NGUYÊN NGỘ
HOÀNG NGỌC VIÊN
Diễn Đàn : Tác giả Hoàng Ngọc Viên, pháp danh Nguyên Ngộ, là phụ thân của nhà văn - hoạ sĩ Hoàng Ngọc Biên. Anh đã có nhã ý cho Diễn Đàn đăng di cảo này của thân phụ trong Giai phẩm Xuân Bính Thân, cũng là để... " làm quà "surprise" cho các em tôi... ". Rất hân hạnh, và xin cám ơn anh.
Tôi đến Diêm Hồ Trấn khoảng gần cuối năm 1991, đến mùa xuân năm nay* là
đã hơn hai năm. Diêm Hồ Trấn là tên không biết ai đã đặt ra cho Salt
Lake City ở tiểu bang Utah nước Mỹ; tôi đọc tên ấy lần đầu trong một bức
thư nhà văn Võ Phiến gửi cho gia đình chúng tôi, và từ đó tôi thích gọi
thành phố này bằng cái tên rất Việt Nam, nhưng lại nghe như tiếng Hoa
ấy. Mấy tháng trước khi lên đường qua Mỹ, tôi thường hay lui tới các
chùa ở Saigon, không phải để cầu nguyện cho chuyến đi được êm xuôi –
bởi vì làm sao tôi có thể cầu nguyện cho cả... chuyến bay – mà
là để gặp gỡ bạn bè, nói chuyện cho thỏa thích. Các bạn tôi
cứ bảo, “Utah là chỗ khí hậu sa mạc, mùa hè đêm nghe nói vẫn
lạnh y như mùa đông, toa qua đó nhớ cố gắng chống chọi...” Và
từ khi đến Diêm Hồ cho tới nay, tôi đã chống chọi, không phải
chỉ với cái lạnh (mà nói xin lỗi, đối với lão ông này, như
tuổi 80 cho phép tôi tự gọi, chẳng hơn gì mấy so với cái lạnh
của những đêm đạp xe trong rừng Việt Bắc của tôi hơn 40 năm
trước đây), mà hơn thế, với cả một nỗi nhớ nhà không thể nào
nói hết được. Thì ra nhà không chỉ có nghĩa là cái chỗ có
bốn bức tường, bên trong những cánh cửa là vợ con, cha mẹ, ông
bà... Với tôi bây giờ, nhà còn là con ngõ sau nhà mà mỗi trưa
tôi có thói quen xách gậy đi rảo một vòng, là cái chỗ bưu
điện quận mà tôi thường ghé lại xem có ai sẵn sàng đem chuyện
thế giới năm châu ra bàn với mình chăng. Nó là những lối mòn
trong rừng mà thời trai trẻ tôi đã từng cong lưng đạp xe đi qua,
có khi đi cả mấy ngày liền, là những túp lều tranh nắng gió
bốn mùa của các mẹ các chị tôi từng ghé qua, lý tưởng đầy
ắp trong cái ba lô mang trên vai; là khoảng sông trên Đập Đá tôi
phải đi qua mỗi ngày để đưa con đến trường, là những hàng hiên
chùa mát lạnh tôi thường ngồi nói chuyện với bạn bè những hôm
theo cha mẹ đi lễ...
Cách nay mấy tháng*, khoảng trước sau kỷ niệm ngày sinh của tôi, tôi nhận được từ Washington D.C. một món quà vô giá: cuốn Danh lam xứ Huế
của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1993, dưới tên sách còn có ghi
chữ tiếng Anh: “The Celebrated Pagodas of Hue”, và tiếng Pháp: “Les
Célèbres Pagodes de Huê”, với rất nhiều hình ảnh. Người gửi
tặng là anh Đỗ Trung Quân của Saigon. Món quà, ngoài cái ý
nghĩa đậm đà hẳn là nhà thơ trẻ muốn gửi gắm qua bên này,
còn làm tôi vô cùng cảm động: nó đã đi qua đây trong hành lý đi
tu nghiệp ĐH Harvard của giáo sư Nguyễn Thiện Tống – một người
Huế. Đường đi nửa vòng trái đất, chịu khó mang một cuốn sách
lớn bìa cứng, hẳn vị tiến sĩ khả ái, như nhà thơ bạn của
ông, cũng muốn gửi đến cho gia đình chúng tôi và những người xa
nhà như chúng tôi một nhắn nhủ nào đó... Chúng tôi đã để lạc
mất số điện thoại của anh Tống, không sao liên lạc được để
cám ơn, nhưng tấm lòng và lời nhắn nhủ không nói ra của anh,
chúng tôi không muốn để lạc mất.
Tôi
đã có một thời thơ ấu và trai trẻ rất đẹp ở Huế. Cảnh chùa
chiền ở phần đất này của quê hương luôn là cái nền của những
ký ức với tôi là quí báu nhất. Đặc biệt hơn cả trong vô số
chùa ở đây, là 28 ngôi chùa đã được xây dựng trong hai thế kỷ
sau này trên lãnh thổ tỉnh Thừa Thiên, phần lớn là chung quanh
thành phố Huế, trên hai bờ sông Hương và quanh vùng núi Ngự –
nằm rải rác xen lẫn với các lăng tẩm của vua chúa. Sau bao
nhiêu đổi thay của lịch sử, của cuộc đời, sau nhiều cuộc cách
mạng “long trời lở đất” trên khắp các nước trên thế giới, gần
một thế kỷ nay, Ôn,
như chúng tôi trong gia đình và các gia đình bạn bè ai nấy đều
gọi vị Trụ trì của chùa Hải Đức, vẫn là người soi đường cho
mọi hành xử, mọi hành động, mọi suy nghĩ của tôi – trong mọi
đoạn đời, kể cả thời chín năm tôi đi theo kháng chiến chống
Pháp. Cái thời theo cha mẹ đi lễ, tôi không hề lưu tâm đến vị
trí của mỗi chùa, đến kiến trúc, chánh điện, nhà tăng, đến
thành phần các Phật... Tôi chỉ biết lạy Phật, lạy thầy, xong
rồi hớn hở tìm nơi thọ trai, hoặc tìm bạn bè cùng lứa lao xao
tán chuyện, trước khi về. Khi lớn lên, mỗi cuối tuần tôi đều
đi lễ, và khi đi cắm trại Hướng đạo trong vùng rừng núi, tôi
lại có dịp “sống” bên các chùa.
Thế
là sau các chùa Kim Quang, Hải Đức của thời thơ ấu, tôi bắt
đầu làm quen với những Từ Hiếu, Quảng Tế, Quốc Ân, Tây Thiên,
Trúc Lâm. Tôi còn nhớ, y như mới xảy ra hôm qua, cuộc họp mặt
Hướng đạo toàn quốc (Bắc, Nam, Trung Việt Nam) diễn ra suốt một
tuần lễ tại vùng chùa Quảng Tế mùa hạ năm 1938. Tôi nhớ lại
những đêm vui đùa tưng bừng ca hát với anh em chung quanh lửa
trại, cảnh đêm tịch mịch cùng anh em ngồi nhìn núi rừng say
ngủ...
Hồi chuông linh tám tiêu phiền não
Thế giới ba ngàn tỉnh sắc không...
Sau
hơn nửa thế kỷ, vẫn còn văng vẳng bên tai tôi bài thơ của Sư
Viên Thành, chùa Trà Am, bài vịnh trăng của Ni sư Diệu Không,
chùa Trúc Lâm, bài thơ họa của Sư Mật Thể...
hay những câu thơ viết về cảnh chùa, trong bài Thiên Mụ Chung Thanh (Tiếng Chuông Thiên Mụ) của vua Thiệu Trị:
Cao cương cổ sát trấn điền xuyên
Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật tích Thánh công thùy hải vũ
Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.
Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật tích Thánh công thùy hải vũ
Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.
Trên bến gò xưa chùa lập ra
Bên trời tự tại mãi Gương Nga
Tiếng ngân trăm tám tan trăm oán
Thế giới ba ngàn giải nợ ba
Chuông động giữa trưa miền tối ám
Kinh gieo canh sớm đạo tăng gia
Truyền công Phật Thánh tràn non nước
Nhân quả ươm lành khắp chốn xa
Bên trời tự tại mãi Gương Nga
Tiếng ngân trăm tám tan trăm oán
Thế giới ba ngàn giải nợ ba
Chuông động giữa trưa miền tối ám
Kinh gieo canh sớm đạo tăng gia
Truyền công Phật Thánh tràn non nước
Nhân quả ươm lành khắp chốn xa
(Thiên Nhất Phương dịch)
Trái, phải. Trên , dưới:
Chùa Kim Quang – Chùa Từ Hiếu – Chùa Quốc Ân – Chùa Thiên Mụ –
Chùa Hải Đức – Chùa Quảng Tế – Chùa Trúc Lâm – Chùa Từ Đàm
Từ
1945, tôi không còn ở Huế nữa. Những chuyến ghé qua ngắn ngủi
của một thời tao loạn không đem lại một hiểu biết hay khám phá
nào đáng kể, cho đến năm 1986, nghĩa là hơn 40 năm sau, khi tôi
trở về bốc mộ cho cha tôi, và được viếng các ngôi chùa của
thời thơ ấu: Thiên Mụ, Diệu Đế, Hồng Khê, Hải Đức, Bà La
Mật...
Ngày
nay, với tôi, trong giai đoạn gần cuối cuộc đời, cảnh chùa –
dù chỉ là trong sách vở thôi – và nhất là chùa Huế, rất
thích hợp với cái tâm an trú cần thiết để đoạn ly. Rất tiếc
là tâm an trú phải luôn tự tại, mà đời sống hiện nay thì cần
vãng lai...
Cuốn
sách tình nghĩa nhà thơ Đỗ Trung Quân gửi tặng không những làm
sống lại trong tôi những đồi thông cao vùng Quảng Tế nằm bên
bờ sông Hương, một mảnh trăng treo lơ lửng trên những lăng tẩm vua
chúa, hình ảnh những nhà sư thâm uyên đạo pháp lặng lẽ di
chuyển trong các khuôn viên chùa, mà còn làm tôi khó bỏ được
một ý nghĩ cố cựu xét ra rất đáng bị phàn nàn: chỗ chính
thức của Phật, hay nói rõ, chỗ chúng ta phải đến nếu muốn
tìm Phật, chính là các chùa Huế !
*Salt Lake City, 1994
Ảnh trái: Niệm Phật ở Chùa Tam Bảo, Utah, Mỹ. Ảnh phải: Một lần tham dự trò chơi lửa trại của Hướng đạo trên núi Bạch Mã – Huế.
Source: DienDan forum : Xuan Binh Than