TRẦN TRUNG SĨ
(Đôi lời xin thưa:
Đây là một bài ký, một ghi chép, một truyện ngắn, tác giả đã gởi riêng cho người giữ blog này. Xin cảm ơn tác giả và mời thân hữu, bạn đọc đọc "một câu chuyện thật, cảm động và đau thương của cuộc chiến tranh mà thế hệ của tác giả và người giữ blog này đã trãi qua, hứng chịu những hậu quả và di chứng mà thời gian chưa xóa hết. Cuộc chiến vừa qua trên đất nước chúng ta mang nhiều tên gọi khác nhau, nhưng với thế hệ chúng tôi, người trong cuộc, đó là sự mất mát, đau thương của " Hai mươi năm nội chiến". Kết thúc cuộc chiến, dĩ nhiên là một phía chiến thắng, một phía chiến bại, nhưng giữa đôi bên, trong một gia đình, giữa cha, con, vợ, chồng, anh, em,...vết thương sâu hoắm, đau lòng, vì không có cách hòa giải!...)
Trường Hạ Sĩ Quan Q. L. V. N. C. H. tại Nha Trang ( ảnh Internet)
Chỉ khoảng một tuần sau ngày Sài gòn sụp đổ, cậu
tôi từ Hà nội đã vội bươn chải vào Nam , bỏ lại hết ngoài ấy, trở về lại nhà,
sau gần hai mươi năm kể từ ngày tập kết ra Bắc.
Gia dình cậu tức bên ngoại tôi sống ở
một làng quê kế cận thành phố Huế. Từ ngày tôi lớn lên, nhớ lại, làng ngoại tôi
bình lặng, không thay đổi gì nhiều. Bao nhiêu năm cũng chỉ một con đường đất đá
nối từ quốc lộ 1 chạy băng ngang qua cánh đồng rộng mênh mông, mùa lụt nước trắng
đồng, mùa hạ mùi đất ruộng và có lúc cả mùi hương lúa thoang thoảng dễ chịu. Đi
vào làng con đường chạy dọc con hói nước đục , dẫn đến trung tâm gồm chợ làng ,
bao quanh là một vùng cây cối lớn kế cận đình làng và ngôi chùa khá khang
trang. Con hói những tháng mưa có khi nước dâng lên ngập cả đường làng, tháng nắng
nước rút xuống thấp lâu lâu mới thấy bóng dáng một con đò nhỏ. Thời chống Pháp,
làng tôi nằm rìa chiến khu trên núi nên thường xuyên bị bố ráp, bắn phá. Ông
ngoại tôi bị Pháp giết, các cậu và dì tôi đều tham gia kháng chiến, phần lớn tập
kết ra Bắc năm 1954.
Mặc dù là vùng cận chiến khu xưa, truyền thống
kháng chiến, nhà nào cũng có người tập kết, trong chiến tranh chống Mỹ làng tôi
không bị chiến tranh tàn phá. Thỉnh thoảng người trên rú (núi) tìm cách bắt
liên lạc chuyển về một số tin tức, thư từ và hình ảnh của thân nhân tập kết
ngoài Bắc khiến một số người trong làng bị tạm giam, thẩm tra , xét hỏi, nhưng
nhìn chung bóng dáng chiến tranh không thấy nhiều trong làng. Cái mất mát, tàn
nhẫn, thù hận của hai phía ở đâu không biết chứ ở làng tôi ít khi nghe nói hoặc
rầm rì với nhau.
Những năm 65, 66 chiến tranh bắt đầu lan rộng
, một số vùng quê Quảng trị , Thừa thiên dần trở thành chiến trường khốc liệt, mức
độ tàn phá của bom đạn khiến chết chóc và đau thương lan tràn. Nằm cách không
quá xa vùng núi thường xuyên bị bắn phá, nhưng do cũng gần thành phố nên làng
tôi vẫn được yên lành cho tới biến cố Mậu Thân.
Đối với gia đình cậu tôi, cái ngày cậu trở lại
vào tháng năm năm 75 ấy cả nhà như sống dậy, mừng rỡ khóc òa. Hai mươi năm xa cách có nhận thông tin của cậu nhưng mợ
tôi và các chị tôi không ai tin rằng chuyện trở về lại có thể xảy ra dễ dàng
như thế nầy . Chừng ấy thời gian, cậu tôi trông có già hơn nhưng không khác trước
là mấy, vẫn khuôn mặt đầy đặn, nước da vẫn
ngâm đen, cặp mắt thâm quần với một chút tinh nghịch khi cười, giọng nói chậm
rãi hòa nhã . Đặc biệt hai mươi năm ra Bắc,
lúc nào cũng trông trở về nhà, không màn đến chuyện lập gia đinh ngoài ấy như một
số đàn ông tập kết khác khiến niềm vui của gia đình hầu như trọn vẹn.
Cứ tưởng là niềm vui trọn vẹn, nhưng thật ra không đơn giản như vậy.
Ngày
đầu tiên về lại nhà cậu tôi hạnh phúc lắm. Đi quanh một vòng, thấy không thay đổi
gì so với ngày ra đi cậu tôi mừng ra mặt. Con xóm trước nhà và quanh vườn vẫn rợp
bóng tre già. Nhà trên lẫn nhà dưới vẫn vậy, chỉ có mái nhà trước kia lợp tranh
nay lợp tôn. Vẫn là tường gạch và vôi, nền nửa gạch nửa đất, riêng chuồng heo ở
sau gần bếp là được xây lại bằng tap-lô. Trước nhà vẫn cái sân đất rộng và chiếc
bể cạn nuôi cá. Vườn nhà vẫn là ngày ấy, một số là cau, cam, chè còn lại là chuối,
gồm chuối cau, chuối mốc và chuối cau quảng (chuối Đồng Nai). Phía sau nhà, cây
giáng châu (cây măng cụt) phủ bóng, cành vẫn đầy đặn, không lớn hơn ngày xưa
bao nhiêu. Không có gì thay đổi quả là điều đáng mừng sau bao nhiêu năm chia cắt.
Vậy mà vẫn có một thay đổi, đó là trên bàn thờ
ông bà ở nhà trên, có thêm hình anh tôi, hình đen trắng đã nhạt. Anh tôi trong
hình đội nón vải, mặc áo lính Cộng Hòa, cặp mắt sâu, nhìn xa xăm, rất buồn. Cậu
tôi chắc đã biết chuyện về anh tôi, đã khựng lại một chút trong nỗi đau bất chợt
khi ông thắp nén hương lên bàn thờ ông bà vào cái đêm đầu tiên về nhà.
Chỉ ngày đầu tiên là không có gì, sang đến hôm
sau chuyện cái hình anh tôi trên bàn thờ trở thành vấn đề. Cậu tôi tỏ ý không
muốn có hình anh tôi trên bàn thờ. Cậu phán thẳng với mợ tôi và các chị tôi rằng
không thể thờ một đứa lính Ngụy, theo địch chống lại nhân dân. Lời phán của cậu
làm mợ tôi bàng hoàng, nghẹn ngào, không nói được nên lời. Còn chị tôi con cậu
chạy xuống nhà dưới ngồi lặng lẽ một góc nước mắt lưng tròng. Chị ấy cũng có chồng
đi lính Cộng hòa, chắc lại càng thêm tủi thân.
Mợ tôi là một mẫu mực của phụ nữ Miền Nam có
chồng con đi tập kết. Ngày ngày chỉ biết ra chợ làng buôn bán, một thân một
mình tần tảo lo cho bốn đứa con. Không
bao giờ tôi nghe mợ có một tiếng than vãn hay oán trách hoàn cảnh hay bất cứ
ai. Sau khi phân bua trong nước mắt rằng
anh tôi bị động viên đi lính như mọi người khác ở trong nầy, rằng anh tôi lúc
nào cũng hết lòng lo lắng cho gia đình, rằng trong làng ai cũng thương mến vì
tính tình của anh tôi. Có lẽ do không muốn đổ vở trong ngày đầu tiên vợ chồng
đoàn tụ nên mợ tôi đã im lặng, đi chọn chiếc áo dài lành lặn nhất, cẩn thận
mang hình anh tôi xuống gói lại trong chiếc áo, đem đặt cạnh chỗ đầu giường mợ
nằm. Ngay từ trong ngày đầu tiên cậu tôi không còn vướng gì chuyện anh tôi, thế
là yên tâm.
Chỉ
sau có ai đó nói rằng hồi đi học, giá như anh tôi khai lý lịch cha và anh đã chết
chứ đừng khai đi tập kết thì là con trai duy nhất sẽ được hoãn dịch, đâu có bị
đi lính chết thảm. Có người bảo là anh tôi chịu chết vì không muốn chấp nhận
cha và anh mình đã chết. Nghe nói câu ấy đến tai cậu tôi, ông mất ngủ cả mấy
năm trời.
Anh tôi dù là anh em cậu cô, nhưng chúng tôi
coi như thể là anh ruột lớn nhất trong nhà. Ấy là bởi vì khoảng mấy năm sau ngày
cậu tôi tập kết ra Bắc và hòa bình trở lại, mợ tôi gởi anh về Huế ở nhà tôi để
đi học trung học tại trường Bồ Đề. Ở trong một nhà , gần gũi thương mến nhau
tình như ruột thịt.
Sống ở trên quê, nay được xuống phố nên tính
anh nhường nhịn, không bao giờ to tiếng, tranh cãi với ai. Anh lại rất chịu
khó, không nề hà, tránh né bất cứ chuyện gì ba mẹ tôi nhờ, cả việc nặng nhoc và
dơ bẩn. Dù chưa là người lớn và phải đi học như chúng tôi, anh là tấm gương làm
việc nhà và chịu đựng thiếu thốn, cực khổ cho chúng tôi noi theo.
Khác với cậu tôi và người anh đầu đi theo cậu,
tự tin và vui vẻ, khuôn mặt anh tôi có nét hơi buồn, dù thỉnh thoảng cũng có nụ
cười nhè nhẹ, rất hiền. Hình như anh nghĩ là nhà ở quê, nghèo, lại không có
cha, phải nhờ sự giúp đỡ của o dượng về phố ăn học nên thấy không vui, đôi lúc
không dấu được cái chắt lưỡi, chép miệng. Và có lẽ vì vậy mà mặc dù đi học ở
trường Bồ Đề nhưng hầu như anh tôi không kết bạn với ai, tôi thấy mà ái ngại
cho anh.
Hơi buồn và giống như yên phận là thế, nhưng
anh ấy lại rất sống động khi giới thiệu cho tôi những bài hát kháng chiến. Những
bài hát, câu hát kháng chiến qua giọng hát, một chút ngân, mộc mạc nhưng rất
truyền cảm của anh tôi nghe từ thời nhỏ ấy như đã theo tôi đi suốt cả khoảng đời
trai trẻ sau nầy.
“ Đèo ,
đèo Ba Rền. Đi lên người ơi. Cho ta nhắn đôi lời gởi về chiến khu. Đây đi vô
trong Nam, đây đi ra Việt Bắc. Nghìn trùng hiu hắc đường xa mấy ngày. .
.” . Sau chiến tranh khi đạp xe đạp ra lại
Quảng Trị, qua đèo Ba Rền tôi bỗng nhớ chất giọng của anh khi hát bài nầy, bài
Đường Rừng.
Hoặc
bài Mùa đông Binh sĩ của Phan Huỳnh Điểu được hát trại : “ Mùa
đông đến lạnh lùng, gió ào ào. Lòng nhớ nhung người chiến sĩ dãi dầu chốn xa. .
.”
Bài
Tiếng hát sông Lô, anh ấy hát : “ Ai nhớ sông
Lô giặc lên ăn cướp dân ta. Tôi nhớ sông Lô ngày nào chôn xác quân thù. Khoan
ơi khoan hò hò khoan. Hởi anh Vệ Quốc cầm
súng ngang tàng, thuyền tôi đậu bến Tuyên Quang. Nửa đêm nghe tiếng quân thù là
thù khóc than. . .”
Có
khi là những bài hát hành khúc nghe rất phấn khích: “ Trai hùng Nam quốc quyết đêm thân ra sa trường. Mau mài gươm giáo đánh
tan quân sài lang. Hồn thiên ai đang đâu đây giúp ta giết giặc chung. Cùng tuốt
gươm lên ta thề lời non sông. . .”
Những
sáng tác nổi tiếng trong kháng chiến qua cảm xúc của quần chúng thường được đổi
thay một cách đầy ngẫu hứng và bình dị cả âm điệu lẫn lời ca, nhiều lúc lại dễ
đi vào lòng người hơn cả nguyên tác. Chính là anh ấy và những câu hát đầy cảm
xúc ấy đã phần nào định hình tình tự kháng chiến trong tôi.
Anh ở nhà tôi được mấy năm cho đến khi trường
trung học mở ở gần làng thì anh trở về nhà .Từ đó chúng tôi chỉ thỉnh thoảng gặp
nhau khi tôi về làng thăm bà ngoại. Những lần về quê ấy, tôi thường cùng anh đứng
đạp bóc vỏ đầu phộng, bắt cá rô phi nuôi trong bể, ra vườn cuốc đất, rảnh rỗi
cùng thi nhau leo lên cây giáng châu xem ai nhanh hơn và ngồi đong đưa, hoặc
trưa hè ra ruộng lúa trái mùa nằm nghỉ trên thảm cỏ gió hiu hiu, nhìn lên trên
vùng núi đồi núi xa xa phía tây.
Tôi nhớ có một lần anh đưa cho tôi xem
thư và hình của cậu tôi ở Hà nội gởi vào, có lẽ gởi theo đường dây trên rú.
Trong hình cậu tôi chụp chung với người anh đầu và vợ mới cưới nhân anh ấy lập
gia đình, tất cả trông rất vui vẻ. Trong thư phần lớn nói tốt về cuộc sống ở
ngoài ấy. Anh tôi có vui một chút nhưng rồi đâu lại vào đó. Tôi có cảm tưởng, với
anh, những gì trong hình và thư như là ở một thế giới xa xăm, không dính dấp gì
với cuộc sống hiện tại của anh và gia đình. Và vì vậy chỉ một lần đó, sau nầy
không bao giờ tôi thấy anh nhắc đến chuyện ngoài ấy nữa.
Năm tôi vào học trường Quốc học, anh ấy không
vào được như tôi. Vậy nhưng vì không muốn bỏ học, anh xin gia đình chấp nhận tốn
tiền để được vào học tiếp đệ tam ở trường tư thục Bình Linh. Trường Bình Linh vốn
là một trường dòng, tên cũ là Pellerin , bị bắt đổi tên Bình Linh hồi ông Diệm
mới lên, trường có truyền thống lâu đời ở Huế, khá uy tín. Trường rất đẹp và bề
thế, khuất mình trong bóng cây cao, nằm đầu đường Lê Lợi, gần ga Huế, cạnh sông
Hương .
Đường Lê Lợi ở Huế là con đường học hành. Đầu
đường gần Ga Huế có trường Bình Linh, có Tòa Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, nhìn
qua bên đường là Đại học Luật khoa, đi dần
xuống có hai trường trung học lớn là Quốc Học , trường nam và Đồng Khánh , trường
nữ kế nhau, xuống nữa có Thư viện Đại Học , đến khu Morin có Đại Học Văn
Khoa, Đại học Khoa Học, qua khỏi đường
lên cầu Tràng Tiên có Trường Kiểu Mẫu và Đại học Sư Phạm, đó là chưa kể cạnh
trường Văn Khoa có trường Trung học Bán Công khá lớn cũng đổ ra đường nầy. Người
ta nói cứ mười người đi trên đường Lê Lợi có tới chín người không là học sinh
thì cũng là sinh viên hoặc thầy giáo. Những ai qua thời học sinh ở Huế, đều cảm
nhận được niềm hạnh phúc không dễ gì có được khi ngày ngày được hòa vào dòng xe
đạp trên đường Lê Lợi bên bờ sông Hương rợp bóng cây long não. Nhất là vào những
giờ khắc đi đến trường và tan trường về, được đạp xe đi hàng hai hàng ba với bạn
bè trên đường, ngay cả đi trong yên lặng cũng cảm thấy một sự thoải mái, nhẹ
nhàng , quên bẵng mọi phiền toái.
Từ
ngày học Bình Linh, thỉnh thoảng anh có gặp tôi nói chuyện bài vở, về các sư
huynh (frère) ở trường dạy hay. Vì trường tôi nằm trên đường anh đi học về nếu
theo hướng đổ về phố, nên đôi khi tôi có gặp anh ấy sau giờ tan trường . Anh đi
từ cầu Ga xuống, cũng hàng hai hàng ba, đạp xe chậm rãi với bạn bè trên đường
Lê Lợi. So với ngày trước một mình thủ phận, không bạn không bè, giờ thấy anh
hòa nhập được như vậy tôi rất mừng.
Mặc dù rất chịu khó học, nhưng anh tôi vẫn
không qua được tú tài bán, thế là không tránh khỏi bị động viên. Sau ngày ông
Diệm bị đổ, Huế thường xuyên biến động. Cùng với mối bận tâm ăn học, tôi cũng bị
cuốn hút theo dòng thời cuộc. Anh ấy bị nhập ngũ lúc nào tôi cũng không hay,
cho đến ngày gặp lại anh từ quân trường về trong bộ đồ lính, khá bất ngờ và lạ
lẫm.
Hôm từ quân trường Đồng Đế trở về, anh ghé ở lại
nhà tôi trước khi về làng. Tôi ngỡ ngàng vì sự thay đổi của anh. Đầu tóc cắt ngắn
kiểu đờ mi, khuôn mặt ngăm đen nhưng tròn trịa, nói năng hoạt bát hơn và thỉnh
thoảng không tiếc nụ cười. Không biết có phải vì mặc bộ áo quần lính trên người
không nhưng giờ thấy anh rắn chắc hẳn, toát ra một sự tự tin. Lần đầu tiên xa
quê một thời gian dài, sống trong môi trường và một thế giới khác hẳn, bị bắt
hoăc tự biến mình thành một con người khác trước nên có quá nhiều điều anh kể với
tôi. Đặc biệt tôi còn nhớ chuyện anh kể về một lần đi huấn luyện tấn công nhưng
mục tiêu lại là một cứ điểm tình nghi có du kích. Thế là chiếm được mục tiêu
nhưng đại đội anh bị chết một người, gọi là chết trong huấn luyện và người chết
không ngờ lại là một người ban học cùng lớp với tôi. Anh kể lại với sự thương
tiếc người bạn tôi nhưng không giấu được một chút tự hào về chiến công ấy của tập
thể học viên.
Năm năm sau khi tôi học hết đại học, trốn
lính, bị bắt và bị đưa vào cái Trung tâm Huấn luyện nầy. Lúc nầy tôi mới dần hiểu
được rằng vì sao anh ấy có thay đổi.
Chiến
tranh ở Miền Nam, do phần lớn vẫn là đánh du kích, vai trò tiểu đội là rất quan
trọng, quyết định thắng bại trên chiến trường. Nhiệm vụ của chỉ huy tiểu đội, thường
là trung sĩ, là rất căng, đứng đầu sóng ngọn gió, đầu tên mũi đạn. Vì vậy không
lạ gì trong cuộc chiến, chết trận nhiều nhất cũng chính là hàng trung sĩ. Trung
tâm Huấn luyện Đồng Đế, nơi đào tạo hạ sĩ quan tức trung sĩ duy nhất phía Miền
Nam, bởi vậy mà trách nhiệm là rất nặng nề. Lính ra trận sống chết nhiều hay ít
phần nào được định đoạt từ đây. Quân trường nầy đã được coi như là một lò luyện
thép đúng như câu mở đầu bài hát chính thức nghe có vẻ đầy tự hào của nó mà tụi
tôi thường phải hát khi đi nhịp đều theo hàng quân : “ Đây phù hiệu Trường Hạ Sĩ Quan, lò luyện thép tân tiến nhất Việt Nam. .
.”
Chế độ
huấn luyện tại Đồng Đế cho hạ sĩ quan như tụi tôi hết sức khắc nghiệt. Ở đây học
viên luôn phải đối đầu với sự vắt kiệt về sức lực và cái nguy hiểm rình rập, chịu
không nỗi, sa sẩy một chút là khốn nạn. Nó thấm thía với lời đe dọa xanh rờn
khi tôi chân ướt chân ráo vào trường rằng ở đây tụi tao được phép hao hụt trong
huấn luyện là ba phần trăm. So với Đồng Đế, nhìn lại mấy tháng huấn luyên ở
Quang Trung như đi dạo chơi. Chính vì vậy
mà anh tôi và cả tôi sau nầy khi tồn tại và qua được chặng đường bị hành hạ và
thử thách nầy đã thấy mình thay đổi, trở nên rắn rỏi, tự tin, không biết sợ nữa.
Thứ nữa là ở nơi nầy người ta triệt để dùng hình phạt tập thể để trị, cá nhân
làm sai cả tập thể chịu trận, phạt tất cả, không giải thích, không phân trần,
không phân biệt. Bằng cách nầy để tăng tính trấn áp, khép vào kỹ luật thép, buộc
thuần phục tuyệt đối, nhưng cũng do vậy mà hình thành tính đồng đội, vui buồn
cùng nhau, con người không còn xa cách và khép kín. Anh tôi cùng với sự rắn rỏi,
tự tin hơn đã trở nên cởi mở, có vui vẻ, đã có thay đổi . Nói theo giọng hồi đó:
coi bộ chịu cơm lính.
Về lại
quê, cấp bậc trung sĩ, trình diện tại Sư đoàn 1, anh tôi được điều động vào một
trung đoàn bộ binh và đóng quân ở khu vực ở Thừa Thiên giáp ranh Quảng Trị .
Lúc nầy
chiến tranh đang dần leo thang, đã có những trận đánh lớn giằng co trong các
vùng núi và nông thôn thuộc hai tỉnh, anh tôi vì vậy lâu lâu mới được về phép
thăm nhà. Vi tình hình chiến sự, gặp anh ngày càng ít, và khó khăn hơn. Qua mấy
lần gặp lại sau nầy sự thay đổi nơi anh ngày càng rõ, đen hơn, gầy và thường tư
lự. Không như ngày mới ở quân trường ra.
Cũng vào
giai đoạn nầy tôi được biết mợ tôi đã đi hỏi vợ cho anh. Người con gái dạm hỏi
cho anh là chi Ng. người cùng làng, cũng là chỗ quen biết với gia đình tôi, dì
ruột của một người bạn thân với tôi. Mặc dù tôi và chi Ng rất ít gặp nhau nhưng
tôi rất quý chị ấy. Gái ở quê nhưng cách xử sự và nói năng của chị ấy không
khác gì một thiếu nữ ở phố, rất Huế . Giọng nói chị hơi nhất cao cuối câu, nhẹ,
lời nói ân cần, dễ mến. Chị ấy bình dị, có quan hệ tốt với mọi người. Ngoài giờ làm việc chị có hoạt động gia đình
Phật tử. Là huynh trưởng nữ của đoàn Phật tử thường sinh hoạt ở chùa làng nên trong
làng ai cũng biết chị . Anh tôi không có gì nổi bật, nhưng được cái hiền, rất
lo cho gia đình và ham học. Vẻ ngoài có lẽ nhờ có được đôi mắt buồn và nụ cười
đôn hậu nên chị phải lòng. Tôi đoán là hai anh chị đã để ý và rồi quen nhau đã
lâu, từ thời còn đi học ở làng. Tôi hiếm khi gặp hai anh chị đi cùng với nhau
ngoại trừ một lần hai người đi xe đạp, chị trước anh theo sau, vừa đi vừa nói
cười trên con đường dẫn vào làng gập ghềnh, giữa đồng rộng, gió thì lồng lộng,
đồng lúa nghe rì rào. Trông hai người rất tình tứ.
Chuyên dạm hỏi vợ cho anh tôi nghe nói hơi rắc
rối. Mặc dù thương nhau đã lâu và cũng đến tuổi nhưng vì anh bị đi lính nên phải
chờ, và khi trở về đáng ra có thể dạm hỏi được thì em gái của anh và anh trai của
chi Ng lại được hai gia đình cho làm lễ cưới trước. Thế là lại phải chậm nữa. Nhưng
lần chậm nầy lại có một chút vấn đề. Đó là trong bà con có người lo là nếu hai
nhà cùng có anh trai nhà nầy lấy em gái của nhà kia thì sau nầy xưng hô làm sao,
có người cho là không tốt, nên xem lại. Chuyện dạm hỏi có khựng lại một chút
nhưng cuối cùng rồi cũng qua. Tôi đoán là tình cảm sâu đậm quá rồi gia đình phải
chìều theo nguyện vọng của anh tôi và chị Ng. không thể để chậm hơn nữa.
Từ
những năm 1966, 1967 chiến tranh chuyển qua giai đoạn khốc liệt. Đặc biệt ở Vùng
I, mặt trận Quảng Trị, Thừa Thiên, những trận đụng độ lớn thường xuyên xảy ra ở
cấp tiểu đoàn, trung đoàn giữa bộ đội Miền Bắc , bên nầy là quân Mỹ và quân đội
VNCH. Thương vong là rất nhiều. Ở thành phố đêm nào cũng nghe tiếng đại bác vọng
về, đôi lúc cửa nhà giật liên hồi vì tiếng dội của bom do B 52 rải thảm. Cả nhà
tôi rất lo cho anh tôi.
Có một chi tiết tôi không thể quên. Đó
là khoảng giữa năm 1966, cả Miền Trung biến động vì phong trào đấu tranh của Phật
giáo và Sinh viên nổ ra tại khắp các thành thị. Tại Vùng I Chiến thuật, cả Tướng
Nguyễn Chánh Thi và sau đó là Tôn Thất Đính, Tư lênh Quân đoàn I đều ngã theo
Phong trào Phật Giáo. Xu hướng phản chiến ngày càng lộ rõ, trong các cuộc tập họp
thường vang vọng câu hát “ Kẻ thù ta đâu
có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai “, câu dạo đầu cũng là điệp
khúc trong bài Tâm ca Số 7 của Phạm Duy lấy ý thơ Thích Nhất Hạnh. Một lần về
thăm nghe tui tôi hát : “ Xin chọn nơi nầy làm quê hương dẫu cho khó
thương. Xin chọn nơi nầy làm quê hương dẫu chưa an lành. Xin chọn nơi nầy làm
quê hương dẫu đang chiến tranh…” bài hát của Nguyễn Đức Quang, anh chăm chú
nghe rồi hỏi xin bài hát ấy vì rằng anh thích và Đại Đội Trưởng của anh rất nghệ
sỹ , hát rất hay nên anh muốn có bài hát nầy để góp vui với ông ấy. Nghe vậy
tôi không chỉ thương anh tôi mà thương cả đồng đội của anh.
Trong những lần hiếm hoi về thăm nhà sau đó
tôi thấy anh buồn hẳn, không nói không rằng, và tìm cách đi ngay. Tôi đoán có lẽ
anh buồn vì đồng đội bị chết nhiều, rồi lo cho bản thân mình, cả cho chi Ng
đang trông chờ không biết tính sao. Và cho đến . . . Mậu Thân.
Trong chiến dịch Tết Mậu Thân, mặt
trận Huế và Thừa Thiên có khác. Hầu như khắp Miền Nam lực lượng tiến công đã
băng qua các làng mạc, tránh các căn cứ, đồn lũy, tấn công thẳng vào các vào
thành phố, thị trấn nhằm tạo tiếng vang, xoay chuyển cục diện chiến trường. Ở
Thừa Thiên Huế, cùng lúc lực lượng vũ trang chiếm thành phố Huế, đầu não chính
trị hành chánh tại khu vực, thì tại các làng mạc phụ cận dựa vào cơ sở tại chỗ,
chính quyền cách mạng cũng được thành lập.
Là địa phương có truyền thống kháng
chiến thời chống Pháp, hầu như trong làng tôi nhà nào cũng có thân nhân tập kết
ra Bắc, sau khi bộ đội làm chủ Huế ,
làng tôi nhanh chóng lập chính quyền lâm
thời. Và thế là cùng lúc súng nổ bom đạn gầm rú khắp nơi, trong làng tôi, ta và
địch bắt đầu được phân biệt, lửa thù hận bắt đầu được thổi bùng. Đã có những vụ
truy bắt và xử tội những người làm việc cho bộ máy chính quyền VNCH, đặc biệt
là trong lực lượng công an, quân đội. Tôi có người dì, có cha và anh đầu bị
Pháp giết, mẹ và em đi tập kết, từng bị chính quyền VNCH bắt lên bắt xuống, về
sau phải lòng lấy chồng là một trưởng công an xã. Dì đã bị kết tội phản bội và
bị xử tử từ ngày đầu tiên ngay giữa đình làng trước mắt mọi người trong đó có cả
người thân. Trong Mậu Thân, bom và đạn pháo từ Hạm đội 7 của Mỹ đã không dội xuống
làng tôi như ở Thành phố Huế và những nơi khác, nhà cửa, ruộng vườn trong làng
hầu như không bị tàn phá, nhưng tang tóc thì vẫn xảy ra do hố sâu thù hận hình
thành và những vết cắt ta và địch cứa nát lòng người.
Khoảng mười ngày sau khi Huế ngừng hẳn
tiếng súng, anh tôi ghé nhà tôi. May mắn quá, anh vẫn không hề hấn gì, cả nhà
tôi rất mừng . Anh trong bộ đồ lính hơi dơ, dính bụi đất, da sạm đen và người gầy
hẳn, trông rất mệt mỏi. Khi hỏi ở đâu thời gian qua, anh kể lại. Khi thành phố
Huế bị chiếm, đơn vị anh đang đóng ở căn cứ Cây số 17. Nghe tin Huế bị mất, cả
trung đoàn rúng động, vậy là nhanh chóng tập hợp hàng ngũ và do không có xe di
chuyển đã quyết định chạy bộ hơn mười bảy cây số để vào cứu Huế. Vào đến Huế,
Trung đoàn của anh đánh vào cửa An Hòa nhằm tạo cứ điểm bàn đạp tiến vào Thành
nội. Trận chiến ở cửa An Hòa rất ác liệt, dằn co nhau có đến cả hơn mười ngày
các anh mới chiếm được và sau đó tiến dần về phía cửa Chánh Tây, và rồi Cửa Hữu
tiếp cận với lực lượng Thủy Quân Lục Chiến. Về sau đi ngang cửa An Hòa, không
thấy cửa đâu, chỉ còn thấy lởm chởm và
trơ trụi những viên gạch vỡ đỏ ong chồng lên nhau tôi chợt nghĩ tới câu chuyện
anh kể về trận chiến ác liệt tại đây.
Có một chi tiết anh kể khá buồn, là
khi các anh chạy bộ ngang Triều Tây, phải cúi rạp và nhảy xuống ruộng chạy để
tránh đạn vì từ trong làng tôi phía tây đạn bắn ra như mưa, có cả đạn cối.
Về làng tôi, sau biến cố nầy, may mắn là nhà cửa
không bị tàn phá, bà con không ai bị chết do bom đạn. Thế nhưng riêng anh tôi, cái
mất mát phải chịu lại qúa lớn. Đó là chi Ng. nghe nói đã rút đi cùng với người
anh ruột vào vùng căn cứ ở phía tây, trên rú. Trong biến cố Mậu thân tại Huế,
sau khi lực lượng phia bên kia rút ra khỏi thành phố mới biết được nhiều người
bị xử chết, nhiều người bị đưa đi hoặc rút đi theo lực lượng chiếm đóng. Chị
Ng. như một số người tôi biết do có hoạt động đoàn thể trong phong trào tranh đấu
Phật Giáo, lại là thuộc gia đình tập kết, chắc có chút quan hệ trước, chị đã
tham gia vào chính quyền lâm thời ở quê lúc Huế bị chiếm đóng nên sau đó không
thể ở lại được đã rút theo bên kia.
Chị Ng,
đi theo bên kia, anh tôi thấy suy sụp hẳn.
Khoảng gần năm tháng sau anh ấy mới trở lại
thăm chúng tôi. Lúc nầy những dấu vết Mậu
Thân trong thành phố Huế chỉ còn là những khoảnh đất trước đây vốn là nhà cửa bị
bom đạn san phẳng nay cây dại đã bắt đầu mọc, những mảng tường đổ hoặc cháy xém
và những vết lở lói trên tường thành đã chớm phủ chút bụi và phai màu do mưa nắng,
những đổ nát của gạch ngói đã được dọn sạch, những hố bom sâu đã được lấp đầy.
Mọi thứ xem ra đã được thu dọn, như vết thương đã được băng bó đàng hoàng,
không còn phơi bày, rỉ máu. Hầu như cũng không ai buồn kể lại chuyện bom đạn chết
chóc đã qua, không ai muốn làm nhân chứng cho một biến cố đấy nước mắt. Sự việc
dữ dội và tang thương quá khiến tất cả yên lặng và chấp nhận như số phần.
Lần nầy, trong bữa cơm trưa với ba mẹ và anh
em chúng tôi, anh tôi chẳng nói chẳng rằng, im lặng khác mọi lần. Sau bữa ăn đột
nhiên anh dẫn tôi ra góc nhà cạnh bên, ngồi chồm hổm xuống cùng tôi, và từ từ
móc từ trong túi áo ra một tờ giấy đầy chữ viết, lá thư của chị Ng. vừa mới gởi
cho anh. Anh trao cho tôi và nói đọc đi. Tôi cầm tờ thư viết đầy kín bốn trang giấy
tập học trò bằng bút bi, và đọc vội. Không đợi phải đọc hết, chỉ một đoạn mà cảm
giác của tôi là hết sức ngỡ ngàng về nội dung và ngôn ngữ trong thư. Tôi cứ tưởng
là trong thư sẽ là những lời giải thích về hoàn cảnh, tiếc nuối về sự chía lìa,
nỗi nhớ nhung, thăm hỏi sức khỏe người thân, và . . . . nhắn nhủ giữ mình để cầu
mong cơ may có ngày gặp được nhau, thì ngoại trừ lời mở đầu có thăm hỏi, nhớ
nhung còn lại toàn bộ lá thư là một bài kêu gọi quay súng về với nhân dân như
thường nghe trên Đài phát thanh Giải Phóng. Nào là dẫn ra thời cơ cách mạng tại
Miền Nam, rồi kể lể chiến công bắn máy bay Mỹ tại Miền Bắc, nào là khuyên anh
tôi ngưng bắn giết đồng bào, quay súng về với nhân dân, chấm dứt thân phận lính
đánh thuê cho Mỹ. . .
Đọc
xong, tôi lặng đi, trong một khoảnh khắc bất chợt hình bóng chị Ng. với chiếc
áo dài lam cài phù hiệu đóa hoa sen màu xanh lục đứng ở hiên chùa chờ đợi, với giọng
nói của chị cao ở cuối câu, ân cần và đầy tình cảm, với tiếng cười vói anh tôi
trên con đường làng lộng gió. . . tất cả như hiện ra trước mắt tôi. Tôi nói thầm
chị Ng. mà như thế nấy à, chị Ng. mà như thế nầy à. Tôi nhớ lúc tôi trả lại lá
thư, anh tôi nhíu mày, mặt khắc khổ. Anh hỏi tôi ý ra làm sao. Tôi chưa kịp trả
lời thì anh đã nói thẳng với tôi luôn: “Em
coi, nó là gì mà dám khuyên anh như vậy .”.
Cùng với câu nói nó là gì mà dám khuyên
anh như vậy, lúc nầy, trong ánh mắt rất buồn của anh ấy tôi thoáng thấy có một
nét cay đắng và chút tia giận dữ.
Và đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp anh .
Cuối năm 1968, mặc dù cả Miền Nam chiến cuộc tạm
lắng nhưng riêng Vùng I, đặc biệt chiến trường Trị Thiên, đụng độ vẫn rất dữ dội
gây thương vong nhiều cho cả hai bên, chúng tôi rất lo cho anh tôi. Và rồi chuyện cũng phải đến. Một buổi sáng
tháng 10 năm ấy, gia đình chúng tôi nhận được tin anh tôi tử trận, xác đã được
đưa về Quân y Viện ở Mang Cá.
Em tôi kể lại, khi đến nơi thăm xác anh,
trông thảm thương lắm. Đầu và mặt anh ấy bị bị cháy đen nhìn không ra, chỉ biết
là anh ấy nhờ bảng tên còn rõ trên áo. Thân thể phù to do chết đã năm ngày mới
mang xác về được. Xác anh ấy đặt cạnh với xác mấy người lính khác. Một người cấp
bậc cũng Trung sĩ cùng đơn vị được giao trực xác kể lại rằng anh tôi đáng ra có
thể không chết, nhưng do sau khi tiểu đội vừa rút lui được nhìn lại thấy Đại Đội
Trưởng của mình cùng một số anh em đang còn bị vây hãm rất nguy kịch, anh ấy đã
quyết định đưa tiểu đội quay lại xông vào đánh rất rát để giải cứu ông ấy và đồng
đội. Rất buồn là cứu được Đại Đội Trưởng nhưng anh tôi phải nằm lại. Người
Trung sĩ ấy kể lại rằng sau khi được cứu, được tin anh tôi nằm lai, Đại úy Đại
đội trưởng như điên như cuồng thề quyết bằng mọi giá phải tấn công vào để lấy
cho được xác anh tôi về. Vậy là phải mất
năm ngày cả đại đôi quần thảo dữ lắm với địch chấp nhận cả hy sinh mới lấy được
xác anh tôi nên bây giờ do xác nằm mấy ngày mới phình to như thế nầy.
Phải vất vả lắm mới đặt xác anh vào được quan
tài để đưa về làng chôn cất.
Hai mươi ngày sau ngày anh tôi mất, thì chúng
tôi được tin chi Ng. cũng mất.
Chuyện kể rằng chiều hôm đó, mợ tôi đang ở nhà
thì nghe tin keo réo ngoài đường dọc bờ hói rằng lính Nghĩa quân đang gánh xác
chị Ng. từ trên rú về làng, xen lẫn giọng nói cười cợt rằng ra mà coi con heo nầy
lớn nặng quá bốn người gánh mà muốn chết.
Xác chị Ng, gánh về được bỏ ở giữa chợ làng gần đình cho mọi người xem như là
chiến tích của Nghĩa quân làng giết được Việt cộng. Mợ tôi khóc kể lại, xác chị
Ng. do mất mấy ngày rồi nên cũng phình to, áo quần nứt rách cả bày thân thể
trông quá tội nghiệp. Đó là chưa kể mấy đứa Nghĩa quân khốn nạn trong làng thay
vì thắp cây hương cho ngườì chết lại găm một điếu thuốc lá cháy đỏ lên xác ở
vào chỗ kín. Một hành động giỡn cợt của lũ không còn tính người. Mợ thấy xót xa
quá, dù gì đi nữa trước sau cũng là con dâu nên xin chuyển xác chị Ng. đi ,
nhưng tụi nó không cho vì mợ không phải là thân nhân nên đã để nằm tênh hênh ở
chợ cả ngày cho đến khi gia đình chị ấy biết và đến nhận xác về.
Về cái chết của chị Ng, sau đó có người nói
cho biết, ở căn cứ trên rú khi nghe tin anh tôi mất, chị đã lén về để thăm mộ
anh. Không ngờ bị lọt vào ổ phục kích, chạy thoát, nhưng vì đã bị trúng đạn nên
chết dọc đường. Nghe nói vậy tôi buồn lắm và tự trách mình. Giá như trước đây
khi anh tôi trao thư chị cho tôi đọc và hỏi ý tôi mà nếu tôi lúc đó sáng suốt
trả lời ngay rằng chị ấy đâu được quyền viết thư cho anh theo ý của chị, thì dù
có chết đi anh tôi đâu có phải mang theo sự cay đắng đến giận hờn.
Trở lại chuyện cậu tôi hơn bảy năm sau đó, sau
khi đưa hình anh tôi khỏi bàn thờ, mấy năm sau mợ tôi mất, cậu tôi bị đau liên
miên không biết bệnh gì. Trong gia đình kể lại nhiều hiện tượng thấy mà ghê. Đó
là trên bàn thờ có nhiều lúc đèn đang sáng vụt tắt, ly nước đang đầy bỗng
nghiêng đổ. Người cậu thứ ba của tôi cũng tập kết trở về thấy không ổn khuyên cậu
tôi rằng cũng là con cái, cũng vì hoàn cảnh, đâu có bỏ con được, nên đặt lại
hình anh tôi trên bàn thờ. Nghe lời khuyên, cậu tôi cho đặt lại hình anh tôi
lên bàn thờ chính trong nhà. Từ đó không còn hiện tượng lạ trên bàn thờ, cậu
cũng bớt bệnh và sống hơn mợ tôi được mấy năm.
Đã
gần sáu mươi năm, chuyện về anh tôi dù đã hằn sâu trong ký ức của tôi nhưng với
mọi người trong làng tôi hình như đã quên bẵng. Có chăng chỉ còn lời kể ngắn gọn
về chuyên thờ phụng, về một người cha tập kết từ Bắc vào hạ hình đứa con trên
bàn thờ xuống vì là lính Ngụy nên đã bị phát bệnh phải đưa lại hình con lên bàn
thờ mới khỏi bệnh. Và về chuyện lấy vợ lấy chồng, về hai cặp vợ chồng lấy chéo,
anh em nhà nầy lấy anh em nhà kia, và thế là một cặp chưa kịp làm đám cưới đã bị
chết thảm.
Chỉ còn đọng lại có thế, chuyện thờ phụng và
chuyện lấy vợ lấy chồng, không ai buồn nhắc đến chuyện chiến tranh.
TRẦN TRUNG SỸ
(Tháng 4 năm 2022)
(Nguồn: Tác giả gửi )