm của trường Felix Faure, trường của con gái
Pháp cũ, trên đường phố Trần Phú bây giờ (au là Đại sứ quán Liên
Xô). Để ờ gần trường, tôi đến ở nhà ông Ngô Thế Tiếu, em trai út của
bà nội tôi, ở số 44 Hàng Đẫy (bây giờ là Phố Nguyễn Thái Học) cạnh
Trường Phan Chu Trinh lúc ấy là Trường Trung học có uy tín bậc nhất
vì do Tổng bộ Việt Minh đỡ đầu. Học sinh Trường hầu hết là con cán
bộ mặt trận hoặc có cảm tình đặc biệt với Mặt Trận Việt Minh.
Nhà ông Tiếu là một biệt thự kiểu Pháp (villa), xung
quanh là sân và vườn hoa, trước 1946 cho một gia đình người Pháp
thuê, nhưng sau Đảo chính Nhật (9-3-1945) họ trả lại nhà để về nước.
Bên cạnh cũng là một villa giống hệt, xây kiểu đối xứng, là sở hữu
của một ông bác tôi (anh con chú con bác của mẹ tôi), tên là Ngô Thế
Loan, hồi Kháng chiến chống Pháp đã có thời làm Chủ tịch Ủy Ban Hành
Chính – Kháng Chiến tỉnh Bắc Ninh. Ngôi biệt thự này hình như bác đã
cho con gái bác là Ngô Thị Phụng, làm hồi môn khi lấy chồng. Chồng
chị là anh Thuần, bác sĩ (nghe nói về sau có một thời gian anh làm
Giám đốc Y tế Sài Gòn). Sau này tôi mới biết nhà khảo cứu Thụy Khuê,
người phụ nữ có nhiều công trình rất nổi tiếng, chính là con dâu của
hai anh chị. Lần Thụy Khuê nhờ người đem đến tôi một cuộn tài liệu,
kèm một lá thư, tôi chưa biết chị lại có quan hệ thân thuộc. Tôi rất
ngạc nhiên thấy trong thư chị viết “Bây giờ cháu cũng đi theo con
đường của chú. Cháu biết chú rất thân với bà Hoàng Xuân Sính, chú
vui lòng chuyển cuộn giấy này cho bà ấy, Chú chuyển tận tay giúp
cháu. Ký tên Thụy Khuê”. Mãi sau này tôi mới biết thì ra chị là
con dâu anh Thuần và chị Phụng của tôi, mà năm 1946 tôi ở cạnh nhà.
Vị trí nhà tôi ở bấy giờ khá đặc biệt: bên cạnh, số nhà 42, là
Trường Phan Chu Trinh do Mặt trận Việt Minh đỡ đầu, đối diện bên kia
đường phố là trụ sở của Trung Ương VN Quốc Dân Đảng (nhà này sau
1954 là Trường Nghệ thuật Hà Nội. Vì Hà Nội lúc ấy nhiều đảng phái
và luôn có sự tranh chấp, địa điểm nhà tôi ở lại như thế, rồi đường
phố luôn náo động: sáng thì thanh niên nam nữ lũ lượt vừa chạy vừa
hát “Khỏe vì nước, kiến thiết quốc gia…” để ra sân vận động
SEPTO ở gần cuối phố, ban ngày thì thường xuyên có những đám biểu
tình của các phe phái vừa đi vừa hát và hô khẩu hiệu, nên tuy bận
học tôi cũng quan tâm đôi chút đến những vấn đề về chính trị.
Sáng sáng bên Trụ sở T.Ư. Quốc Dân Đảng có nghi lễ
kéo cờ Đảng của họ. Báo VIỆT NAM của họ và báo CỜ GIẢI PHÓNG của Mặt
trận Việt Minh được các gia đình mua, có gia đình mua cả hai. Họ
hàng tôi lại có hai nhân vật đối lập nhau về chính trị. Ông Hoàng
Quốc Việt, Chủ tịch Tổng bộ Việt Minh, tên khai sinh là Hạ Bá Cang,
cũng người làng tôi và có mối liên hệ thân thuộc với gia đình tôi,
rồi đến ông Chu Bá Phượng, “ông trẻ” tôi, lại là Ủy viên Trung U&ơng
Quốc Dân Đảng.
Thỉnh thoảng tình cớ nhìn sang bên kia đường phố, tôi
thấy xe ô tô chở ông Phượng đến, nhưng tôi chưa giáp mặt ông lần
nào. Đọc báo tôi cũng biết khi Chính phủ Liên hiệp ra mắt ở Nhà Hát
Lớn, thì ông Phượng cũng là thành viên và là Bộ trưởng Kinh tế…
Trước kia tôi còn nhỏ và ông Phượng lại đi “hoạt động” (nghe nói “ở
hải ngoại” nên tôi không biết mặt ông, chỉ nhớ có mỗi một lần sang
Mật Ninh, ông nội tôi trỏ một người còn trẻ, gầy và mặc áo dài đen:
“Ông trẻ Phượng đấy! Cháu chào ông trẻ đi”. Rồi ông tôi kể ông
Phượng rất chăm học, người đầu tiên ở nước ta nhận bằng cử nhân khoa
học từ bên Pháp gửi sang đấy…”
Phải đến năm 1945 tôi mới nhìn thấy ông thật sự. Vì cha tôi thỉnh
thoảng ở quê (Đáp Cầu) sang Hà Nội thăm hai con trai (anh tôi cũng
học Chu Văn An, trên tôi 4 lớp)… Hôm ấy ba cha con đang đi dạo trên
vỉa hè Phố Hàng Bông, thì một chiếc xe hơi khá sang tạt vào sát vỉa
hè rồi đỗ lại. Một tiếng gọi từ trong xe ra: ”Anh Vân !” và một cái
đầu ló ra. Cha tôi nhận ra người trong xe, mừng rỡ đáp “Chú Phượng!
Chú mới ở Fontainebleau về ạ?”
Hai người ngang tuổi, nhưng tính theo họ hàng, cha
tôi phải gọi ông ấy bằng “chú”. Ông Phượng vẫn ngồi trong xe, chỉ
thò đầu ra, nói: “Tôi mới về chưa đươc bao lâu, bận quá, chưa về quê
được. Anh có gặp ai thì cho tôi gửi lời chào hộ nhé.”
Lúc ấy vừa xảy ra vụ Ôn Như Hầu, được báo chí đưa
nhiều tin tức khiến dư luận rất phẫn nộ. Cha tôi tuy không tham gia
chính trị nhưng đọc báo thấy, cũng phẫn nộ. Người hỏi “móc máy”: “Chú
đã nghe tin về vụ Ôn Như Hầu rồi chứ ạ ?” Nghe đến mấy chữ ấy,
mặt ông Phượng tối xầm lại: “Khi một Đảng chính trị thất thế thì
nhục thế đấy. Thiếu người phải nhận những đứa du côn. Không có tiền
trả lương chúng, đành phải để chúng làm bậy. Làm chính trị nhiều lúc
cay đắng thế đấy. Thôi, nhìn thấy ba cha con thì đứng lại chào thế
thôi. Nếu gặp ai, anh nhớ chuyển lời chào hộ tôi nhé. Nói mấy hôm
nữa công việc vãn vãn một chút, tôi sẽ đến thăm các ông các bà ấy.”
Nói xong xe quặt ra mặt phố, lao đi…
Hôm ấy, tôi mới được nhìn rõ mặt ông Phượng. Ông rất gầy…Và mặc dù
ăn mặc lịch sự ông cũng rất “thư sinh”,.
Thế rồi bẵng đi nhiều năm, tôi chỉ được nghe một số
tin đồn về ông: nào ông bị quản thúc trên Hà Giang, nào ông nhận dạy
môn Vạn Vật *bây giờ hình như gọi là môn Sinh vật) cho một trường
Trung học gần “trại”…
Rồi một sự kiện rất ngẫu nhiên xảy ra vào khoảng năm
1968-69. Lúc ấy hai vợ chồng tôi sống trong một phòng nhỏ trong dẫy
nhà đang xây dở dang, trong Khu Nhà hát Nhân dân (khu đấu xảo ngày
xưa ở số nhà 91 Trần Hưng Đạo, sau này khu ấy bị giải tỏa, phá đi để
xây Cung Văn hóa Hữu Nghị Việt-Xô, còn bây giờ là Cung Văn hóa Lao
động.) Gia đình tôi trả lại gian nhà đang ở, và được phân một căn hộ
tại khu lắp ghép Trung Tự.)
Khi sự kiện kia xảy ra, tôi mới lập gia đình, chưa có
con.
Sự kiện ấy là thế này:
Nhà hát Nhân dân được tu sửa, cả sàn biểu diễn lẫn
các hàng ghế ngoài trời dành cho khán giả, trước bằng gỗ, nay thay
bằng ghế xi-măng. Trông nom phần kỹ thuật là một kỹ sư xây dựng trẻ,
chỉ trạc tuổi tôi: khoảng trên 30. Nhà tôi chưa có cửa ra vào, tôi
thấy anh kỹ sư mỗi lần đi ngoài sân, qua gian nhà tôi ở, lại liếc
mắt vào trong. Một hôm thấy anh nhìn vào, tôi bèn gọi, mời anh vào
uống nước.
- Cảm ơn anh. Anh nhiều sách quá. Tôi hay ngó vào chỉ
để ngắm cái tủ sách ấy thôi.
- Thì anh cũng vào chơi, uống chén nước.
Anh kỹ sư vào nhưng không ngồi mà chỉ đứng bên tủ
sách, xem.
- Anh muốn đọc cuốn gì cứ lấy.
- Nếu thế thì tốt quá.
Anh nói rồi lấy xuống một cuốn. Tôi đỡ lấy xem, thì
là cuốn CÁCH MẠNG THÁNG TÁM của Kiến Giang, nhà SỰ THẬT xuất bản.
- Xin anh cho mượn cuốn này.
- Được, anh ạ. Cuốn ấy tôi đọc rồi, Anh cứ đọc thoải
mái, hôm nào xong thì trả. Không cần vội.
- Tôi chỉ đọc trong vòng một tuần thôi.
Sáu ngày sau anh đem trả sách. Tôi mời anh ngồi xuống
uống nước. Anh nói:
- Muốn hỏi anh một câu, được không ạ ?
- Anh cứ nói.
Anh lật trang có ảnh chụp Chính phủ Liên hiệp năm
1946 ra mắt trên sân khấu Nhà hát Lớn, có đầy đủ các thành viên.
- Những người này, bây giờ ta đánh giá họ thế nào ?
- Còn tùy người. Vì là “Liên hiệp” nên mỗi người một
khuynh hướng chính trị. Sau này cách chính phủ ta đối xử cũng dựa
theo đấy. Nhưng anh quan tâm đến ông nào trong ấy ?
Anh ta trỏ vào hình ông Chu Bá Phượng.
- Ông này chẳng hạn…
- À, ông Chu Bá Phượng! Bộ trưởng Kinh tế. Hiện nay ở
đâu tôi không biết. Nhưng nhân tiện, ông ấy có họ hàng với tôi đấy.
- Họ hàng thế nào ạ ?
Tôi kể.
Anh kỹ sư chăm chú nghe rồi nói:
- Ra cũng gần đấy nhỉ ? Nếu thế tôi xin nói thật: Tôi
là con rể ông ấy.
Tôi hết sức ngạc nhiên:
- Nếu thế, tất anh phải biết cụ đang ở đâu chứ ?
- Không. Chính phủ cho vợ tôi về Hà Nội, vào học Đại
học Sư Phạm, sau đấy cho một chân dạy ở một trường cấp ba, chu cấp
đầy đủ, lại cấp cho cả một căn hộ ờ Thành Công, thậm chí các ngày
Tết ngày lễ đều có quà, nhưng với một điều kiện: tuyệt đối không
được liên hệ gì với bố. Không được thư từ đã đành, nhưng cũng không
được nhờ ai nhắn miệng gì hết. Tóm gọn lại: phải coi như ông thân
sinh không còn sống trên đời nữa !
Tôi hết sức ngạc nhiên, thầm nghĩ: “Chà, chính trị là
thế đấy!”. Rồi hỏi:
- Nhưng khi hai anh chị tìm hiểu nhau, chị không kể
về ông à?
- Không. Vả lại lúc ấy tôi chưa quan tâm lắm. Chỉ sau
khi cưới, vợ tôi mới kể đầy đủ.
- Và anh chị không dám liên lạc gì với ông ?
- Tất nhiên. Tuyệt đối không.
Sau khi anh kỹ sư, con rể ông Phượng, ra khòi cửa,
tôi không nói chuyện với anh lần nào nữa, và hình như anh cũng tránh
mặt, sợ liên lụy đến tôi. Vài hôm sau, cơ quan yêu cầu chuyển hai vợ
chồng tôi ra ở một gian khác nằm bên ngoài bức tường Nhà hát (nhưng
vẫn trong khuôn viên số nhà 91) bên cạnh nhà của cán bộ nhiều cơ
quan khác. Từ bấy đến nay tôi không gặp lại anh kỹ sư ấy. Sau này cứ
ân hận là đã không hỏi họ tên anh và địa chỉ của hai anh chị… Nhưng
tôi vốn nhát nên dù có biết cũng không dám quan hệ tiếp.
Sau đấy nhiều năm, tình cờ tôi gặp lại một bạn cũ,
hồi Kháng chiến hai đứa cùng một đơn vị trinh sát của Ban Quân báo
Đại đoàn 308, và sau khi xuất ngũ, anh chuyển ngành sang cơ quan an
ninh. Nhân trò chuyện, nói đến ông Phượng, anh bạn tôi kể:
- Chà, nếu đấy là họ hàng cậu, thì mình kể cậu nghe
chuyện này. Năm ngoái mình trong số tháp tùng ông Đồng trong chuyến
đi kinh lý mấy tỉnh biên giới. Hôm đến Hà Giang, xe đang chạy bỗng
thấy một ông già, mặc bộ quần áo chàm bạc phếch, mặt mũi gầy gò, một
chòm râu lưa thưa, từ bụi cây bên đường đi nhanh ra giữa đường, chặn
trước mũi xe Thủ tướng. Xe đỗ lại. Ông già hom hem kia bước đến bên
cừa sổ xe:
- Tôi là Chu Bá Phượng… muốn đề nghị Chính phủ một
viêc. Tôi già lắm rồi, lại đau ốm, đề nghị cho tôi về chết ở quê.
Ông Đồng đáp, đại khái là:
- Chào anh Điều anh đề nghị, riêng tôi nghĩ là
hợp lý, nhưng anh hiểu cho. Việc ấy tôi không đủ thẩm quyền. Vả lại,
chúng ta là những người làm chính trị, đều biết và đã chấp nhận một
sự thật là không phải muốn làm gì cũng được. Nói thế chắc anh hiểu.
Chúc anh giữ được sức khỏe…Rất tiếc, rất tiếc…
Ông già tránh ra và xe lao đi…
Chuyện anh bạn tôi kể chỉ là như thế. Tôi định hỏi
thêm nhưng lại thôi. Vài năm sau, có dịp về quê, chú tôi kể là ông
Phượng đã mất. Gia đình ở Mật Ninh nhận được giấy báo của Công an
cho biết: “Phạm nhân Chu Bá Phượng đã qua đời tại trại giam Hà
Giang…” Trong giấy báo không khi mất ngày nào, nên từ đấy, gia đình
đành coi ngày ký thông báo trên đấy làm ngày giỗ ông ấy hàng năm
vậy.
Câu chuyện này tôi giữ kín trong bụng, chỉ kể với anh
chị em ruột, hôm nay mới viết ra giấy. Sau này tôi có quen và khá
thân với mấy bạn đồng hương, đều biết khá rõ gia đình, họ hàng nhà
tôi: nhà văn TRẦN NINH HỒ (Mật Ninh và Sen Hồ), và nhà văn ĐỖ CHU.
Chu có lần nói vui: tính họ hàng thì anh trên em, chứ nếu anh dưới
em thì đâm khó xưng hô, anh nhì ?”
Nguồn: Viet-studies