HOÀNG NGỌC NGUYÊN: “TRĂN TRỞ CUỐI ĐỜI” : “HỒI ỨC GÓP NHẶT TỪ MỘT THỜI ĐÃ MẤT”

 
























Mục Lục:
1. Hồi ức góp nhặt từ một thời đã mất (14,143)
2. Who were we? Who Are We? (7,234)
3. Biên Niên Sử (57,585) 
4. Tiền đề của cuộc xung đột (5.122)
5. Ray rứt chuyện 50 năm trước (3.291)
6. Nửa thế kỷ sau, chúng ta phải trưởng thành hơn (2,816)
7. Chúng ta chẳng có mặt (2,975) 
8. 2011: Ba giáp đã qua đi (7.823)
9. De-Americanization hay Vietnamization? (7,327)  
10. Nghĩ gì, Tính gì (4,508)
11. What ifs (2.765)
12. Giả sử biêt nhau hơn, hiểu nhau hơn (3.440)
13. Xã hội hóa Phật giáo (2.875)
14. Bể khổ dân tộc (2.912)
15. Những câu hỏi day dứt (8.705)
16. Nghiệp chướng nặng nề: sự phân hóa hàng ngũ trong ba thập kỷ chiến tranh (3.041)
17. Một di sản cay đắng (2.847) 
18. Giải pháp liên hiệp vào giờ chót (3.850)
19. Phồn vinh giả tạo, có còn hơn không (1680)
20. The stupid American (2.609)
21. I was never a fan of that war (2.409)
22. Cuộc chiến vô đạo (20.248)
Tồng cộng: 170,262 chữ  








GÓP NHẶT HỒI ỨC TỪ MỘT THỜI ĐÃ MẤT

Đã là một người viết từ cả nửa thế kỷ qua, tôi vẫn luôn luôn tin rằng mình bao giờ cũng có độc giả. Con tim của tôi, trí óc của tôi đã luôn luôn dành cho họ. Độc giả bao giờ cũng có tôi. Nếu không tin rằng mình có độc giả, tôi đã không ngồi cặm cụi trước máy hàng ngày, hàng giờ, mặc dù tôi vẫn phê phán con người thời nay từ nhỏ đến lớn cứ lao vào máy (e-literacy), không đụng đến sách vở phải đọc để nên người (illiteracy). Thích lên mạng cho nên chẳng đọc gì cả và bị nhiễm độc bằng “fake news” của Donald Trump. Còn độc giả hẳn phải nghĩ rằng tôi đã trung thành với những tâm sự ngỗn ngang trăm mối của người tha hương, tha phương cầu thực cho nên vẫn tìm đến với tôi – ít nhất là trong trường hợp của cuốn sách này. Người viết và người đọc cần có nhau, phải có nhau, đó là một khế ước bất thành văn mà hai phía cũng phải cảm nhận, một thứ “mutuality” hay “reciprocity” có tính cách tín ngưỡng. Đó phải là một ý thức cảnh giác thường xuyên của người cầm bút, nhất là một khi về già, ngưòi ta dễ “thoát tục” nhất để chìm trong thế giới ảo tưởng của mình. 
Trong cuộc sống này, không thiếu những ngưòi chỉ có thể tìm được hạnh phúc trong hoang tưởng, sự mộng mị tương đương với mất trí. Cứ nhìn những nhà chính trị đương thời của Mỹ. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, 15-16 người ra tranh cử bên đảng Cộng Hòa trong vòng sơ bộ, số người điên cũng ít nhất một nửa. Đến cuối năm 2015, cũng còn đến 12 người, cho thấy người điên thực khó bảo. Và điều hoang đường nhất lại trở thành sự thực khi người điên nặng nhất hay người nguy hiểm nhất ca bài chiến thắng. Như vậy chẳng riêng gì ông này điên mà cả hàng chục triệu người bỏ phiếu cho hoàng đế cũng có vấn đề tâm thần, bởi vì nay thì ai cũng có thể biết – nhưng không chắc ai cũng biết - suốt cả một cuộc đời hoang đàng của mình, ngay từ hồi còn nhỏ ông đã có chí lớn của cha anh, ông chỉ muốn thử thách không cùng xem khả năng phá hoại của một tổng thống Mỹ có thể đến đâu, không chỉ trong nước mà còn với cả thế giới.  
Trong bầu cử tổng thống năm 2020, đến phiên đảng Dân Chủ lãnh tiếng điên và ngu. Tính đến cuối năm 2019, vẫn có hơn 20 ứng cử viên, cho dù ai cũng biết, người ta chỉ cần một người, và cho ngay thực thì có lẽ chỉ còn tối đa sáu người tranh giành một chiếc ghế: hai bà Elizabeth Warren 70 và Amy Klobuchar 59; hai cụ bô lão Bernie Sanders 77 và Joe Biden 76; và hai người trẻ: Cory Booker 50, Pete Buttigieg 37. Qua những cuộc tranh luận tập thể giữa những ứng cử viên Dân Chủ, những người này lại chứng minh một điều người ta vẫn nói thời nay: sự ngu xuẩn của giới chính trị đúng là vô hạn, không riêng gì chỉ dành cho những người theo đảng Cộng Hòa. Muốn hạ bệ ông Biden đang dẫn đầu trong thăm dò về phía đảng Dân Chủ, những ứng cử viên khác đã tìm cách tấn công ông Biden như một “di sản của Obama” – bất kể những thành tích rõ ràng của ông Obama ít nhất về kinh tế và y tế đại chúng. Khi phê bình những người Cộng Hòa là “bạch chủng kỳ thị”, người Dân Chủ đã để lộ cái máu “kỳ thị có căn” hay kỳ thị định chế (institutional racism) của họ khi chỉ trích Obama - trừ phi họ bị “nhiễm độc”. Và dĩ nhiên ông thống Trump phải hoan hô nhiệt liệt khi ngồi trước TV theo dõi cuộc tranh cãi này.
Thế nhưng nơi những người cầm bút biết rằng sẽ có một ngày không còn xa nữa mình sẽ đến bờ, ngưòi ta không còn mấy ảo tưởng về mình nữa, ít phô trương, khoe khoang, loè loẹt với người ngoài. Thường ngưòi ta viết như tâm sự với chính mình, hay thì thầm chia sẻ tâm sự với người khác. Và có lẽ cũng chẳng cần giữ kẽ.
Tập sách này đúng là những lời tâm sự với chính mình, và cũng là những lời tâm tình với những người cùng chung thế hệ “baby-doom”, tức những người Việt sinh sau năm 1946, người già nhất cũng đã quá tuổi “thất thập cổ lai hi”. Hay với cả những người tuy thuộc thế hệ “trưởng thượng”, tức bảy mươi lăm trở lên, nhưng dễ dàng và sẵn sàng gần gũi và thông cảm với một lớp “hậu bối” gần mình nhất vì một phần nào họ cũng trải qua những đoạn đường của lớp đàn em. Hay hoang tưởng vô hại hơn nữa, đến được với cả một số người – dù chẳng bao nhiêu – trong lớp trẻ sau này tò mò muốn biết một thời, cha anh của mình đã sống như thế nào, đã suy nghĩ như thế nào, xã hội của cha anh thời đó - cái thời lớp trẻ chẳng biết tí gì, như thế nào, và vì sao lớp trước từ nơi đó trôi giạt đến nơi này, và do đó lớp sau có mặt ở đây ngày hôm nay. Nhưng có bao nhiêu người có đủ sự hiếu kỳ “nhân bản” nhưng “vô ích” đó? 
Ở Mỹ, những người được sinh ra sau năm 1945-46 thuộc thế hệ được gọi là “baby boom”. Baby-boom là sự bùng nổ dân số thể hiện nơi con số sinh suất, tức sự gia tăng trong số trẻ được sinh ra hàng năm. Có nghĩa là bất chợt dân số tăng vọt, vì tuổỉ trẻ nay đã thấy có thể nhìn đến tương lai. Năm 1946 đánh dấu sự khởi đầu một giai đoạn hòa bình và thịnh vượng của nước Mỹ - hết Đệ nhị Thế chiến và nước Mỹ xuất hiện trong mắt toàn cầu là cường quốc kinh tế duy nhất – và đương nhiên là số 1, của thế giới. Cho nên người Mỹ mãn nguyện, tự hào, an tâm, và ban đêm rỗi rãnh, chẳng biết làm gì, do đó sẵn sàng hơn lập gia đình và sinh con đẻ cái. Thế hệ baby boom của Mỹ là thế hệ đẻ bọc điều, nổi đình nổi đám nhất trong xã hội - từ trước và đến nay. Họ bao gồm những người sinh từ năm 1946 đến năm 1964. Tại sao người ta chọn năm 1964 để kết thúc thế hệ này? Đó là năm sinh suất bắt đầu đi xuống. Có lẽ đó là năm người Mỹ bắt đầu suy nghĩ lại và không còn ham sinh đẻ nhiều nữa. Đó là năm nước Mỹ bắt đầu lún vào “vũng lầy của chúng ta” (sau đó tác giả nổi tiếng, nhà báo David Halberstam, lấy càm hứng từ bài hát của Lê Uyên Phương mà viết nên cuốn “The making of a quagmire”). 
Người Mỹ cuối năm 1945 hào hứng vì thấy hòa bình tái lập, chiến tranh chấm dứt với sự tỏa sáng những giá trị văn hóa nhân bản của nước Mỹ trên toàn cầu, xác lập vai trò lãnh đạo Thế giới Tự do của Mỹ. Nhưng dần dần người ta thất vọng, hiểu ra rằng sự vĩ đại của con người cũng không bằng sự ngu xuẩn, điên rồ, qua những cuộc khủng hoảng mà cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài gần bốn thập niên rưỡi đã tạo ra (1945-1990), từ chiến dịch phong tỏa Bá Linh (1948) đến “Ngôi sao đỏ trùm trên Trung Quốc” năm 1949 (Red Star Over China – Edgar Snow); từ cuộc nội chiến trên bán đảo Triều Tiên (1950-53) đến vụ Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) năm 1961 và cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba năm sau đó; và cuối cùng giọt nước tràn ly chính là cuộc chiến tranh Việt Nam (1960-75). Một lý do khác nữa khiến cho người ta nghĩ lại mà chấm dứt baby boom. Đây là thế hệ đặc biệt ăn nên làm ra nhờ kinh tế Mỹ phất thêm một lần nữa, từ đó ngưòi ta bắt đầu nghĩ đến chuyện thay đổi “ý thức hệ”. Người ta sống cho bản thân nhiều hơn sống cho “tha nhân”, cho nên chẳng những bớt tính chuyện lập gia đình, bớt sinh con đẻ cái, mà còn nâng cao tỷ lệ ly dị trong xã hội. Người Mỹ hiện sinh lúc nào, không ai nói, không ai hay. Nhưng nhìn một cá ch nào đó, baby-boomers đúng là những người đi theo Jean Paul Sartre. Và nay thế hệ baby-boom này đang phải trả giá khi lớp tiền phong của thế hệ này từ năm 2011 đã đi vào tuổi 65: họ cảm thấy cô quạnh buồn bã, sợ hãi nhiều hơn so với những thế hệ trước. Một mặt không có vợ hay chồng và con, dù chỉ là một đứa, chung quanh; mặt khác, nhà nước phúc lợi đang ngày càng miễn cưỡng (một tác giả, giáo sư Bruce S. Jansson thuộc Đại học Southern California, gọi là “reluctant welfare state”) và thực sự lo lắng trước những làn sóng baby-boom đang đổ vào medicare: làm sao đây cho có đủ tiền An sinh Xã hội (Social Security), tiền già (SSI), đủ thầy, đù thuốc, đù nursing homes, đủ hospices, về lâu, về dài? Tiền thì chỉ tăng theo cấp số cộng khi chính phủ ngày càng nợ nần chồng chất (người ta nói là White House burning), ngân sách thiếu hụt, còn người cao niên thì vọt tăng theo cấp số nhân! Người ta bắt đầu có ít nhiều ý niệm về nạn nhân mãn nơi… người già! Một xã hội mà dân số đi làm chỉ hơn dân số cao niên chưa đến hai lần, thì làm sao đây lo cho lớp trẻ lớn lên?
Tôi sinh năm “Biến Tuất” (ông cố tôi tên là Hoàng Hữu Bính, ngay từ thời còn ở “ngoài” Quảng Trị, mẹ tôi vẫn cứ nhắc nhở con cái phải biết “kiêng” tên tồ tiên của bên nội, bên ngoại, cho nên có khi nói chuyện, người ngoài nghe chẳng hiểu gì cả), tức phải thuộc thế hệ baby-boom của Mỹ. Nhưng tôi rất ngượng ngùng khi nói với người Mỹ mình cũng thuộc thế hệ baby-boom như họ. Vì thế hệ đó là thế hệ của người Mỹ, một thế hệ ăn sung mặc sướng mà tôi chẳng thể biết tới để nhận vơ. Ngưòi Việt chúng ta trước năm 1975 chưa hề có, không thể có, thế hệ baby-boom, và chúng tôi lại càng chẳng phải là thế hệ baby-boom, mặc dù sinh ra trong thời gian đó. Sau thế chiến, chúng ta có ngay cuộc kháng chiến chống Pháp 8-9 năm. Thay vì baby-boom, thế hệ của chúng tôi đúng là “baby-doom”. Con nít sinh ra không nổi! Trong khi người Mỹ đang hào hứng với sự kết thúc của Đệ nhị Thế Chiến, nước Mỹ trở thành đại cường duy nhất có bom nguyên tử, người Việt chúng ta đang nằm chết đầy đường vì nạn đói năm Ất Dậu, còn bụng dạ nào mà lên giường baby-boom. Trung Quốc cứ đòi mãi Nhật Bản phải xin lỗi về tội ác chiến tranh đối với người dân Tàu trong cả hai kỳ thế chiến, cho dù Nhật Bản cứ nhất quyết giả lơ vì sợ người ta đòi bồi thường. Có cái lạ là Hà Nội thình thoảng cũng nói đến “tội ác của đế quốc Mỹ” trong chiến tranh Việt Nam (cho dù chẳng dám nói đến chuyện đòi bồi thường nữa vì sợ ảnh hưởng đến việc rửa tiền, thu hút Việt kiều “yêu nước”, và đưa người qua Mỹ), nhưng chẳng ai nhắc đến tội ác của phát xít Nhật đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu mà người ta nói đã làm chết “cả triệu người”. Có lẽ từ hơn 20 năm qua, Nhật đã cho viện trợ ODA (viện trợ phát triển hải ngoại, một loại tín dụng lãi suất thấp để cho các công ty Nhật dễ làm ăn ở nước ngoài) để giúp phát triển cơ sở hạ tầng nhiều quá. Trong năm 1945, ngưòi chết như rạ, làm sao có được bùng nổ dân số. Cuộc chiến Đông Dương thứ nhất (1946-54) kéo dài gần một thập niên. Bao nhiêu gia đình ly tán, bao nhiêu người nằm xuống, trên chiến trận ác liệt ở miền bắc hay tại các làng mạc khắp nước trong những đợt lính lê dương càn quét, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá nhà cửa, làm sao dân số gia tăng được!
Thế hệ “Bính Tuất” (tạm gọi như thế) là một thế hệ bạc phước, không ngóc đầu lên được, và tôi chẳng khó khăn gì tìm ra chữ “baby-doom” cho thế hệ của mình. Đó là điều rất dễ hiểu nếu người ta chịu khó nhìn vào quá khứ sâu thẳm thay vì quanh quẩn những chuyện trong tầm mắt. Hay nhắm mắt lại như người già bị glaucoma. Có thể tôi bị ám ảnh quá nhiều từ thời thơ ấu của mình. Trong những năm giặc giã mà những người viết sử không thể thống nhất cách đặt tên cho cuộc chiến đó (kháng chiến chống thực dân Pháp của người yêu nước cũng đúng, cuộc chiến của lực lượng Việt Minh Cộng Sản chống Pháp cũng chẳng sai, nhưng đương nhiên người Việt viết sử có con tim khối óc phải nói rõ sự hình thành của Việt Minh và người ta đã lợi dụng phong trào này như thế nào), có bao nhiêu trẻ thơ có đủ cha đủ mẹ kề bên, đủ tả lót, đủ áo quần, đủ nón len trên đầu, tất dưới chân, đủ sửa hay đủ cháo, có chăn có chiếu, có giường có nôi… khi ông bà cha mẹ hay anh chị chỉ có khoai sắn qua ngày? Bao nhiêu trẻ có được mái che trên đầu trong hai mùa mưa nắng hay phải tất tả theo mẹ theo cha chạy giặc? Bao nhiêu trẻ biết được lớp mẫu giáo hay vườn trẻ? Và bao nhiêu trẻ đêm đêm không phải sống trong cảnh tối tăm sợ hãi, nghe vần vũ trên trời tiếng máy bay đe dọa, từ xa xa vọng về tiếng đại bác, tiếng súng nổ. Trong bối cảnh lịch sử của một thời thơ ấu như thế cách đây hơn 60 năm, những câu hỏi đó nghe thật viễn vông. Nhưng khi nhìn lại cuộc sống chung quanh hiện nay, những hồi tưởng đó nói lên một niềm day dứt trong tuổi già, đồng thời cũng là đôi lời nhắn nhủ, nhắc nhở với con cháu về cái phước vô song mà chúng cần biết, nhờ đã sinh ra, lớn lên vào thời nay, để sống xứng đáng hơn, để tận dụng đúng hướng hơn những cơ hội “đứng thẳng làm người”, và có những đóng góp có ý thức công dân hơn cho xã hội trong đó mình đang sống (làm phước được hưởng) – thay vì như người di dân vô tâm chỉ biết phúc lợi. Và đó chẳng phải là chuyện dễ dàng trên một đất nước vẫn đang còn tìm hướng đi cho văn hóa xã hội khi người ta đang thấy niềm tự hào lâu nay về một nước đa văn hóa cần phải xét lại để tăng cường khả năng tham dự và hội nhập đa chủng. 
Khi nhìn lại, quả thật thế hệ “baby-doom” này là một thế hệ đầy “nghiệp chướng” từ đời nào đổ đến - trải qua nhiều thử thách đổi đời, nghĩ lại còn chẳng thể tưởng được. Đương nhiên, chẳng phải trên cõi đời này, chỉ có mỗi một thế hệ baby-doom sống dưới thời tao loạn của cuộc kháng chiến chống Pháp 1946-54; cũng chẳng phải chỉ có duy nhất thế hệ này phải trải qua những kinh nghiệm đầy trăn trở trong cuộc chiến chống miền bắc xâm lăng 1960-75 (đáng thương thay, một nhà khảo luận người Việt ở Úc, giáo sư tiến sĩ về văn học (?), vào tháng 12 năm 2015 khi viết về vai trò của Trung Cộng trong cuộc chiến này, đã gọi đó là “cuộc chiến của miền bắc chống miền nam”. Tại sao là “chống” mà không là “đánh”? Bởi vậy mà người ta nói “con tim nói lên tất cả” sự lựa chọn của con người); sau năm 1975, cả hàng chục triệu người miền nam, bao nhiêu thế hệ trong đó, phải chịu kiếp khổ sai, lưu đày ngay trên quê hương đã mất? Thế hệ trước đó chục năm đương nhiên cũng có những kinh nghiệm tương tự, sống trong những cảnh ngộ lịch sử tương tự. Nhưng thế hệ khác nhau cho nên cách cảm nhận vào mỗi thời cũng khác nhau. Ngay cả những người sinh ra trong khoảng mưòi năm 1955-1964, tức năm mở đầu và năm kết thúc nền Đệ nhất Cộng hòa (lứa tuổi này thuộc về lớp sau của thế hệ baby- doom) lớp đàn em đó vẫn sống, suy nghĩ khác thế hệ Bính Tuất rất nhiều, cho dù cả hai lớp đều thuộc thế hệ baby-boom của Mỹ. Lớp thế hệ này, người lớn nhất chỉ mới 20 khi biến cố mất nước 1975 xảy ra. Một người Mỹ sinh năm 1946 và người sinh năm 1956 có thể vui vẻ nói với nhau “We’re of the same baby-boom generation”, nhưng một người Việt Bính Tuất và một người Bính Thân khó nói với nhau “anh em mình cùng thuộc một thế hệ baby-doom”. Trong cách nhìn đó chẳng nên hiểu thế hệ baby-doom, thế hệ nghiệp chướng này, chỉ gồm những người sinh trong năm 1946, mà phải bao gồm cả những người sinh trong khoảng vài năm trước đó và vài năm sau đó.
Tôi không bàn đến thế hệ nghiệp chướng này của những người ở ngoài miền bắc, cho dù đúng là cả một thế hệ của họ mất cả tuổi thanh xuân, chịu nhiều đày đọa, đáng thương hơn cả chúng tôi ở trong miền nam. Hầu như nguyên cả thế hệ bị ném vào lò lửa “chiến tranh giải phóng” mà không một ai được cất tiếng nói, một thế hệ nạn nhân của những tham vọng chính trị điên rồ và ngu xuẩn thường thấy ở một chế độ “chuyên chính” lại còn thêm vô sản, tức chẳng có gì cả để mất, ngay cả cái đầu và con tim, cho nên sẵn sàng thí cả quyền sống của hàng triệu người thế hệ trẻ, hạnh phúc của cả hàng chục triệu người gia đình của họ… cho cuộc phiêu lưu chính trị của mình. Bởi thế thế hệ nghiệp chướng này đã quen với số mệnh “sinh bắc tử nam” và chẳng hề biết được niềm tin và hy vọng là gì trong ánh sáng “tam vô” (vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo). Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ. Nón tai bèo che khuất néo tương lai. Hai câu thơ này đương nhiên chỉ có người trong cuộc mới có thể nói lên nổi, dù nói trong cay đắng thầm lặng. Bao nhiêu người xác đã vùi nơi nào đó trên chiến trường miền nam, từ chiến địa Khê Sanh- Quảng Trị qua Ban Mê Thuột –Tây Nguyên đến vùng đồng bằng sông Cửu Long và mũi Cà Mau…? Thực sự có ai ngày nay ở Bắc Bộ Phủ nghĩ đến những người đã nằm xuống, chưa nói đến trách nhiệm tìm kiếm. Sự chia cắt hai miền đất nước bắc và nam năm 1954, 20 năm khắc dấu một sự khác biệt văn hóa thực sự lớn lao, sâu sắc. Cho đến bây giờ cái văn hóa của chế độ Hà Nội từ thời đó chỉ thêm sa đọa và lạc hậu mà thôi.
Thế hệ nghiệp chướng trong miền nam của chúng ta vẫn còn nhiều may mắn hơn, hạnh phúc hơn những người “anh em” ở ngoài bắc – đó là cái chắc. Thế nhưng cả tuổi thanh xuân của chúng tôi cũng trở nên hoang mang bất định, cả cuộc đời của chúng tôi một nghĩa nào đó vẫn dang dở, bởi vì cuộc chiến do Miền Bắc phát động mà người Mỹ vẫn thường gọi tóm tắt là “the Vietnam War”. Ngẫm nghĩ lại trong bối cảnh thời nay, cuộc chiến này giống như cuộc chiến trên đất nước Syria mà Nhà nước Hồi giáo I.S. ở Iraq mở ra bởi vì cứ cho rằng mình có sứ mệnh truyền phán từ Đấng Allah phải giải phóng người Hồi giáo sống dưới chế độ của Bashar al-Assad ở Damacus. Cuộc sống của chúng ta ở miền nam đang êm ả, thanh bình. Tết đến ngưòi ta có thể vui hát Ngàn hoa thắm tươi, hé môi cười, mừng chào đón xuân… “Mộng lành” đến đêm đêm với tất cả mọi người, ngay cả ở lớp cùng khổ hay khó khăn nhất trong xã hội, từ những nơi “Đường dài canh thâu, Đêm khuya ngõ sâu như không màu, Bên phên vênh có bao mái đầu, Hắt hiu vàng ánh điện câu” đến những khu định cư cho người từ miền bắc di cư vào, nơi nơi người ta đang sống trong hy vọng đồi đời, cảm nhận sự gắn bó, thân thiết, trực thuộc với chế độ mình đang là phần tử công dân trong đó, xã hội mình đang hòa nhập giá trị, văn hoa mình đang hít thở hàng ngày. What a sense of belonging! 
Bỗng dưng tai họa từ trên trời giáng xuống. Hay đúng hơn, từ địa ngục chui lên - bởi thế người ta mới đặt tên là chiến tranh du kích hay “nổi dậy” – không còn có thể lộng ngôn “people’s war, people’s army”. Cho đến giờ, chúng ta đôi khi cứ bần thần, viễn vông tự hỏi: “Giả sử giới lãnh đạo Hà Nội chẳng bị quỉ ám, giả sử hai miền bắc nam cứ riêng rẽ, đường ai nấy đi, cứ xây dựng, phát triển đất nước, xã hội… theo kiểu của mình để cuối cùng xem “ai thắng ai”, và rồi cuối cùng một ngày nào đó có cơ duyên hội nhập lại, thì đất nước chúng ta, dân tộc chúng ta, và mỗi một chúng ta giờ đây sẽ như thế nào. Chắc chắn phải là một đất nước phải đạo hơn, có hiểu biết hơn về những giá trị dân tộc phải gìn giữ. Chắc chắn không có thảm cảnh, bi kịch dân tộc nát tan như chúng ta đang thấy, với hàng triệu người ngoài nước cảm thấy nước mất nhà tan, nhân dạng hủy hoại, và hàng chục triệu người trong nước không cần biết mình có nước có nhà có “identity” hay không. Thế nhưng sự mù quáng, điên cuồng, quá khích, thủ đoạn, gian hiểm đã làm tan vỡ hết… mà những dấu hiệu thực ra có thể được nhận thấy ngay từ những chuyện truy bức, tiêu diệt các đảng phái quốc gia trong hai năm 1945-46 và phong trào đấu tố, cài cách ruộng đất trong các năm 1954-58. Chì có điều bao giờ cũng thế, chúng ta chẳng bao giờ thực sự nghiêm chỉnh rút ra bài học từ những kinh nghiệm xương máu này. 
Nhưng nghiệp chướng của thế hệ chúng tôi không chỉ có duy nhất ở một cuộc chiến cho thấy rất rõ bản chất của người cộng sản “Mác-Lê” - Marxist-Leninist; họ không chỉ hiếu chiến, ngông cuồng mà còn hiếu sát – cái “nhân tính” chúng ta ở Mỹ vẫn thấy nơi những tên điên bắn giết người hàng loạt (mass shootings). Như Adam Lanza ngày 14-12-2012 giết chết cả 20 trẻ em ở trường tiểu học Sandy Hook, Newtown, Connecticut. Hay James Eagan Holmes ngày 20-7-2012 tàn sát cả 12 người, gây thương tích cho cả 70 người ở một rạp hát ở Denver, Colorado. Hay tên da trắng Dylan Roof ngày 17-6-2015 trong nháy mắt bắn chết chín người da đen trong một ngôi nhà thờ cổ kính ở Charleston, South Carolina. Hay gần đây hơn, ngày 1-10-2015, Chris Harper Mercer với trang bị sáu cây súng đã vào trường cao đẳng ở một thành phố thuộc tiểu bang Oregon bắn chết chín sinh viên. Những nhân vật độc đáo này đều có thể nói “sông có thể cạn, núi có thể mòn…” (như Bác Hồ từng nói), nhưng họ là những người “sống chết với lý tưởng” – như các lãnh đạo Hà Nội thời đó. Và nếu những bậc anh hùng này bị nhốt vào nhà thương điên Biên Hòa hay Chợ Quán thì có lẽ những người đang được điều trị ở những nơi đó ắt phải bỏ chạy hay tỉnh người ra. Cái nhân tính này chúng ta cũng đang thấy ở những tên khủng bố Nhà nước Hồi giáo can dự vào vụ tấn công tàn sát ở Paris giết chết cả 129 người ngày 13-11-2015, hay hai vợ chồng Hồi giáo bắn chết cả 24 người ở một trung tâm phúc lợi xã hội ở thành phố San Bernardino, Cal. ngày 2-12-2015… Dĩ nhiên không thể kể siết những vụ tàn sát hàng loạt người của những tên cậy có súng trong tay và được Hội Súng Quốc gia NRA và đảng Cộng Hòa che chở ở Mỹ, nhưng chắc chắn chúng ta không thể quên vụ xảy ra ngày13-6-2016, Omar Mir Seddique Mateen, đến từ một gia đình di dân gốc Afghanistan chạy loạn, lại tự nhận là người của Nhà nước Hồi giáo cầm súng đi đến một hộp đêm của người đồng tính ở Orlando, Fl., bắn chết 49 người, làm bị thương hơn 50 người.Và vụ án kỷ lục 58 người chết, 500 người bị thương vào tối ngày 1-10-2017 khi một thằng già 64 tuổi, Stephen Padlock, ở Nevada, xả súng vào một đại thính phòng âm nhạc tại Mandalay Bay Resort and Casino ở Las Vegas.  
Những vụ khủng bố này có khác gì những gì đã xảy ra ở Saigon thời đó, nhưng những nhà báo Mỹ ngu xuẩn đã không thấy – và ngày nay khi nhìn lại vẫn ngu xuẩn không thấy! Nước Mỹ đang có nan đề về người có bệnh tâm thần: đông quá (cứ năm người lại có ít nhất một người có vấn đề) và chẳng những không lo xuể mà còn bị nạn súng đạn không có ai kiểm soát vì Đệ nhị Tu chánh án cứ đứng như một tượng đài. Gần đây, tạp chí Mother Jones đã có cảnh báo: số người tâm thần bị nhốt trong nhà tù đông gấp mười lần số người bị giữ ở nhà thương điên. Nhật báo The New York Times khuyến cáo: Nhà thương chẳng phải nhà tù là nơi cư trú của người tâm thần. Có bao nhiêu người không được chăm sóc và bị lùa vào “trại học tập” để rồi chết lặng lẽ sau song sắt? Nói gì thì nói, đưa người điên vào nhà tù đã bậy, nhưng chưa bậy, chưa nguy hiểm cho xã hội và đất nước bằng đưa vào Nhà Trắng – dù chỉ là một người. 
Đối với người dân miền nam, một cuộc chiến mà thôi có thể chẳng là vấn đề. Người Việt Nam vẫn tự hào về truyền thống chống ngoại xâm – nếu chúng ta hiểu ngay từ thời đó thực chất ngoại xâm của cuộc nội chiến này. Và cả tính khủng bố đặc thù của người cộng sản quốc tế. Cho nên, nếu chỉ có một cuộc chiến chống ngoại xâm cho dù có “con ngựa thành Troy” được để lại vào năm 1954, Miền Nam hẳn cũng không phải là đuối lắm. Nhưng thế hệ nghiệp chướng này còn bị những thử thách quyết liệt khác giữa khi cuộc chiến tranh ngày càng lan rộng, leo thang, đẫm máu, nặng tính chất khủng bố.
Những thử thách đó chính là tình hình chính trị suy đồi sau năm 1963, cuộc đảo chánh mà người ta gọi là “Cách mạng 1-11” của mấy ông tướng thân tây chẳng xây dựng được cái gì mới mà chỉ tàn phá tất cả những gì đã xây dựng được dù không vững chắc – như chúng ta đã thấy qua hai biến cố đảo chánh của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông vào ngày 11-11-1963 và vụ ném bom vào Dinh Độc Lập vào ngày 26-2-1962 của hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử, mà tiếc thay, người em của Tổng thống Ngô Đình Diệm là ông cố vấn Ngô Đình Nhu (người mà hiện nay vẫn còn một số người có vấn đề tâm thần nhưng vẫn nhởn nhơ ở ngoài chẳng chịu vào nhà nào cả đang hết lời ca tụng như một bậc tiên tri, cao kiến) lại không cố vấn được gì cho anh mình để tránh một kết cuộc thảm thương – có lẽ vì ông cố vấn chẳng có ai cố vấn hay tự ái nên chẳng chịu nghe ai hay chẳng ai dám nói. Giới cầm quyền sau đó sa đọa thấy rõ, Dương Văn Minh ai cũng biết là người ham chơi và giống như bù nhìn – bù nhìn cho đến ngày 30-4-1975. Nguyễn Khánh và Nguyễn Cao Kỳ là hai tên hề nguy hiểm, mỗi người một kiểu râu; các “đảng phái chính trị” thì bất lực và “hữu danh vô thực”. Đó cũng là một thời hai chữ “ma giáo” bắt đầu thịnh hành, không chỉ trong tiểu thuyết “Cô gái Đồ Long” của Kim Dung. Tôn giáo ngoài đời sau biến cố Phật giáo năm 1963 cũng đang trở nên mê sảng, không phân biệt được ma giáo và chính giáo, khiến cho một thiểu số trở nên cuồng tín như những jihadists Hồi giáo thời nay, biến đường phố thành bãi giáo chiến, và đại đa số thì lắc đầu ngao ngán, mất niềm tin. Nền kinh tế thì đang nhanh chóng rơi vào khủng hoảng lạm phát và suy thoái, vì nông thôn thiếu an ninh, sản lượng lương thực đã xuống lại còn phải “nuôi bộ đội”. Việc giao thông chuyển vận hàng hóa bị gián đoạn thường xuyên vì Việt Cộng chuyên đào đường, đắp mô, gài mìn, đón đường “rao quảng cáo” chính trị với các xe qua lại. Ngày 18-6-1966, Bộ trưởng Kinh tế Âu Trưòng Thanh ban hành quyết định phá giá đồng bạc Việt Nam 100%, từ 1 đô la ăn 60 đồng lên 118 đồng. Nhập cảng tràn vào hàng tiêu dùng cao cấp nhờ đồng đô la viện trợ thương mãi hóa và chi tiêu của lính Mỹ đóng tại Miền Nam, nhưng đời sống người dân sống bằng đồng lương (công chức, giáo viên, quân nhân…) ngày càng khó khăn.
Chính tình hình chiến trường tồi tệ, chính trường nát bét, thị trường khủng hoảng này đã mở đường cho Mỹ nhập cuộc sâu hơn nữa vào Việt Nam. Tháng tám năm 1964 là biến cố Vịnh Hạ Long mà sau này Mỹ không ngớt tranh cãi và người ta đổ cho Tổng thống Lyndon Johnson dựng chuyện. Tháng ba năm 1965 ghi dấu quyết định đưa bộ binh chiến đấu của Mỹ đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng. Phải nhớ rằng nhờ Mỹ tăng cường viện trợ, đưa bộ binh đến, và thúc ép Saigon phải ổn định chính trị, Miền Nam mới dần dần thoát được khủng hoảng hiểm nghèo trên cả ba mặt quân sự, chính trị và kinh tế trong những năm 1964-67 – mà cái giá phải trả, nay chúng ta cố nhìn lại để hiểu, chính là người ta đã xem mình như con nít, chưa trưởng thành, cần được dẫn dắt, và chúng ta thực sự buông lỏng số phận của mình, để tất cả cho ông trời định đoạt. Ông trời đây là ai, chúng ta đều biết.
Người ta nói trẻ em thời nay khôn hơn trẻ em thời trước - cũng có đúng phần nào. Trẻ em ở Mỹ khôn hơn trẻ em Việt Nam? Cũng đúng phần nào. Trẻ em ở Mỹ 14 tuổi đã biết chơi súng. Có trẻ còn cầm súng bắn cha, bắn mẹ, bắn em… hay đem súng vào trường, khiến cho NRA được thể đưa ra đề nghị phải trang bị súng cho thầy cô và cả giám thị, cùng cho những người này tham gia một chương trình huấn luyện súng đạn (rút súng nhanh, bắn không cần nhắm mục tiêu…), (giống chương trình “quân sự học đường” thời xưa của chúng ta) mà NRA sẵn sàng bảo trợ một cách “hào hiệp” (cung cấp súng đạn, áo giáp, bia đạn, nước giải khát… để thầy cô có thể tập dượt thường xuyên). Còn chúng tôi 14 tuổi, thời trước, cùng lắm tôi và vài bạn thân ở lớp 4B3 trường Chu Văn An như Vũ Đình Tường, Hoàng Hải Sơn, Trần Công Anh Dũng, Vũ Ngô Khánh Truật, Trần Văn Chung, Tô Phúc Tường, Nguyễn Hữu Cảnh, Trần Quốc Toàn, Nguyễn Đình Trọng, Hoàng Đình Hiếm, Hoàng Đình Ảnh, Trương Dật, Lê Khắc Đỉnh, Phạm Quốc Hưng… chỉ chơi banh trên sân cạnh trường trên đường Trần Bình Trọng. Học sinh ở Mỹ chưa đến 14 tuổi đã có thể nằm trong “vòng tay cô giáo” sau giờ học và kháo với nhau, còn “Vòng tay học trò” của cô giáo Nguyễn Thị Hoàng hơn 50 năm trước chỉ là chuyện tưởng tượng, ẩn ức của một người. Theo thống kê, trẻ em ở Mỹ trong tuổi 14-15 có đến ít nhất 16% đã làm chuyện đó, còn thế hệ chúng tôi đến 18-19 tuổi, 90% vẫn chỉ nói chuyện đó – chưa biết, chưa làm, cho dù trong đám bạn bè ở Trần Lục và Chu Văn An không thiếu những người ở Gò Vấp, ngày ngày đạp xe ngang qua Ngã Ba Chú Ía, Ngã Năm Chuồng Chó, mỉm cười tủm tỉm với những cô gái đứng vẫy tay mời mọc. Bạn bè cùng lớp vẫn nói rằng “Thỏ Đế” tuy ở trong vùng địa linh nhân kiệt đó cho đến đêm tân hôn vẫn loay hoay không biết phải làm gì!
Nhưng chúng tôi vẫn có cái khôn hơn, trưởng thành hơn trong cách của chúng tôi, vì hoàn cảnh của chúng tôi. Thế hệ nghiệp chướng này, khi được 14-15 tuổi, đã lớn lên trong một cảnh tượng của đất nước mà chúng tôi không thể nào không biết đến. Và càng lớn lại càng thấm cái ảnh hưởng, tác động ghê gớm của “vận nước nổi trôi” đổ lên đời mình. Những biến cố chính trị từ năm 1960 lẽ nào chúng tôi ở ngay Saigon lại chẳng biết, chẳng hiểu. Và từ bao giờ chúng tôi đã nhận thức được rằng ông Ngô Đình Diệm chẳng phải là một thần tượng quốc gia không thể nào sụp đổ? Chúng tôi đã bắt đầu nhìn ông cố vấn Ngô Đình Nhu một cách nghi ngờ, và ngày càng thấy bà Nhu như một phụ nữ đầy tham vọng. Tôi vẫn còn nhớ rõ kinh nghiệm quân lao Gò Vấp của mình. Ngày thứ bảy 24-8-1963, bốn ngày sau biến cố 20-8 lịch sử nhà cầm quyền đột ngột tấn công vào chùa Xá Lợi trên đường Bà Huyện Thanh Quan nhìn qua trường trung học Gia Long (nghe nói “thầy” Thích Trí Quang vốn khôn ngoan đã leo rào chạy núp bóng người Mỹ từ dạo đó) , tôi đang học 1B8 trường Chu Văn An, một số học sinh tranh đấu tổ chức bãi khóa, làm ầm ĩ trong khi thầy hiệu trưởng Trần Văn Việt và ông giám học Lê Văn Lâm chạy lui chạy tới chẳng biết phải làm sao. Cảnh sát Chiến đấu vào trường, trấn áp, bắt gần ngàn học sinh ra quì giữa sân nắng chang chang và hốt hết đưa vào quân lao Gò Vấp, bất kể ai tham gia tích cực, ai chạy lòng vòng trong sân làm “chứng nhân lịch sử”… như tôi. Chúng tôi sớm ý thức được sự bất ổn, mất trật tự của chính trị là bất an, nguy hiểm cho chế độ, cho đất nước. Sức mạnh thống trị của quân đội là ghê gớm - cứ nhìn quân cảnh đứng giữa đường hỏi giấy tờ quân dịch của thanh niên thì biết. Rồi cả loạt đảo chánh lớn, nhỏ, thiệt, giả trong hai năm 1964-65, đếm ra cũng có được cả mười vụ. Chúng tôi cũng biết chiến trận ngày càng ác liệt và đang ành hưởng đến cuộc sống của xã hội, của gia đình, của cá nhân. Nhất là lớp trẻ thế hệ chúng tôi. Từ trước 1960, chúng tôi đã biết được sự có mặt rất rõ ràng của người Mỹ qua sự xuất hiện của Hội Việt Mỹ trên đường Mạc Đỉnh Chi, quận 1. Người ta nô nức đến đó để đi tìm một cơ hội chuyển biến trong trình độ nghe nói tiếng Anh của mình trong hy vọng đầy mơ ước về tương lai sau này sau khi học xong trung học - nhờ người Mỹ dạy và mỗi lớp chỉ có 20 người. Đến năm 1965 sự hiện diện của người Mỹ mới có tính tràn ngập. Lính Mỹ đầy đường đầy phố. Là học sinh hay sinh viên, chúng tôi đều biết sự có mặt của cơ quan USIS (Information Service) và thư viện bao la của họ nằm góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Thư viện này hầu như đều có ở những thành phố lớn như Huế, Đà Nẳng, Dalat, Nha Trang, Cần Thơ, Mỹ Tho… Chỉ có năm 1966, những người tranh đấu ở Huế cho bàn thờ xuống đường và ngu xuẩn đi đốt thư viện này (“công cụ truyền bá văn hóa đế quốc Mỹ”), cho nên Mỹ đóng cửa luôn cơ quan USIS ở thành phố cố đô này. Tranh đấu ngu xuẩn là thế, nhưng đã có Trí Quang thì nào ai dám nói hồi đó? Và đến nay ngưòi ta vẫn chưa dám nhận! Có lẽ ngay từ thời còn trung học, chúng tôi đã bắt đầu lo nghĩ chuyện lính tráng. Ngồi học bài mà nghe văng vẳng bên tai bài hát “Anh đi chiến dịch” của Phạm Đình Chương. Hay “Biệt kinh kỳ” của Minh Kỳ. Năm 1964, chúng tôi tan tác và thất lạc nhau sau kỳ thi tú tài 2. Mỗi người đang thấy mở ra trước mắt mình một con đường mới - rộng hay hẹp, sáng hay tối khác nhau.
Lên đại học của lớp tuổi chúng tôi đúng là một thời đứng ngồi không yên với những tin tức ngoài đường phố. Việt Cộng đánh bom từ nơi này đến nơi khác: tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi, cư xá Brink đường Hai Bà Trưng, ngay sau lưng tòa nhà Quốc Hội, nhà hàng Mỹ Cảnh ở bờ sông Saigon… Học sinh, sinh viên la ó ngoài đường nhiều hơn ngồi yên trong lớp. Thầy tu thì cho bàn thờ xuống đường, thầy dòng thì dẫn giáo dân Hố Nai biểu dương lực lượng trước Bộ Tổng Tham Mưu trong khu vực Tân Sơn Nhất – chẳng thầy nào nghĩ nếu ở một nơi như Quỳnh Lưu ngoài Nghệ An (ngay trên quê hương “Bác”) chẳng hạn, họ có dám làm như thế hay chăng. Ngay cả một nơi “yên ổn”, chẳng dính líu gì đến chuyện đời như Dalat, từng là đất hoàng triều cương thổ của triều đại nhà Nguyễn, người ta cũng khuấy động, không nói gì đến những hang ổ như Huế (cấp tiến trong hiểu biết lạc hậu của mình), Đà Nẵng (của người “hay cãi”) hay Saigon (vùng đất của những cơ hội khuấy phá). Nhiều người có thẻ sinh viên trong túi để có giấy hoãn dịch cầm tay, nhưng thời gian trôi qua nhanh quá, và chúng tôi nhanh chóng nhận ra chương trình học bốn năm sao quá ngắn so với cuộc chiến sao chẳng có một hứa hẹn nào có thể chấm dứt “kịp thời”. Chính vì sự không dứt của cuộc chiến mà ở Mỹ người ta cho dấy lên phong trào phản chiến trên các đại học. Người Mỹ có thể không xem cuộc chiến này là của họ nên phản đối. Còn chúng tôi? Không phải của mình thì của ai đây? Trong sự thất vọng, chán nản đó, một số sinh viên trở nên “phản chiến” theo cách Việt Nam, nghe lời mấy ông thầy tên Trung nhưng “bất trung” than vãn “Nước Mắt Mẹ” – giống như thanh niên, sinh viên ở Mỹ biểu tình hát bài “Where have all the flowers gone” hay “Blowing in the wind”. Không học thì phải đi lính, mà có học, học xong, cũng phải đi. Năm 1968, khóa 1 của Trường Chính trị Kinh doanh Viện Đại học Dalat ra trường, gần cả một khóa tham dự lễ tốt nghiệp bên trong mặc đồ lính bên ngoài mặc áo thụng tân khoa. Thế hệ của chúng tôi do đó tràn ngập trong quân đội, chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người cầm súng, những người hy sinh ngoài trận địa. Nếu nhớ lại những năm đó, từ 1964 cho đến 1975, thì thế hệ nghiệp chướng baby doom này biết rõ, thấm thía sự ác liệt và tàn phá của cuộc chiến - từ làng xóm đến xã hội, gia đình và con người – hơn bất cứ thế hệ nào khác. Tôi chẳng thể tưởng có ai trong thế hệ chịu nhiều mất mát của mình lớn lên mà không biết tác phẩm trác tuyệt “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đặng Trần Côn, bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm, nghe còn hay hơn nguyên bản (vì người đọc không hiểu!). Tôi vẫn nghĩ đó là tác phẩm đã ám ảnh tâm hồn tôi sớm nhất, ngay từ những ngày còn mài ghế nhà trường Chu Văn An, nếu không thì một học sinh ban B (Toán/Lý hóa) như tôi chẳng thế nào nhớ được, cho đến nay, cho dù đã ở trong tuổi quên nhiều hơn nhớ, bốn câu:
Sương đầu núi buổi chiều như dội.
Nước lòng khe nẻo suối còn sâu.
Thương người áo giáp bấy lâu.
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
(Đáng buồn thay, học sinh thời nay chẳng biết gì hàng loạt tác phẩm văn học cổ điển như Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Nhị độ mai, Nhị thập tứ hiếu, Phan Trần, Lục súc tranh công, Trê cóc… cho dù ở cộng đồng người Việt nào cũng nghe người ta nói “phải bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc”).
Chúng tôi cũng chiếm “ưu thế đa số” trong “hàng hàng lớp lớp” những người đút đầu vào các trại “học tập cải tạo” mút mùa vào đầu tháng sáu năm 1975 – chưa đến hai tháng sau khi xe tăng Việt Cộng ủi sập cửa Dinh Độc Lập. Tính toán phỏng chừng, trong những trại tù dành cho sĩ quan hay công chức cao cấp, có lẽ phải đến 90% trong lứa tuổi sinh ra từ năm 1944 đến 1955 - tuổi từ 20 đến 31. Tiếc rằng chưa có một nghiên cứu nào đưa ra được một thống kê “nhân khẩu” như thế. Tuy nhiên, ở trong trại chúng tôi cũng có thể thấy được mình ở đây đông đúc như thế thì bên ngoài xã hội còn có ai nữa. Có lẽ những người lãnh đạo ở Hà Nội đã quen với xã hội không có đàn ông như miền bắc trong thời chiến. “Ngưòi mẹ (còn phải) cầm súng” thì làm gì còn gia đình, không có gia đình thì làm gì có xã hội – đó đúng là chân lý của chủ thuyết tam vô. Ngưòi ta đã dẹp bỏ tất cả giá trị văn hóa truyền thống về con người, gia đình, xã hội, tôn giáo, dân tộc cho cuồng vọng chính trị. Nhưng ở miền nam của chúng ta, làm sao chúng ta thản nhiên được trước cảnh tượng đó. Ngoài xã hội và trong gia đình, người ta đều nhận chân sự biến mất thầm lặng nhưng khủng khiếp của người đàn ông, những người vẫn đưọc xem là nòng cốt, rường cột của gia đình, của xã hội… Chúng tôi nay không còn nữa. We’re doomed!
Trong giai đoạn đầu, “Cách mạng” chỉ thu gom, chưa phân loại, các trại chen chúc đông người, đến mức khi xảy ra vụ nổ kho đạn ở Xuân Lộc vào khoảng giữa thá ng tư năm 1976, đạn bay tứ tung, chúng tôi chạy tứ phía, chạy đến đâu cũng vấp phải hàng rào. Bỗng nhiên không hẹn mà gặp chúng tôi sống chung với nhau - những người thuộc đủ mọi quân chủng như Không quân, Hải quân, Nhảy dù, Biệt động quân, Thủy quân Lục chiến, Biệt kích, Bộ binh, Pháo binh, Thiết giáp, Quân cụ, Quân y, Tuyên úy, Cảnh sát, và cả những thành phần biệt phái khác nhau… Đúng là một “cơ hội” không thể ngờ được. Những người lãnh đạo Saigon trước đây chẳng hề báo trước cho dù họ có nhiều ngày giờ để làm việc này. Và những người đã bôn tẩu và nay được an thân cũng chẳng có một lời nhắn nhủ những người mắc kẹt ở lại phải coi chừng. Thế nên mới có chuyện giờ đây chúng tôi phải “lên lớp”, ngồi xổm nghe quí vị cán bộ ở trên khen chúng tôi khôn ngoan, thức thời, tin lời hứa khoan hồng ở lại để đi trình diện học tập, bởi vì một khi “Cách mạng” làm tiếp sự nghiệp giải phóng thế giới, đem quân qua Mỹ, chúng tôi biết chui rúc ở đâu!
Trước đây chúng tôi cũng có nghe, có xem phim về những trại tập trung của Đức Quốc Xã cho người Do Thái trong Đệ nhị Thế chiến, trại tập trung của Stalin dành cho những người được chế độ ưu ái ở vùng Tây Bá Lợi Á. Hay những trại tương tự của Trung Cộng dành cho những thành phần “phản động” sau khi họ đánh đuổi chế độ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch ra đảo Đài Loan (Hiện nay, nghe nói những trại hiện nay Bắc Kinh dành cho người theo đạo Hồi ở những địa phương vùng Tân Cương). Chúng tôi cứ xem đó như là những chuyện lịch sử của người, chẳng thể ngờ một ngày nào đó là chuyện thật của mình. Chẳng ai nghĩ cũng sẽ có những người Việt phi nhân thực hiện những biện pháp chà đạp vô đạo trên quyền sống quí báu và thiêng liêng của con người mà ông trời đã cho. Một khi người ta đã đứng bên này hàng rào kẽm gai mới biết thì đã quá muộn. Nhưng suy cho cùng, bên này hay bên kia hàng rào, khác biệt thực sự đến chừng nào.
Cuộc sống trui rèn cho tất cả mọi người phải biết sống “mình vì mọi người” để cho “mọi người (có thể) vì mình” trong những trại tập trung, hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn, hai điều nghiêm trọng nhất là lương thực và thuốc men. Thế nhưng còn quan trọng hơn vật chất để sống còn là sự “an tâm học tập”. Nơi mỗi người, chôn kín là nỗi buồn thấm sâu, thất vọng vì cả tin, tuyệt vọng vì bế tắc và phẫn nộ đến mức trở thành thù hận. Tâm trạng mất hồn này cứ nổi lên từ ngày này qua ngày khác, từ đêm mất ngủ này đến đêm mất ngủ khác, khi người tù nghĩ đến những người thân yêu bên ngoài, cha mẹ, vợ con, anh chị em… - chẳng hiểu họ làm sao để tồn tại được dưới một chế độ vừa truy bức vừa bất lực trong trách nhiệm của người cầm quyền đối với người dân. 
Khi nhốt cả trăm ngàn người, đúng là nhà cầm quyền cộng sản đã làm một quyết định “phi thường”, “táo bạo” – phi thường theo nghĩa là phi nhân, táo bạo là tàn bạo. Những kẻ tội phạm, giết ngưòi cướp của, ăn trộm, ăn cắp, tham nhũng, thâm lạm công quĩ … biết rõ sự phạm pháp của mình và đương nhiên chẳng ngỡ ngàng trước qui luật “tội ác và hình phạt”. Còn chúng tôi ở trong tù cứ nghĩ mãi không ra tội ác của mình là gì, và chỉ có thể có một kết luận duy nhất: những người cuồng sát dấy lên cuộc nội chiến tương tàn đẫm máu này với đủ mọi thủ đoạn, từng sẵn sàng hy sinh đến người cuối cùng của họ (Bác Hổ vừa đe dọa kẻ thù “sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng người không thể hết” vừa hứa hẹn hão huyền “Còn non còn nước (nếu) còn người, Thắng được giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng nên mười ngày nay) không ngại cho đất nước tan hoang, đổ nát, chắc chắn họ chẳng ngại gì tước đoạt quyền sống của nguyên cả một thế hệ để mưu sự an toàn cho công cuộc “cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội” của họ. 
Phải nói rằng họ khôn bậc thầy so với Khmer Đỏ Pol Pot, Ieng Sari… Ví dụ như sau khi nhờ cả Liên Xô và Trung Cộng hoàn thành sự nghiệp giải phóng, (chẳng có vũ khí tối tân, hiện đại của Liên Xô và oai hùm Trung Cộng thì Mỹ đã không mang tiếng là con cọp giấy, không dám mở rộng cuộc địa chiến qua bên kia vĩ tuyến 17), họ cắt đứt với Bắc Kinh để ôm chân Mạc Tư Khoa, bởi vì dư hiểu Trung Nam Hải rồi đây sẽ chẳng để yên cho Bắc Bộ Phủ mà sẽ tìm cách thể hiện quyền lực thiên triều của mình. Đối nội, họ hiểu không đủ sức làm một cuộc “cách mạng văn hóa” kiểu tàu. Nhưng phương pháp “học tập cải tạo” của Hà Nội thì có hiệu nghiệm từ thời cải cách ruộng đất, học tập những kinh nghiệm của Stalin và Mao Trạch Đông, nhưng “học tập cải tạo” của Việt Cộng được cầu chứng tại tòa, đó là cho cả một chế độ vô tù, bất kể nhu cầu nhân lực bên ngoài xã hội (bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, giáo chức…) . Sau này khi thấy có những dấu hiệu kinh tế xã hội chủ nghĩa không xong, họ nhanh chóng “đổi mới kinh tế”, nhưng để tránh hiểu lầm, tạo lạc quan không căn cứ, cho nên cấp thời xác định đi theo con đường thực dụng “kinh tế thị trường có định hướng chủ nghĩa xã hội”. Cái phần “định hướng” này không chỉ cốt giữ gìn mày mặt và quyền lực chế độ, mà ngụ ý chính của nó là sự chia chác (phân phối và tái phân phối lợi tức) tập trung vào tay nhóm Bắc Bộ Phủ cha truyền con nối.
Người ta nói “tam thập nhi lập”, đến tuổi ba mươi là cuộc đời phơi phới mở rộng trước mắt. Thế nhưng đối với những người thuộc thế hệ baby doom, vừa đến 25-30 thì nhân họa giáng xuống còn khủng khiếp hơn cả thiên tai. Thiên tai chỉ giáng xuống một thời gian ngắn, sau đó người ta còn tìm cách vươn lên trở lại. Nhân họa thì vô hạn thời gian và vô phương trong lối thoát. Nhờ “giải phóng”, người thì được cải tạo không thời hạn, người thì được ra khỏi thành phần lao động (những người hoặc đang đi làm hoặc đang kiếm việc làm, theo định nghĩa lực lượng lao động của Mỹ) và được thong dong ngoài đường; ngưòi thì bị xem như “di dân bất hợp pháp”, không có giấy tờ, hộ khẩu, phải đi “kinh tế mới” dù không thể cạp đất mà ăn; người thì phiêu lưu trên biển cả mênh mông vì cuộc đời mà liều mạng sống. Ra trại, thế hệ này càng đi dần vào sự vô nghĩa vô vọng trong cuộc sống, cho dù sau này có chương trình H.O. mở ra một lối thoát khỏi thân phận “công dân hạng hai”, hay mất nguồn gốc ngay trên quê hương của mình. Nguyên cả một thế hệ baby-doom chưa kịp sống mà đã sớm phải nghĩ chuyện an phận tuổi già về sau này! Những người từng bôn tẩu vào ngày 30-4 sẽ chẳng bao giờ hiểu được tâm sự này.
Chẳng có gì thú vị khi nhắc lại những chuyện xưa nặng nề, nhức nhối đó ở lứa tuổi chỉ muốn quên đi hết để có thể bình tâm trong những ngày còn lại, nhất là ngày nay thế hệ baby- boom đã hàng hàng lớp lớp tuần tự đi vào lứa tuổi Medicare và An sinh Xã hội, có bao nhiêu thực tế phải lo nghĩ về nơi ăn chốn ở, bệnh tật, và tâm thần trước những đe dọa chính trị từng ngày một nhằm vào những chương trình phúc lợi của người cao niên. Dĩ nhiên, cũng có không ít những người chẳng đợi đến lúc bị Alzheimer, đã sẵn sàng quên chuyện cũ để đi đi về về. Nhưng cũng có không ít những người muốn thực sự hiện hữu trong cuộc sống, và để hiện hữu thì phải suy nghĩ (je pense, donc je suis), và khi suy nghĩ đương nhiên phải nhiều trăn trở bởi những chuyện ngày trước đè nặng lên một phần cuộc sống tinh thần hàng đêm.
Ngày nay ở nước Mỹ, trong cuộc khủng hoảng về văn hóa đa chủng khiến cho “vùng đất của những cơ hội” đang ngày càng giết chết “giấc mơ nước Mỹ” của những người tìm kiếm cuộc đổi đời, nghi kỵ và thù ghét lấn át sự tin cậy và thân hữu giữa con người với nhau, nhiều học giả Mỹ lo ngại “sự xung đột văn minh” (the clash of civilizations) đang diễn ra ngay trên đất Mỹ - chẳng ở đâu xa. Họ phải nghiêm chỉnh nêu lên câu hỏi “who are we” để cho mọi người phải suy nghĩ thêm để có thể bớt tách rời và nhận thức được đúng mức nhu cầu phải hội nhập. Nhưng để trả lời cho câu hỏi “Ta là ai” chúng ta những người “di dân” không thể né tránh câu hỏi dẫn nhập “who were we?” – chúng ta từng là ai, vốn là ai. Từ cuối thế kỷ thứ 19, nhà sử học và cũng là một chính trị gia sâu sắc, lỗi lạc của Anh quốc, Lord Anton, đã nói: “Lịch sử không phải là một gánh nặng đè lên ký ức, mà phải là sự soi sáng tâm linh” (History is not a burden on the memory but an illumination of the soul) Chính từ sự soi sáng này, chúng ta có thể thấy rõ mình hơn trong quá khứ (who were we) và hiện tại (who are we) để có thể trả lời những câu hỏi trên, từ đó định hướng phải đi vào cuộc sống của xã hội như thế nào: tham dự và hội nhập (commitment and integration) hay bàng quan và tách rời (indifference and disconnection).
Nhắc chuyện xưa chẳng phải chỉ là đi tìm một thời đã mất. Những gì chúng ta đã mất một thời quá quí giá, không thể để thất lạc trong ký ức, và nếu không tìm ra thì mơ màng nhắc lại trong sự nuối tiếc ‘vang bóng một thời”. Nhắc lại, như đã nói, chỉ để thực hiểu “mình là ai” và để giúp cho những thế hệ về sau hiểu được nhân dạng (identity) của mình qua “khám phá” cuộc đời luân lạc của cha anh. Vả lại, trong cuộc sống, bao giờ người ta cũng phải tìm cách đi tới, cho dù con đường trước mặt dài hay ngắn. Còn cái “doom” của thế hệ, những nghiệp chướng chúng ta đã biết, nhắc lại chỉ để chúng ta thêm trưởng thành, cho dù ở tuổỉ này trưởng thành có khi đã muộn - trừ khi chúng ta có niềm lạc quan của người ngộ đạo (giác) trước cái “ta” vô nghĩa. Và nhìn lại quá khứ cũng có khi có niềm vui khi chúng ta nhớ lại được một thời đáng sống!
Đúng là phần lớn chúng ta thuộc thế hệ baby-doom từng sống ở miền nam trước năm 1975 đều đã có một thời đáng sống, tuy chẳng kéo dài được bao lâu. Thực ra, người miền nam nào đã sống trong khoảng thời gian 54-75 đó đều đã có một thời đáng sống. Nếu không người ta đã chẳng bỏ quê hương ở miền bắc vào nam, làm nên một cuộc di cư lịch sử vĩ đại có cả triệu người (có lẽ có người vẫn còn nhớ những bài như “Hận ly hương” hay “Về miền nam” thịnh hành những năm đó) – báo trước một phong trào vượt biên còn nhiều ý nghĩa hơn 21 năm sau đó. Nếu sau năm 1975 vẫn còn một thời đáng sống, nhất là đất nước đã thống nhất, thì đã không có hàng triệu người liều mạng sống bỏ nước ra đi, và cho đến bây giờ ngay cả những phần tử trong giai cấp “chuyên chính vô lại” vẫn còn tìm cách trà trộn trên đất Mỹ. Hai thập niên một tí – tùy theo cách mỗi chúng ta nhìn khởi điểm và tận diểm – là một phần của đời người. Đối với nhiều người, có khi phần đời đó tương đương với một phần ba. Có khi chỉ là một phần tư, tính theo tuổi thọ trung bình của người Mỹ hiện nay. Nhưng có thể đó là một phần tư quí giá nhất trong đời người ngắn ngủi. Như vậy, phần mất mát trong cuộc đời của mỗi chúng ta chẳng phải là nhỏ. Nhưng nếu cuối đời nhìn lại để thấy cuộc đời có nhiều quãng vô nghĩa, thì một thời đáng sống đúng là quí giá, tuy chỉ có ý nghĩa tương đối, vì ít nhất chúng ta đã có một thời đáng sống. Trong số người Việt đang ở Mỹ, có người đã đến đây 40 năm, có người 30 năm. Nhưng ngay cả những người đến sớm này, chưa hẳn họ đã có một đời đáng sống hơn so với trước đây.
Đối với những người đến đây mong ước một cuộc đổi đời, nói chung phần lớn đều có thể đã mãn nguyện, cho dù con đường hội nhập chẳng dễ dàng với ai vì thực sự hiểu đúng nước Mỹ chẳng bao giờ là chuyện dễ dàng. Thế nhưng sự mãn nguyện này rất khác với tâm trạng thân thuộc mà chúng ta từng có trong một thời đáng sống. Phần lớn chúng ta chấp nhận cuộc sống tha hương, nhưng đã là tha hương thì còn lâu mới có được điều mà người Mỹ có một cách nói quen thuộc là “a sense of belonging”, tức cảm nhận thân thuộc của người sống trong một đất nước, một xã hội, mà người ta nghĩ đất nước đó, xã hội đó là của mình, hay mình là một phần tử trong đó, thuộc về cộng đồng đó. Cái cảm nhận này không chi xuất phát từ một truyền thống văn hóa gia đình, văn hóa xã hội đã ổn định vững chắc, khiến cho con người thấy gắn bó với môi trường nhân văn chung quanh. Người ta thấy trân quí cha mẹ, vợ con, anh chị em, bà con, hàng xóm, láng giềng, thầy cô, bạn học, đồng nghiệp… - xem tất cả và mỗi một thành phần là một phần không tách rời của cuộc sống. Thậm chí, còn có ý thức về “tình dân tộc, nghĩa đồng bào” đối với những người trong một nước. Vì chúng ta không có cảm nhận thân thuộc, và vì chúng ta không chấp nhận được chế độ đã làm ra xã hội đó mà chúng ta đã ra đi. Chúng ta không mơ hồ mà tưởng rằng trong phần đời còn lại của mình còn có thể tìm ra được cảm nhận thân thuộc từng có trong thời đáng sống trước đây. Đó đúng là một thời đã mất mà giấc ngủ của chúng ta vẫn tiếp tục tìm kiếm. 
Chúng ta đã có một khung cảnh đất nước, xã hội, gia đình, tín ngưỡng… đầy những đặc tính văn hóa dân tộc truyền thống, quen thuộc, gần gũi, ấm cúng, không làm cho con người bị vong thân trong cuộc sống, bị đứng ngoài xã hội. Hơn thế nữa, con người sống trong xã hội đó luôn luôn nức lòng tìm kiếm cơ hội để vươn lên, để đi tới vì người ta vẫn có niềm tin có những cơ hội. Và có một điều quan trọng hơn nữa, đó là cái nhìn của người dân về chế độ chính trị, về chính quyền, về những người lập pháp, hành pháp, nắm quyền lực chính trị trong nước. Ta không thấy có sự ghê tởm, khinh bỉ và tuyệt vọng. Nói thế nào đi nữa, trong thời đáng sống mà chúng ta đã mất, chế độ chính trị thời đó vẫn có những ý thức về dân chủ, dân quyền, nhân quyền, và người ta đã nhìn một cách đích thực về những giá trị nhân bản đó, thay vì bóp méo trong diễn dịch để nói rằng dân chủ thực sự phài là một chế độ chuyên chính! Bởi có dân chủ, cho nên chúng ta mới bảo vệ được gia đình, tôn giáo và tồ quốc. Thậm chí nhờ có dân chủ, xã hội thời đó tuy cũng như bao xã hội của những chế độ khác, là một xã hội có giai cấp (class society), nhưng nó vẫn mở đường và tạo cơ hội cho sự dịch động giai cấp (class mobility), con người có thể thăng tiến tùy theo những nỗ lực vươn lên của mình. Ngược lại, chính sức mạnh “vô song” của chuyên chính vô lại đã làm cho giai cấp cầm quyền tự tung tự tác áp đặt một chế độ xã hội tam vô để tước đoạt những giá trị căn bản nhất của con người: tổ quốc như là một nền tảng của dân tộc, gia đình như là một định chế xây dựng con người, tôn giáo là nguồn sáng đạo lý cho đời sống tinh thần, tâm linh. Dĩ nhiên, người ta không còn dám rao món hàng tam vô nữa, nhưng cái bàn chất của chế độ này hiển hiện trong văn hóa xã hội và văn hóa chính trị ngày nay - như chúng ta đã chứng kiến qua Đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam vào giữa tháng giêng năm 2016. Ơng tổng bi thư được “tái cử” Nguyễn Phú Trọng phát biểu với hãng Associated Press khi mới tái đăng quang: “Một chế độ độc đảng là một sự lựa chọn thay thế nhiều lần tốt đẹp hơn một chế độ chuyên chính đội lốt dân chủ” (One party rule in communist Vietnam is a far better alternative to authoritarianism disguised as democracy). Thông tấn viên này nghe xong muốn phát điên! Tại sao lại phải lựa chọn giữa “one-party rule” và “authoritarianism diguised as democracy” mà không chọn hẳn “democracy”. Chẳng lẽ người dân Việt ý thức dân chủ kém hơn người Miến Điện? Hay thực sự chỉ là lãnh đạo tại Hà Nội quá tham quyền để bám chặt quyền lợi, tồi tệ hơn cả những chế độ dân chủ giả hiệu! Giả hiệu là dấu hiệu người ta còn biết sợ người dân. Và người dân thực sự đáng sợ. Ngược lại, chế độ độc tài thì chẳng bao giờ sợ dân, có lẽ vì người dân chẳng đáng sợ. Chính cái đầu và con tim đã khiến cho ông tướng lãnh đạo Miến Điện từ bỏ quyền lực, mở đường cho dân chủ ngày nay và bà Aung San Suu Kyi mới có cơ hội “ngàn năm một thuở” hiện nay. Nhưng bao giờ người Bắc Bộ Phủ cũng có vấn đề thiếu cái đầu để hiểu lẽ phải và con tim để cảm nhận được nguyện vọng người dân!
Những ký ức đẹp đẽ của một thời đáng sống dĩ nhiên bao giờ cũng có đó, vì thực sự có gì đáng gìn giữ hơn vào một lứa tuổi nhiều thứ đang ra đi. Trong bối cảnh tàn khốc của thời đại, trong cuộc đời sắc sắc không không này, chúng ta cần biết tìm niềm vui ở những gì mình đã có đề quên đi những gì đã mất. Nhất là những gì đã có mà không thể tìm lại được, những gì đã có mà những thế hệ sau không đời nào có. Thôi thì hãy nghĩ cái không có hiện tại chính là cái đã có trong quá khứ. Một bài hát rất quen thuộc với người Mỹ đã nói lên tâm sự này của những người ngoái nhìn lại một thời đã mất: “The way we were” – bài hát cho phim cùng tên với hai tài tử nổi tiếng một thời Robert Redford và Barbara Streisand cũng nói lên tâm sự đó:
Memories, may be beautiful and yet
What’s too painful to remember
We simply choose to forget
So it’s the laughter we will remember
Whenever we remember
The way we were…
Những kỷ niệm nhức nhối hãy cố quen đi, chúng ta sẽ chỉ nhớ những tràng cười thoải mái mỗi khi nhớ lại nếp sống ngày xưa! Dễ như tiểu thuyết! Đẹp như tranh vẽ!
Người Mỹ thuộc thế hệ baby-boom đang trăn trở tuổi già trước câu hỏi “what was wrong with us”. Chúng ta đã sống thế nào khiến cho ngày nay mắc chứng trầm cảm? Theo một nghiên cứu của hai nữ giáo sư Sherry A. Beaudreau và Christine E. Gould của Đại học Stanford, mọi lứa tuổi đều ít nhiều có vấn đề tâm thần, nhưng thế hệ baby-boom đang có những vấn đề nghiêm trọng nhất bởi vì người ta mỏi mệt, người ta thất vọng, người ta cô đơn. Cuối đời, họ thấy cuộc đời vô nghĩa, vô thường, cả một đời chỉ muốn hơn người và hưởng thụ (sân si!) nhưng cuối đời mới nhận ra mình chẳng hơn ai, và cũng chẳng cần hơn ai bởi vì con người có lẽ cũng chẳng đáng gì để hơn thua. Cứ nhìn những nhà chính trị thời danh hiện nay. Họ có đáng gì chăng để hơn thua với họ? Mỹ có Trump, Nga có Putin, Anh có Johnson, Tàu có Tập Cận Bình, Bắc Hàn có Kim Jong-un, Phi có Duterte, Kampuchia có Hun Sen … Chưa bao giờ có một thế hệ cao niên chán ghét những nhà chính trị như hiện nay, khi người ta có cảm tưởng đang bị “khủng bố”, phản bội, lừa dối, từ chuyện phúc lợi y tế đến an sinh xã hội. Trăn trở của lớp cao niên là một thực tế cần được nhìn đến và chia sẻ. Và một trong những lời khuyên của hai nhà nghiên cứu tâm lý này là người ta nên cởi mở hơn, sẵn sàng chia sẻ hơn. Nhìn lại đời mình là chuyện chẳng tránh được, và để cho quá khứ nhẹ nhàng hơn trong tâm tư thì nên nói ra.
Trông người mà nghĩ đến ta, thế hệ baby-doom của chúng ta chắc chẳng khác baby-boom bao nhiêu, nếu không nói là còn trăn trở hơn nhiều, những trăn trở chính đáng từ những mất mát không tìm lại đưọc của một thời đáng sống làm cho chúng ta tuyệt vọng, và những nghiệp chướng chính trị, lịch sử đưa chúng ta đến đây làm cho chúng ta phải nhớ mãi “chúng ta là ai” trước đây cũng như “chúng ta là ai” bây giờ trên đất nước, trong xã hội này. Chính từ những tâm sự trăn trở này mà trong thời gian 10-15 năm qua một phần của những bài viết của tác giả là những hồi ức từ một thời đáng sống và cũng là một thời đáng quên đó. Góp nhặt và viết thêm những hồi ức tản mạn này trước hết là để nhìn lại một phần đáng nhớ trong cuộc đời ngắn ngủi. Nhưng là một người mang nghiệp dĩ cầm bút, người viết chẳng thế nào viết mà không nghĩ đến người đọc, những gì mình muốn bạn đọc chia sẻ, cảm nhận. Đó là tất cả những cân nhắc trong nỗ lực sưu tập này.
Hai tác giả Beaudreau và Gould chỉ đề cập đến một phần vấn đề trong cuộc sống tinh thần của người già. Bên cạnh mối trăn trở thường xuyên còn là một đe dọa của bệnh mất trí nhớ có thể đến sớm nếu cứ nhàm chán cuộc đời. Bỗng dưng không thể nhớ một chuyện đơn giản như tựa một bài hát quen thuộc “Tôi đứng bên sông tiêu điều. Bùi ngùi trông em vể bên xóm xưa hắt hiu. Sương ngác ngơ phai mòn chiều…” (Bao nhiêu người còn có thể nhớ được bài hát u hoài này). Hay tên của một người bạn mang tiếng oan “vui tính” (gay) từng chung phòng trong Đại học xá Dalat thuở xưa. Hay trung vệ nào từng đá thay Đực 1 trong hàng tiếp ứng của đội Tổng Tham Mưu, bên cạnh Thanh và Văn (chính là Mỏng, và đội bóng này có một tiền nội tên Mành, bị mang tiếng vì lỡ va chạm với tiền nội lừng danh Đỗ Quang Thách của AJS, khiến cầu thù này gảy chân, không chơi lại được). Cuộc sống càng ít đọc, hay càng ít có gì đáng đọc, mà chỉ xem những show ca hát ngày càng nhảm nhí từ trong ra ngoài (nước) và những hài kịch ngày càng ngu xuẩn phơi bày rất nhiều trình độ người xem, Alzheimer càng gõ cửa sớm mà không nghe được vì chứng lãng tai tuổi già. Đó là một nguy cơ nghiêm trọng nhất cho những người trong tuổi bảy mươi mấy khiến cho chính phủ phải mất hàng chục tỷ một năm, theo ký mục gia Kathleen Parker trên The Washington Post. 
Hay cứ xem câu chuyện của người bạn thân một thời Nguyễn Tường Cẩm (thời nay thì cũng khó có bạn thân đúng nghĩa như thời xưa). Cẩm mấy chục năm trước là người nổi tiếng nhất trong Viện Đại học Dalat qua những hoạt động của Hội Thanh niên Thiện chí và quán T2. Ở bên này, trong thập niên đầu tiên của thiên niên mới, anh cũng đã làm một chuyện vĩ đại: sưu tập đóng góp của hàng trăm sinh viên khóa 1 của Trường Chính trị Kinh doanh để in ra cuốn Kỷ yếu của khóa này - thời đó còn đủ Quang Du ca và Quang Già cơ. Thế nhưng rồi vài năm qua, bỗng nhiên anh “biến mất” – im hơi vắng tiếng. Anh 75 mà sớm bị Alzheirmer. Như thế là quên hết bạn bè. Anh chẳng còn nhớ bất cứ ai. Chỉ biết duy nhất chị Liên vợ anh như thời còn quán T2. Nhưng còn đáng buồn hơn nữa, anh âm thầm kinh hoàng và buồn bã trước sự ra đi dần của bạn bè. Anh cứ lẩm bẩm cả ngày: Đi hết, đi hết rồi. Rốt cuộc chẳng còn ai… Anh còn chẳng tin những người bạn đến thăm anh đứng trước mặt anh là thật.
Trông người mà nghĩ đến ta. Cho dù động não thường xuyên, lục lọi trí nhớ có thể giúp chống lại tai họa, thế nhưng với sự tấn công liên tục của thời gian, cũng có lúc ta phải đầu hàng thôi. Đến lúc đó, còn muốn ngồi trước máy nữa không. Hay nếu ngồi, có còn nhớ được gì không, bởi vì đâu phải chuyện gì google.com cũng biết, nhất là những chuyện riêng tư. Và cứ chờ đợi, lần lửa mãi, thì cuối cùng, còn ai nữa mà đọc “tác phẩm để đời” của mình. Biết bao người được nhắm đến đã không còn nữa: thầy Nguyễn Như Cương, Nguyễn Ngọc Linh, bạn văn như Diễm Châu, Nguyễn Xuân Hoàng, bạn học như Minh Hân, Trần Đại…, bạn già như Nguyễn Văn Diệp, Nguyễn Xuân Oánh, Douglas Pike… Tôi chẳng thể chờ đợi, mà những bạn đọc còn trong tầm mắt của mình cũng chẳng thể chờ đợi… Bởi thế, sưu tập này được hình thành là một “quyết định khôn ngoan” trong ý thức về sự đe dọa nghiêm trọng của những kẻ thù chung của thế hệ baby-doom mà chúng ta phải cương quyết không thể đầu hàng dễ dàng đến thế được. Chẳng thể để một thời đẹp đẽ hiếm hoi sẽ hoàn toàn ra khỏi trí tưởng của chúng ta. chẳng để lại dấu vết gì.  
Thực ra chẳng có gì khó khăn khi đi tìm một tựa cho tập sách sưu tập những bài viết có tính cách hồi ức này - những bài đã được đăng trong khoảng mười năm quavà những bài mới sau khi đã có quyết định “rửa tay gác kiếm”. Let’s call a spade a spade. Tập sách này nhằm vọng lên những trăn trở của một người Việt thuộc thế hệ baby-doom mà tác giá tin rằng cũng phản ảnh những trăn trở của rất nhiếu người cùng thề hệ này. Trăn trở trước những câu hỏi ám ảnh thường trực “who were we, who are we?” – tại sao chúng ta phải mang kiếp tha hương mất nước, tại sao chế độ “chuyên chính” tại Hà Nội hơn 40 năm qua đã làm cho chúng ta tuyệt vọng thật khó “hẹn một ngày về”, và nỗi thất vọng, hoang mang khi cuộc sống trên “vùng đất hứa” ngày càng khó tin là “vùng đất của những cơ hội” bởi vì chuyện “tham dự” hay “hội nhập” xem chừng vẫn còn khó khăn quá trong một đất nước người ta vẫn tin ở chuyện đa chủng mà không có nỗ lưc “văn hóa nhất thống” bởi vì một hệ thống chính trị và chính quyền đang nứt rạn, đổ vỡ trước sự tương phản không thỏa hiệp được giữa hai giá trị “cộng hòa” và “dân chủ”. Chúng ta cũng có những trăn trở khi nghĩ đến thời gian đã mất - những mất mát văn hóa dân tộc sâu đậm vì xã hội chúng ta quen thuộc một thời nay không còn nữa dù ở đây hay trên quê nhà, vì lối sống gia đình chúng ta đã từng gần gũi nay chỉ còn là quá khứ. Nếp sống cũ nay chẳng còn, và chẳng có gì đủ sức thay thế cho nên để những khoảng trống u hoài trong cuộc sống của chúng ta. 
Nhan đề của sách phải chuyên chở nội dung hay chủ điểm của sách. “Trăn trở cuối đời” đương nhiên phải là lựa chọn thuyết phục nhất. Những gì được chuyên chở là một thời đã mất, bài hát “Those were the days” với giọng ca nhẹ nhàng, quyến luyến của Mary Hopkins vẫn day dứt trong tâm tưởng hàng ngày (Mary Hopkins còn bài “Goodbye my love” làm tôi nhớ đến Vũ Ngọc Ân - người duy nhất chung đường với tôi từ trường học ra trường đời. Ân đã từng “say mê” nữ ca sĩ có lẽ dễ thương nhất trong các nữ ca sĩ một thời – tương đương với Thái Hiền của chúng ta). Tập sách này không chỉ nói chuyện lịch sử chính trị thời xưa và thời nay. “Trăn trở cuối đời” nhớ về một đất nước thời xưa, xã hội thời xưa, gia đình thời xưa, trong khung cảnh văn hóa thời xưa. Cha mẹ thời xưa, vợ chồng thời xưa, anh chị em thời xưa, con cái thời xưa, hàng xóm thời xưa. Trường lớp thời xưa, thầy cô thời xưa, bạn học thời xưa. Và nhớ đến sự phong phú lạ thường của một thời về văn học qua bao nhiêu giai đoạn, về âm nhạc vừa chan chứa sâu xa tình người, vừa lãng mạn cá nhân… Nhớ lại những ngày xưa đó để thấy quả thật một nếp văn hóa đã bị hủy diệt nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng, sự nghèo nàn trong cuộc sống ngày nay: người ta đang thực sự đọc sách gì, đang hát nhạc của thời nào, đang ru con ngủ bằng những điệu ca nào… 
Bởi thế mà tôi chọn cho tập sách tựa “Trăn trở cuối đời” - thật chẳng khó khăn gì. Chúng ta chẳng có thể hiện hữu và chẳng có an bình thực sự trong tuổi già nếu không có những trăn trở, suy nghĩ về một thời và những mất mát mà chẳng những thế hệ baby-doom nay không có cách nào tìm lại được, mà ngay cả những thế hệ về sau cũng vô phương bởi vì không có cách nào chuộc lại một nền văn hóa đã mất. Tuy nhiên, ban đầu tôi cảm thấy đắc ý với tựa “Hồi ức góp nhặt từ một thời đã mất”. Tưởng như không thể có tựa nào hay hơn. Tôi vẫn bị “ám ành” bởi “một thời đã mất” cho dù chưa hề đụng đến cuốn sách của anh tôi Hoàng Ngọc Biên “À la recherche du temps perdu” mà tác giả là Marcel Proust - cuốn sách có lẽ anh ưng ý nhất trong đời. Bởi lý do tôi không đọc sách tiếng Pháp. Thời của tôi, người ta chuyển qua học tiếng Anh, “Practice your English” hay “English for Today”! Vả lại, thời trung học, tôi mắc phải nuốt hai môn vật lý và hóa học; lên đại học, kinh tế, kinh doanh, rồi chính trị và chính quyền. Mà nếu có đọc sách tiếng Pháp, tôi cũng sẽ không đụng đến ông đó. Bởi vì tôi biết rất chắc cái “một thời đã mất” của ông chẳng dính líu gì đến, thậm chí còn rất khác, “một thời đã mất” trong tâm tưởng của tôi, hay nói chung, trong tâm tưởng của tất cả chúng ta. Ông là ông tây. Tôi là ta. Ông ở một nơi nào khác, một thời nào khác nơi của ta, thời của ta. Ông mất một thời của ông, ông vẫn còn sống; chúng ta mất một thời của mình, chúng ta đã thấy cuộc sống hư vô. 
Sưu tập này có khoảng 50 bài trên tổng số hơn 2.000 bài viết đã được đăng trong thời gian gần mười năm qua trên các tờ Saigon Nhỏ (tuần báo và nhật báo), tuần báo Viet Tribune và nguyệt san Bút Tre. Đương nhiên tôi không thể nhắc đến một cách trân trọng cơ duyên đến với tờ SGN của chị Hoàng Dược Thảo, nạn nhân của một vụ cướp giật công khai giữa ban ngày ai cũng biết. Chị với tôi tuy cùng họ (hay họ gần giống nhau nếu chị họ Huỳnh) nhưng chẳng phải là chỗ quen biết trước. Thậm chí tôi có thể biết chị, nhưng chị chẳng biết gì tôi, vì trước năm 1975, chị đương nhiên không đọc tờ Saigon Post nằm trên đường Trần Hưng Đạo số 339, và cũng chẳng làm ở Bộ Kinh tế góc đường Gia Long và Catinat. Thậm chí chẳng có ai giới thiệu, gởi gắm tôi cho chị. Thế nhưng một ngày đẹp trời vào tháng tư năm 2006, khi đọc bài của tôi gởi đến, chị ưng ý ngay; tôi hỏi tiền nhuận bút, chị trả ngay, và thế là tôi tức thì trở thành người của Saigon Nhỏ giữ mục Nhận định Thời cuộc. Hai chúng tôi chưa hề có một lần bất đồng ý kiến trong mười năm làm chung. Đúng là người có mắt tinh đời. Tôi nói cho cả chị và cho tôi! 
Với tờ VT, tôi viết ngay từ số đầu tuần báo này ra đời ngày 5-5-2006. Chỉ sau ba tháng, anh Nguyễn Xuân Hoàng đã có một quyết định “dũng cảm”: tuy nơi tờ Viet Tribune trú đóng chẳng thiếu gì anh hùng hào kiệt trong nghề báo (San Jose và Orange County gần đó), anh vẫn chọn những bài viết của tôi mở đầu trang báo – cho đến khi anh qua đời. Anh đã qua đời, cho nên tôi chẳng có thể nói giỡn anh có mắt tinh đời, nhưng là người chuyên nghiệp, anh đã có một quyết định “không sai”. Và thắp một nén nhang cho anh ở đây để hiểu được sự tai nghiệt cùa số phận dành cho một người chủ bút “tử tế”. 
Mộng Tuyền là một chủ nhiệm&chủ bút còn quá trẻ của tờ Bút Tre. Cô lớn lên bên này, và đúng là học thành tài trong ngành quản lý điện toán. Nhưng cô vẫn xem trọng một mặt khác (không phải là mặt trái) của cuộc đời của mình: văn nghệ sân khấu và báo chí để vừa “nhân hóa” con người của mình vừa đến với cộng đồng người Việt mà cô vẫn luôn luôn thấy gắn bó như là một phần”bất khả phân” trong đó. Tình cảm của MT đối với “cô chú Nguyên” luôn luôn làm chúng tôi cảm kích – cũng hơn mười năm nay. Và tuy còn nhỏ tuổi rất nhiều so với NXH, quyết định của cô cũng dứt khoát và mạnh dạn không kém đối với một người cô trước đây không hề biết, lại ở xa. Thank you, MT! Your decision is more than correct!
“Trăn Trở Cuối Đời” theo “kế hoạch là một bộ sách gồm ba tập. Tập 1 là Biên Niên Sử về “Cuộc Chiến Vô Đạo” khiến cho nước mất nhà tan và đưa Việt Nam vào thời đại văn hóa hủ bại. Biên Niên Sử dài gần 60.000 do tác giả sưu tập là một phần cần thiết không những cho ai muốn hiểu về cuộc chiến mà còn là bối cảnh soi sáng những luận điểm của những bài viết trăn trở sau đó về cuộc chiến nước mất nhà tan này. Tập 2 bàn đến những bài học lịch sử và chính trị dân chủ của nước Mỹ mà phần lớn người gốc Việt không hề quan tâm nghiêm chỉnh. Tập 3 nói về một thời đáng sống, đáng nhớ với gia đình và bạn bè - một thời. Tập sách bạn đọc đang có trên tay là về cuộc chiến vô đạo, để giúp tạo một kiến thức căn bản về cuộc chiến lịch sử của đất nước Việt Nam đưa đến hờn vong quốc hiện nay. 
Bài giới thiệu này đã dài đủ để chấm dứt. Đức Phật đã dạy nếu không biết lúc phải ngừng thì sẽ không bao giờ biết ngừng lúc nào. Cứ trông ông Trump! Là một Phật tử “chân chính” (có một “identity” phải nhìn nhận với quốc kỳ và quốc ca truyền thống), tôi đôi khi vẫn nhớ lời Ngài dạy: “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình”. Nhưng tôi vẫn muốn, ngọn đèn khi tỏ khi mờ của mình sẽ góp phần vào ánh sáng chung mà chúng ta đang tìm kiếm, và cho dù mỗi chúng ta phải nương tựa chính mình, chúng ta sẽ vẫn có thể dựa vào nhau cho thêm chắc chắn để cùng nhau hiện hữu trong những trăn trở cuối đời này. 
Và hơn bao giờ hết tôi cảm nhận được chỗ dựa không thể thiếu được của mình, từ bao giờ mà không phải đợi đến lúc cuối đời, nơi gia đình chung quanh, nơi Phương, nơi Giao-Tiến, Hân, Bình-Quyên, Quốc-Phượng, nơi Thiện, Tường Vi, Liam, Johnny, Tony.