Cuộc
chiến tranh đi qua...Thế là xong ! Tôi thở phào nhẹ nhõm khi trút bộ quân phục
để chuyển ngành về làm biên tập viên cho tờ Văn nghệ Giải phóng. Lúc đó là đầu
năm 1976. Năm 1977 tờ Văn nghệ Giải phóng lại nhập vào tờ Văn Nghệ (toàn quốc),
tôi trở thành biên tập viên thường trú tại các tỉnh phía Nam của tờ báo vốn có
nhiều kỷ niệm sâu sắc với mình. Cứ ngỡ rằng đã “vĩnh biệt vũ khí”. Nào ngờ,
tháng 6 năm 1978, tôi - phóng viên báo Văn nghệ, lại lặn lội trong chiến hào ở
Tây Ninh cùng với các bạn lính trẻ của Quân đoàn 4. Chiến dịch biên giới phía
Tây-Nam Tổ quốc đang thời kỳ ác liệt nhất. Quân Pôn Pốt tràn sang dọc biên giới
Việt Nam-Campuchia, tàn sát rất dã man đồng bào ta, từ Tây Ninh qua Long An,
Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Quân ta đánh chặn và chuẩn bị tổng công
kích... Lại những bài thơ chiến trận gửi về tòa soạn báo Văn Nghệ.
Qua
mấy năm im tiếng súng, nhìn lại quãng đường bom đạn và đèo dốc dài dằng dặc
phía sau lưng mình mà ngại ngùng. Cứ ngỡ rằng, đã quen hơi phố phường rồi, nếu
phải đi trở ại con đường chiến tranh vừa qua, chắc là không đi nổi. Nhưng khi
việc đã tới, giặc đã ở trước mặt, thật lạ, có một nguồn sức lực từ đâu đó trong
con người mình bỗng khởi phát , xốc mình đi, những bước đi mạnh mẽ nguyên vẹn
của người lính năm nào...
Nguồn
sức lực ấy lại khởi phát một lần nữa trong tôi vào đầu xuân năm 1979. Sau chiến
dịch biên giới phía Tây-Nam tôi tự thưởng cho mình một chuyến nghỉ phép, về ăn
Tết ở quê nhà - thị xã Thanh Hóa, ngày 15 tháng 2 năm 1979, tôi ra Hà Nội để
chờ máy bay trở lại miền Nam. Sáng 17 tháng 2, chiến tranh bùng nổ trên toàn
tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nhóm phóng viên xung kích của báo Văn
nghệ, gồm năm người vốn xuất thân từ lính, được cử lên mặt trận. Lái xe Đào
Ngọc Chi cũng vốn là lính chiến. Chiếc xe Rumani tòng tọc của chúng tôi hòa vào
đoàn xe chở lính lên phía Bắc. Tới thị trấn Đồng Mỏ chúng tôi bắt đầu làm việc,
với trạm phẫu, với thương binh với đồng bào các dân tộc chạy giặc từ mấy huyện
biên giới về. Ga Đồng Mỏ đặc kín người. Đường số Một tắc nghẽn. Hầm Núi Đá (do
quân Trung Quốc đào, hồi họ sang “giúp” ta chống Mỹ) thì dành cho người bị
thương nặng. Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào chạy giặc.
Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh
Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái
bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng
ình suốt đêm. Những trang viết về mặt trận của nhóm chúng tôi bắt đầu từ đêm
đó.
Lạng
Sơn, 18-2. Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh. Hoa đào phai thấp thoáng trong sương
mù. Đại pháo đội sang từ phía Bằng Tường, tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng
óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao về hướng Đồng Đăng.
Theo
giới thiệu của ban chỉ huy sư đoàn Sao vàng, chúng tôi sẽ tới trung đoàn An Lão
đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Có một chiến sĩ liên lạc của trung đoàn An Lão
dẫn đường. Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc xe hồng thập tự của bệnh viện
Lạng Sơn vừa bị bắn lật, nữ bác sĩ Thủy tử thương. Tiếp theo, chiếc xe của
xưởng phim Quân Đội trúng đạn, chiến sĩ Như Đạt, quay phim, hy sinh tại chỗ.
Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào
con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp...
Hầm
chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trên sườn cao điểm 417. Vừa gặp chúng tôi, chính
ủy trung đoàn đã đề nghị “các nhà văn trở về Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang
ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho các anh được...”.
Chúng
tôi đưa mắt nhìn nhau. Cái bề ngoài của mỗi người quả là xa lạ với thực tế trận
mạc. Tôi mặc chiếc áo trắng có hoa đen, quần loe, kính cận, máy ảnh toòng teeng
trên vai. Anh Hồng Phi, râu tóc bờm xờm, áo len, quần dạ, đôi dép sambô cao đế.
Phạm Tiến Duật và Đỗ Chu thì đúng là bạch diện thư sinh, mảnh khà mảnh khảnh.
-
Xin các anh cứ yên lòng - Hồng Phi nói với chính ủy trung đoàn, chúng tôi đều
con nhà lính, quen thuộc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ ở đây theo dõi các trận
đánh, và nếu có thể, xin các anh phát vũ khí...
Chính
ủy Biền, nói vắn tắt về tình hình chiến sự. Căn hầm thỉnh thoảng lại rung lên,
đạn cối của địch vẫn rơi xuống quanh đấy, tiếng nổ nhức tai, và khói, bụi sặc
sụa.
Những
ngày ở Tam Lung, chúng tôi đã viết các bài in trên báo Văn Nghệ dạo đó. Quân ta
chiến đấu rất anh dũng đánh chặn đạo quân xâm lược đông hơn và mạnh hơn ta gấp
nhiều lần. Quân Trung Quốc, tuy bị thương vong nặng nề, vẫn thí mạng hết đơn vị
này đến đơn vị khác, lấn chiếm ta từng cao điểm một.
Trước
khi xuôi về thị xã Lạng Sơn, từ trên đỉnh đồi 417, tôi dùng ống nhòm quan sát
trận đánh bên cao điểm 611. Quân địch bò lên, đen kín cả sườn đồi, có súng cối
và pháo tầm gần yểm trợ. Trên chốt, quân ta chỉ có chưa đầy ba chục chiến sĩ,
trung đoàn An Lão vừa bàn giao trận địa cho quân địa phương tối hôm trước. Đúng
giữa trưa trận đánh kết thúc. Giặc chiếm được ngọn đồi. Chúng dồn hàng đống xác
chết lại, rải lên từng lớp chất cháy (sau này tôi mới thấy, đó là xăng đặc,
giống như thứ nhựa vá xe đạp, đựng trong bình vải sơn, mỗi bình bốn lít) và
đốt. Trời im ắng, cái im ắng ghê rợn sau trận đánh. Không một gợn gió. Ngọn lửa
đốt xác đỏ lòm. Từ đỉnh cao 611, cột khói dựng thẳng đứng lên trời, tỏa ra
thành hình cái nấm khổng lồ, đen kịt giữa bầu trời trắng bạc.
Nhóm
phóng viên chúng tôi xuôi về thị xã Lạng Sơn. Cột khói đốt xác của quân Trung
Quốc vẫn đen ngòm, dựng thẳng đứng phía sau lưng. Tôi đã bị ám ảnh mãi về cột
khói đó, về những linh hồn vần vụ trong cột khói đó...
Phố
xá hoang vu. Thị xã Lạng Sơn vẫn tươi thắm màu hoa đào. Tôi chưa bao giờ thấy
vườn hoa đào nào rộ đều và đẹp như vườn đào Nhà khách tỉnh ủy Lạng Sơn. Đào
bạch, đào phai, đào đỏ nở dọc theo các lối đi lát gạch. Hoa đào vô tư nào có
biết rằng chúng sắp bị tàn sát. (Sau khi quân Trung Quốc rút đi, tôi đã trở lại
thị xã Lạng Sơn, ngơ ngẩn trước cảnh đổ nát. Cả vườn đào cũng bị đánh bằng
thuốc nổ, không còn một nhánh, những cục nhựa đào đông lại nơi gốc đào cụt
trông như những cục máu bầm chưa khô hẳn. Các khu nhà sang trọng chỉ còn là các
đống gạch vụn. Vô vàn mảnh thủy tinh ruột phích nước rải lấp lánh dưới mặt đất.
Vòm hang đá núi Phai Vệ sập hẳn, có lẽ quân giặc đã phải dùng nhiều tấn thuốc
nổ. Động Tam Thanh nổi tiếng bao đời nay cũng đen ngòm khói thuốc bộc phá, một
cái hố rộng hoác, khét lẹt choán hết cả lòng động... Phố, nhà, vườn tược, cỏ
hoa cho đến cả hang động đều chung một số phận thảm sát). Còn lúc này, chúng
tôi đang ở giữa vườn đào thị xã, hoa đào cứ nở vô tư. Nhóm phóng viên báo Văn Nghệ
tụ lại đây, nghỉ đêm trong nhà khách tỉnh ủy đã bỏ trống, cùng với tổ tự vệ của
giáo viên trường Đông Kinh Phố. Trang thơ về mặt trận của tôi được hoàn chỉnh
trong đêm này. Chúng tôi chụm đầu đọc thơ cho nhau nghe, rồi hát trắng đêm. Đêm
chia tay, đêm vĩnh biệt những cây đào nở muộn. Tiếng súng bộ binh đã nổ rát
ngoài rìa thị xã.
Mờ
sáng hôm sau, tổ công an vũ trang bảo vệ khu nhà khách tới giục chúng tôi dời
đi, họ nhận được lệnh phải rút ngay ra khỏi thị xã. Chúng tôi thong thả chụp
vài tấm ảnh cuối cùng với vườn đào rồi chặt những cánh đẹp nhất cắm đầy chung
quanh xe. Chiếc xe Rumani của tuần báo Văn nghệ lần đầu tiên được ngụy trang
hoàn toàn bằng hoa đào. Lái xe Đào Ngọc Chi phải yêu cầu bỏ bớt hai cành cắm
phía trước để còn trông thấy đường.
Trên
chiếc xe hoa đào ấy, chúng tôi ngoái nhìn thị xã. Chào Lạng Sơn. Chào chợ Kỳ
Lừa và dòng sông Kỳ Cùng. Chào thành Tiên Xây và núi Vọng Phu... Thị xã đẹp mê
hồn trong sương mù. Không một bóng người. Chỉ có cây với nhà, và hoa đào. Mấy
con chó tìm chủ chạy lững thững dọc những phố nhỏ lặng ngắt. Pháo từ phía Bằng
Tường bất chợt gầm lên, súng bộ binh đồng loạt nổ rền bên kia cầu Kỳ Lừa...
Chúng
tôi đã mang về tòa soạn những trang viết chưa ráo mực cùng những cánh đào còn
ướt nhựa nơi vết cắt. Cành đào phai lớn nhất được cắm trong cái bình đất nung
đặt ở phòng khách tòa báo. Những cành nhỏ hơn, chúng tôi chia ra, phân phát cho
bạn bè. Bài viết của chúng tôi dồn dập in trên báo Văn Nghệ, những nụ đào muộn
mằn dồn dập nở. Cho tới ngày Trung Quốc bị đánh bật ra khỏi biên giới nước ta,
những cành đào Lạng Sơn vẫn còn tươi thắm giữa lòng Hà Nội. Và, mãi mãi thắm
trong tôi cái màu hồng kỳ diệu của hoa đào năm ấy...
(Đã
in báo Văn Nghệ, tháng 3.1983)
CHÙM THƠ MẶT TRẬN LẠNG SƠN 2/ 1979
LÊN MẶT TRẬN, NGÀY
ĐẦU…
Lên
xứ Lạng
chưa
thấy thành Tiên Xây
đâu
chùa Tam Thanh
đâu
nàng Tô Thị...
Quân
giặc tràn qua đèo Hữu Nghị
Đồng
Đăng thất thủ rồi
pháo
Bằng Tường dội sang xối xả
dằng
dặc dòng người sơ tán đổ về xuôi
Lẫn
lộn người Kinh, người Tày, người Dao
nào
gánh, nào xe, nào gùi, nào vác
hiển
hiện những ngày xưa loạn lạc
biên
ải xưa giặc giã mới tràn vào
những
gương mặt nghìn năm đanh sắt lại
máu
lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới
vẫn
mới cả nón mê cả áo vá chân trần...
Miếng
cơm ăn lẫn cát bụi bên đường
giấc
ngủ ngồi che hờ tàu lá chuối
ngôi
nhà không bỏ trống sau lưng
đàn
trâu lang thang lũ gà con xao xác
lũ
trẻ con mắt tròn ngơ ngác
chân
trẻ con lũn cũn chạy như đùa
Trẻ
con trên ôtô, trên xe trâu, xe thồ
trẻ
con trên lưng trẻ con trên tay
trẻ
con lon ton níu váy níu áo
đòn
gánh nữa kìa kẽo kẹt nghiến trên vai
một
đầu gánh là trẻ con còn đầu kia là nồi là gạo
mắt trẻ con cứ tròn thao láo
như
hòn sỏi ném theo đoàn quân đi...
Bao
lứa trẻ từng lớn lên như thế
gặp
lũ trẻ con nay bắt gặp tuổi thơ mình
tuổi
thơ của em
tuổi
thơ của anh
gặp
lại cả mấy thời chạy loạn
thời
là tản cư thời là sơ tán
gian
nan xưa cứ tưởng đã cũ rồi !
Quân
đi, quân đi
ngược
lên biên giới
có
cái nhìn như sỏi ném sau tôi...
(Lạng Sơn,18. 2.1979 )
ĐÊM Ở CHỐT 417
Thâm
lũng, Tam lung... chìm nghỉm trong đen
bất
chợt lại xanh lè đạn nổ
lửa
đốt lòng ta những đêm không ngủ
là
ánh đèn đã tắt dưới làng dân
(Lạng Sơn, 22 .2 .1979)
DẠ HƯƠNG
Sẽ
rất nhớ dáng người vừa thoáng gặp
chiều
Lạng Sơn súng nổ rụng hoa đào
những
giọt máu của vườn cây vung vãi
trường
sơ tán rồi, cô giáo còn chốt lại
khẩu
súng thép chéo lưng con gái
ôi
tấm lưng kia ngỡ sinh ra để mà mềm mại
dáng
điệu ấy chốt lại lòng ta mãi
như
dạ hương thoáng gặp một đêm nào
(Lạng Sơn, 22 .2 .1979)
ẢI CHI LĂNG
Ải
Chi Lăng! Ải Chi lăng !
lưỡi
gươm đẫm máu Liễu Thăng thuở nào
gập
ghềnh lũng thấp đồi cao
vũng
lầy thành ruộng đã bao nhiêu mùa
Chập
chờn trận mạc xa xưa
quân
reo ngựa hí gươm khua dậy trời
thịt
xương xưa hóa đất rồi
nợ
xưa còn để nặng đời sau ư ?
Gió
trên vách đá ù ù
nghe
tù
và dội xuống từ cao xanh...
(Mặt trận Lạng Sơn, 23. 2 .1979)
NGUYỄN DUY.
Nguồn: Blog Quê Choa
