CAO HUY THUẦN
Thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Ngoại trưởng Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 tạo lý lẽ pháp lý cho phía Trung Quốc để quả quyết rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên Hoàng Sa và Trường Sa. Lý lẽ pháp lý căn bản để Việt Nam bác bỏ luận điệu của Trung Quốc là : nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có tư cách pháp lý để nhường cho Trung Quốc một quyền mà mình không có ở thời điểm 1958. Ở thời điểm ấy, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục lịch sử chiếm giữ từ bao đời và hành xử chủ quyền toàn vẹn trên hai đảo ấy. Lý lẽ rất xác đáng này, nhiều người đã nói rồi, tôi không nhắc lại ở đây nữa. Ở đây, tôi chỉ góp thêm chút ít ý về những vấn đề phụ, để bổ túc cho lý lẽ chính vừa nói ở trên.
Thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Ngoại trưởng Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 tạo lý lẽ pháp lý cho phía Trung Quốc để quả quyết rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên Hoàng Sa và Trường Sa. Lý lẽ pháp lý căn bản để Việt Nam bác bỏ luận điệu của Trung Quốc là : nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có tư cách pháp lý để nhường cho Trung Quốc một quyền mà mình không có ở thời điểm 1958. Ở thời điểm ấy, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục lịch sử chiếm giữ từ bao đời và hành xử chủ quyền toàn vẹn trên hai đảo ấy. Lý lẽ rất xác đáng này, nhiều người đã nói rồi, tôi không nhắc lại ở đây nữa. Ở đây, tôi chỉ góp thêm chút ít ý về những vấn đề phụ, để bổ túc cho lý lẽ chính vừa nói ở trên.
Trước khi đi vào
những chi tiết lịch sử và những lập luận pháp lý
rườm rà, tôi bắt buộc phải làm cái chuyện rườm rà
đầu tiên là đăng lại nguyên văn bức thư mà ngày nay
người ta thường gọi là « công hàm Phạm Văn
Đồng ». Bức thư rất đơn giản, nhưng chính vì đơn
giản mà phải giải thích, hơn thua nhau trong vụ kiện là
tùy thuộc lớn vào việc giải thích này. Tôi không dám
làm công việc rất khó khăn này của luật sư chuyên
nghiệp, đòi hỏi một kiến thức về học thuyết và án
lệ quốc tế thấu đáo hơn, cập nhật hơn, chỉ xin nhắc
lại là cốt góp thêm chút ý mà thôi. Góp thêm chút ý mà
cũng đã khó khăn rồi, vì phía Trung Quốc còn đưa ra
thêm nhiều bằng chứng khác, nào bản đồ của Bộ Quốc
Phòng, của Phủ Thủ Tướng, nào báo Nhân Dân, nào sách
giáo khoa, để làm vững chắc hơn nữa lý luận của họ.
Mong rằng chính quyền Việt Nam thu thập được thêm bằng
chứng để phản bác. Chỉ có chính quyền mới làm được
việc này thôi. Không có trong tay những bằng chứng khác,
lý luận duy nhất trên một « công hàm » là
không đủ tý nào. Nhưng biết làm sao !
Đây là nguyên văn
bức thư, và vấn đề pháp lý đặt ra là giải thích bức
thư :
« Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân
trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ :
Chính phủ nước
Việt-nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản
tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước
Cộng hòa Nhân dân Trung-Hoa, quyết định về hải phận
của Trung Quốc.
Chính phủ nước
Việt-nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy
và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm
triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của
Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin kính gửi Đồng
chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.
Hà Nội, ngày 14
tháng 9 năm 1958 »
I. Theo ngôn ngữ của
luật quốc tế, bức thư đó được gọi là một « hành
vi đơn phương », tiếng Pháp là một « acte
unilatéral ». Vấn đề pháp lý tổng quát đầu tiên
đặt ra là : một hành vi đơn phương có giá trị
pháp lý quốc tế không ? Có tính cách ràng buộc
không ? Có phải là một nguồn gốc của luật quốc
tế không ?
Điều 38 của Quy chế
Tòa Án Tài phán quốc tế ghi rõ ba nguồn gốc : hiệp
ước quốc tế, tập tục quốc tế, và những nguyên tắc
luật pháp tổng quát được các nước văn minh chấp
nhận. Ngoài ba nguồn gốc chính ấy, còn có thêm một
nguồn gốc bổ túc thứ tư : các quyết định tài
phán và học thuyết của các luật gia được công nhận
là có thẩm quyền. Vậy, những « hành vi đơn
phương » thì sao ? Điều 38 không nói, nhưng trong
thực tế của đời sống quốc tế, các hành vi này càng
ngày càng nhiều, càng đa dạng, cho nên rốt cuộc, án lệ
cũng như học thuyết đều công nhận giá trị pháp lý.
Trong 5 loại « hành vi đơn phương » được liệt
kê, lời hứa là loại liên quan đến vấn đề đặt ra ở
đây. Lời hứa là một cam kết đơn phương có hiệu lực
ràng buộc tác giả của nó. Như vậy, đứng trên mặt lý
thuyết tổng quát, phía Trung Quốc có lý do để buộc ta
phải công nhận tính cách ràng buộc của « công hàm
Phạm Văn Đồng ». Ta phản ứng thế nào ?
Trước hết, học
thuyết buộc phải hiểu chữ « lời hứa » một
cách hạn chế, phải siết chặt từ ấy một cách chính
xác 1.
Nghĩa là : phải định nghĩa chính xác thế nào là
một lời hứa có giá trị pháp lý. Thế nào ? Học
thuyết trả lời : đó phải là một lời hứa xuất
phát từ một ý muốn tạo ra hậu quả pháp lý, chứ
không phải chỉ là một lời tuyên bố hàm chứa một ý
định chính trị 2.
Làm sao phân biệt thế nào là « ý muốn tạo ra
luật », thế nào là không phải ? Không thể có
tiêu chuẩn tổng quát, mỗi hành vi đơn phương phải xét
riêng từng trường hợp để giải thích. Và việc giải
thích này tuân theo những nguyên tắc được áp dụng cho
việc giải thích các hiệp ước, trong đó hai nguyên tắc
chính là : phải thực lòng
(bonne foi) và phải chú ý
đến đối tượng và mục đích của hiệp ước. Thực
lòng, nghĩa là phải tìm xem hai bên ký hiệp ước muốn
nói gì thực sự. Đây là yếu tố tâm lý và đạo đức
khó tìm vì nằm trong nội tâm. Cho nên phải làm sáng tỏ
ra bằng cách tìm hiểu đối tượng và mục đích, nghĩa
là những yếu tố bên ngoài dễ thấy hơn. Điều 31 và
32 của Công ước Vienne về việc giải thích hiệp ước
nói rõ như thế : « Hiệp ước
phải được giải
thích theo thực lòng với nghĩa thông thường mà các từ
trong đó thường được hiểu, và trong bối cảnh và ánh
sáng của đối tượng và mục đích của hiệp ước » 3.
Nhiều án lệ đã căn cứ trên nguyên tắc này.
Áp dụng nguyên tắc
trên vào việc giải thích các hành vi đơn phương, học
thuyết nhấn mạnh : phải tìm ý định của tác giả
lời hứa, hơn thế nữa, phải đặt ưu tiên trên giải
thích ít có hại nhất cho tác giả ấy 4.
Đó là nguyên tắc
tổng quát. Còn về phương pháp giải thích, học thuyết
cũng như án lệ đều nhấn mạnh trên sự cần thiết
phải xét kỹ bối cảnh, ngữ cảnh, cho rằng đó là cách
hiệu nghiệm nhất để tìm ra ý định thực sự 5.
Án lệ đi rất xa trong phương pháp tìm kiếm này, đề
nghị : 1. phải căn cứ trên toàn câu để giải thích
một chữ trong đó ; 2. phải căn cứ trên nhiều đoạn
để giải thích một điều khoản ; 3. phải căn cứ
trên một phần của hiệp ước trong đó có điều khoản
phải giải thích ; 4. phải căn cứ trên toàn thể
hiệp ước ; 5. phải căn cứ trên lời mở đầu ;
6. phải căn cứ trên một loạt hiệp ước tùy thuộc lẫn
nhau. Kể rườm rà như vậy để thấy rằng bối cảnh,
ngữ cảnh là vô cùng cần thiết để tìm hiểu ý định
thực sự, dù là để giải thích hiệp ước hay là để
giải thích một hành vi đơn phương. Nhiều lần, án lệ
của Tòa án Tài phán quốc tế thường trực, tiền thân
của Tòa án Tài phán quốc tế hiện nay, đã chú trọng
đến hậu trường, nghĩa là bối cảnh đằng sau của
việc ký kết hiệp ước, về mặt pháp lý, chính trị,
xã hội, đặt hiệp ước vào không khí của thuở soạn
thảo, để nắm bắt thấu đáo hơn ý tưởng đầu tiên
và khám phá ra những hoàn cảnh thực tế trong đó ý
tưởng được bày tỏ 6.
Tòa án Tài phán quốc
tế hiện tại cũng lấy cùng một thái độ như vậy. Hậu
ý của hai bên ký kết hiệp ước hoặc những quan tâm
chính trị của họ lắm khi cũng khác với mục đích nêu
ra trên giấy tờ, nhất là khi hiệp ước có nội dung
chính trị 7.
II. Vậy thì, áp dụng
những quy tắc trên, hãy đặt « công hàm Phạm Văn
Đồng » vào ngữ cảnh của bức thư và bối cảnh
chính trị và lịch sử khi thư được gửi đi để giải
thích mục đích và ý định thực sự của tác giả.
Trước hết là bối
cảnh. Cho đến bây giờ, độc giả Việt Nam chỉ thấy
thư của Phạm Văn Đồng đáp lại tuyên bố của Chu Ân
Lai mà chẳng thấy tuyên bố của Trung Quốc là thế nào,
tuy rằng đó là cái chìa khóa để mở cánh cửa đầu
tiên. Vậy, xin bắt đầu nói đến bối cảnh của tuyên
bố ấy, về mặt pháp lý rồi về mặt chính trị, quân
sự.
Về mặt pháp lý,
cho đến khi thành lập Cộng Hòa năm 1911, Trung Hoa không
có nhận định gì rõ ràng về vấn đề hải phận cũng
như hải lý. Bắt đầu quan tâm thực sự đến vấn đề
từ 1912, lập trường chính thức của Trung Hoa Dân Quốc
vẫn là 3 hải lý. Phái đoàn Trung Hoa đề nghị 3 hải lý
tại Hội nghị Hague về san định luật quốc tế năm
1930. Như ai có chút kiến thức về luật biển đều biết,
ấn định hải phận là vấn đề nóng bỏng của luật
quốc tế sau khi các nước trong Thế giới thứ ba bành
trướng ảnh hưởng và xác nhận tư cách độc lập của
mình. Nhiều nước, nhất là ở châu Mỹ La tinh, nới độ
rộng của hải phận (tính từ bờ) một cách vô độ, có
khi đến cả 200 hải lý. Theo chiều hướng đó, phái đoàn
Trung Hoa Dân Quốc, trong buổi họp thứ 308 của Ủy Ban
Luật quốc tế của LHQ, đòi nới độ rộng của hải
phận ra 12 hải lý. Trớ trêu thay, đề nghị đó trái
ngược với lập trường của Mỹ (3 hải lý) mà Trung Hoa
là đồng minh, lại trùng hợp với lập trưởng của Liên
Xô (12 hải lý) mà Trung Hoa là thù nghịch. Bị anh cả
nhắc nhở, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc, trong buổi họp
thứ 361 (1956) của Ủy Ban vừa nói, đề nghị một tu
chính mềm dẻo về điều 3 của công ước đang soạn
thảo :
« 1. Hải phận
có thể do mỗi quốc gia cận bờ biển ấn định phù hợp
với nhu cầu kinh tế và chiến lược trong giới hạn từ
3 đến 12 hải lý ; điều này phải được các quốc
gia chủ trương một hải phận hẹp hơn chấp nhận.
2. Trong trường hợp
bất đồng ý kiến, vấn đề sẽ được đưa ra trọng
tài ».
Tu chính đó bị bác
bỏ trong phiên họp lần thứ 363 (8-6-1956) với một tỷ
số phiếu chống rất cao : 9 chống, 3 thuận, 2 không
bỏ phiếu.
Vậy là trong lần
họp năm 1956, vấn đề hải lý không được giải quyết. Ủy Ban kết luận một
cách lừng khừng : « Luật
quốc tế không cho phép nới rộng hải phận quá 12 hải
lý ».
Hai năm sau, tại Hội
nghị Genève về luật biển, họp từ tháng 2 đến tháng
4 năm 1958, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc không đưa ra một
đề nghị nào nữa về hải phận. Trung Quốc lục địa
không được mời tham dự, nhưng theo dõi rất kỹ. Bằng
chứng là chỉ vài tháng sau, Bắc Kinh lấy một thái độ
dứt khoát, trái ngược với Đài Loan.
Rườm rà như trên
là để nhấn mạnh bối cảnh lịch sử quan trọng của
năm 1958. Trước đó, ngay cả Trung Quốc cộng sản cũng
không có lập trường rõ ràng về hải lý. Một quyển
sách giáo khoa về hình luật xuất bản năm 1957 hãy còn
nói một cách tổng quát rằng độ rộng của hải phận
có thể là 3 hoặc 12 hải lý. Mãi cho đến đầu 1958, các
tác giả Trung Quốc mới bắt đầu hoài nghi về sự khôn
ngoan của quan điểm 3 hải lý chật hẹp. Chỉ bắt đầu
từ đó, họ mới chỉ trích kịch liệt lập trường của
Mỹ và Anh mà họ cho là « hoàn toàn vô căn cứ ».
Nhưng đó là các bài viết của giới luật gia. Chính
quyền Trung Quốc chưa có lập trường chính thức lúc Hội
nghị Genève kết thúc.
Năm tháng sau, ngày
23 tháng 8 năm 1958, Trung Quốc thình lình mở một trận
pháo kích dữ dội, với yểm trợ của không quân và hải
quân, vào đảo Kim Môn do Đài Loan chiếm giữ, ngoài khơi
bờ biển Trung Quốc. Mỹ trợ giúp hậu cần cho đồng
minh bằng cách hộ tống các tàu tiếp tế của Đài Loan
cho đến giới hạn 3 hải lý ngoài khơi Kim Môn. Ngày
4-9-1958, đài Bắc Kinh loan báo một « Tuyên Bố về
hải phận Trung Quốc » nguyên văn như sau, chỉ trích
những đoạn có liên quan đến vấn đề và dịch từ
tiếng Anh :
« 1. Độ rộng
của hải phận của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ
là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả lãnh
thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, gồm lục địa
Trung Hoa và đảo cận bờ biển của lục địa, cũng như
cho Đài Loan và các đảo bao quanh, quần đảo Bành Hồ,
quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung
Sa, quần đảo Nam Sa, và tất cả các đảo khác thuộc về
Trung Hoa mà đại dương chia cách khỏi lục địa và các
đảo cận bờ biển của lục địa.
4 §
2. Vùng Đài Loan
và Bành Hồ hãy còn bị Mỹ chiếm giữ bằng vũ lực. Đó
là vi phạm bất hợp pháp sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ
quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đài Loan,
Bành Hồ và những vùng khác như thế sẽ được thu hồi
lại, và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có
quyền thu hồi những vùng ấy bằng mọi biện pháp thích
hợp vào thời điểm thích hợp. Đây là nội bộ của
Trung Quốc, không can thiệp nào ở bên ngoài được dung
thứ ».
Bản « Tuyên
Bố » thâu trọn gói, đặt tất cả các đảo do Đài
Loan chiếm giữ và Hoàng Sa, Trường Sa vào hải phận
Trung Quốc. Mỹ bác bỏ việc gia tăng hải phận của Bắc
Kinh, cho đó là « âm mưu che giấu những mục tiêu
xâm lược ». Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ
nhắc lại lập trường cố hữu của Mỹ, « đã có
từ thời tổng thống Jefferson, và lập trường ấy là 3
hải lý ». Ngày 7-9-1958, hải quân Mỹ tiếp tục hộ
tống như thế các tàu tiếp tế của Đài Loan. Bắc Kinh
cảnh cáo nghiêm khắc : « một hành động như
vậy, xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, là nguy hiểm ».
Ngày 6-10, bộ trướng quốc phòng Bành Đức Hoài ra một
công bố cho « đồng bào Đài Loan », cho biết
Trung Quốc sẽ ngưng nã pháo trong một thời gian 7 ngày,
với điều kiện Mỹ chấm dứt hộ tống tàu tiếp tế
đến Kim Môn. Ngày 13-10, Trung Quốc gia hạn việc ngưng
pháo kích thêm 2 tuần nữa. Ngày 20-10, hôm trước khi
ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles viếng thăm Đài Bắc, Trung
Quốc lại nã pháo, viện cớ Đài Loan cho phép hải quân
Mỹ hộ tống vào « vùng biển » của Kim Môn.
Sau đó, ngày 25-10, Bắc Kinh tuyên bố « ngưng chiến
vào ngày chẵn ». Khủng hoảng dần dần kết thúc 8.
Cần nói thêm lý lẽ
pháp lý mà Mỹ đã viện dẫn để bác bỏ « tuyên
bố » của Trung Quốc, không phải vì có gì mới, mà
là để thấy rằng các phản ứng tiếp theo quyết định
của Bắc Kinh đều liên quan đến vấn đề 12 hải lý là
chủ yếu. Trong một bài diễn văn đọc trước Hiệp hội
luật sư ngày 20-11-1958, Phụ tá cố vấn pháp lý của
Viễn Đông sự vụ Bộ Ngoại giao, ông Maurer, nói :
« Huống nữa, Hoa Kỳ chủ trương
rằng luật quốc
tế chỉ thừa nhận giới hạn 3 hải lý; một quốc gia
không thể bằng hành động đơn phương, quyết định đâu
là sở hữu chung của tất cả mọi quốc gia ; điều
đó lại còn vi phạm nguyên tắc đã được quốc tế
công nhận về tự do lưu thông trên biển. Quan điểm của
Hoa Kỳ đặt cơ sở trên báo cáo của Ủy Ban luật quốc
tế của LHQ, báo cáo ấy nói rằng ‘luật quốc tế
không đòi hỏi các quốc gia phải nhận một giới hạn
hải phận vượt quá 3 hải lý’ » 9.
Cũng vậy, tiếp theo
bác bỏ của Mỹ là bác bỏ của Bộ Ngoại giao Anh, cũng
liên quan đến con số 12, chỉ sau Mỹ một ngày, ngày
6-9-1958. Xin nhắc lại một lần nữa : vấn đề nóng
bỏng lúc đó là vấn đề 12 hải lý.
Phe tư bản phản ứng
đi, tất nhiên phe cộng sản phản ứng lại. Như một
tiếng dội. Như một luật chơi của chiến tranh lạnh. Và
cũng trên vấn đề 12 hải lý. Liên Xô tức tốc gửi một
công hàm đến Bắc Kinh, tuyên bố « hoàn
toàn tôn
trọng quyết định của chính phủ Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa » và « đã
chỉ thị cho các cơ quan liên
hệ của Liên Xô triệt để tôn trọng hải phận 12 hải
lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa » 10.
Hãy so sánh ngữ văn này của Liên Xô với « công hàm
Phạm Văn Đồng » : chữ nào chữ nấy gần như
bản chính với bản sao. Đây là một điểm quan trọng
góp phần vào việc giải thích bản văn của Hà Nội.
Tất cả những chi
tiết rườm rà kể ra ở trên là cốt đưa đến mấy
nhận xét sau :
1. Phải phân biệt
cho rõ hai vấn đề mà Trung Quốc muốn cột vào với nhau
nhưng bối cảnh của năm 1958 về luật biển buộc phải
tách riêng ra : vấn đề hải phận và vấn đề chủ
quyền. Vấn đề hải phận là pháp lý. Vấn đề chủ
quyền là chính trị. Tranh chấp không giải quyết được
tại Hội nghị Genève 1958 là tranh chấp trên vấn đề
hải phận. Bác bỏ hay tán thành tuyên bố của Trung Quốc
là bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý ấy, một
chuyện pháp lý nóng bỏng vào thời buổi ấy. Không phải
vì bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý là bắt
buộc phải bao hàm việc bác bỏ hay tán thành cái chuyện
chủ quyền -- chuyện này ở bên lề, hạ hồi phân giải.
Nguyên tắc giải thích một cách hạn chế, chặt chẽ,
buộc phải gạt cái gì thừa thãi ra, cái thừa thãi ở
đây là chủ quyền.
2. Nguyên tắc thực
lòng cũng bắt buộc như vậy. Cái chuyện tranh chấp chủ
quyền đã xảy ra từ 1909 về Hoàng Sa và từ những năm
1930 về Trường Sa. Sau thế chiến 1945, hễ có chính quyền
là chính quyền nào ở Việt Nam cũng đều khẳng định
hai quần đảo ấy là thuộc chủ quyền Việt Nam. Thủ
tướng Trần Văn Hữu của Quốc gia Việt Nam thời Bảo
Đại chẳng hạn đã long trọng tuyên bố như thế năm
1951 tại Hội nghị San Francisco11.
Một chính quyền chưa hoàn toàn độc lập đối với Pháp
mà còn cương quyết như thế, lẽ nào, thực lòng, một
chính quyền đã hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập,
chủ quyền như chính quyền Phạm Văn Đồng, lại có thể
từ khước chủ quyền một cách dễ dàng như vậy trong
một bức thư ? Cả hai phía, Việt Nam và Trung Quốc,
đều coi lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm,
làm sao, với thực lòng, có thể nghĩ rằng ý định thực
sự của ông Phạm Văn Đồng là nhường đảo cho Trung
Quốc ? Với thực lòng, làm sao phía Trung Quốc có thể
đọc bức thư mà nghĩ rằng thế là xong, mọi tranh chấp
chủ quyền gay go từ hơn một thế kỷ đã xóa sạch
trong mấy hàng chữ của một bức thư ?
3. Thêm nữa, mới
đây, phía Việt Nam viện dẫn Bị Vong Lục của Trung Quốc
(12-5-1988) trong đó, sau khi lặp đi lặp lại luận điệu
« Trung Quốc có đầy đủ tài liệu
chứng minh quần
đảo Tây Sa và Nam Sa từ xưa đến nay thuộc lãnh thổ
Trung Quốc », đã nói thêm rằng « với nguyên
tắc thông qua hiệp thương hữu nghị để giải quyết
bất đồng, đã tỏ ý sau này có thể đàm phán ».
Câu ấy là của chính miệng Đặng Tiểu Bình nói ra với
bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi ông Lê Duẩn thăm viếng
Bắc Kinh ngày 14 tháng 9 năm 1975. Phía Việt Nam nói rõ :
năm 1958, Đặng Tiểu Bình là bí thư Đảng Cộng sản
Trung Quốc, còn to hơn cả Chu Ân Lai, biết rõ sự việc
liên hệ, vậy mà còn xác nhận « bất đồng »
và « đàm phán », thế thì, với thực lòng, sao
chính quyền Trung Quốc bây giờ lại đọc ngược bức
thư Phạm Văn Đồng theo nghĩa là không còn vấn đề chủ
quyền gì nữa để bàn cãi ? 12.
Thực lòng ở đâu ?
4. Thực lòng ở về
phía Việt Nam. Bởi vì ý định thực sự của bức thư
lại còn rõ ràng hơn nữa khi đặt vào hai bối cảnh lịch
sử đặc biệt : bối cảnh của chiến tranh lạnh nói
chung và bối cảnh pháo kích ở Kim Môn nói riêng.
Về chiến tranh lạnh,
việc ủng hộ lập trường của Liên Xô hay Trung Quốc
khi lập trường này chống lại lập trường của khối
« thế giới tự do » dưới sự lãnh đạo của
Mỹ là một thái độ chính trị quá thông thường trong
suốt thời gian lịch sử ấy. Phía Mỹ đã cứng rắn giữ
nguyên lập trường 3 hải lý (ngay cả Đài Loan cũng không
dám làm trái ý) thì phía Liên Xô hầu như đương nhiên
hỗ trợ Trung Quốc trong lập trường 12 hải lý. Chính
yếu, đây là một ủng hộ chính trị. Sự việc thư Phạm
Văn Đồng lặp lại nguyên văn công hàm của Liên Xô
chứng tỏ điều đó. Hai bức công hàm phải được hiểu
trong cùng một tinh thần ấy.
Huống hồ, bối cảnh
chính trị ấy lại càng nổi bật hơn nữa với việc
pháo kích Kim Môn. Miền Bắc lúc ấy đang sợ Mỹ can
thiệp. Mà chiến hạm Mỹ công khai vượt qua hải phận
12 hải lý để tiến vào vùng biển chỉ cách Kim Môn 3
hải lý. Bênh vực lập trường 12 hải lý của Trung Quốc
là chuyện quá dễ hiểu giữa hai « đồng chí ».
Miền Bắc cũng không muốn hạm đội Mỹ ở Thái Bình
Dương xé rào 12 hải lý để tiến vào sát bờ biển miền
Nam như tiến vào sát Kim Môn.
Bối cảnh quân sự
và chính trị này, ngay cả các tác giả người Hoa cũng
đều nêu rõ. Chỉ trích một ví dụ thôi : « Trung
Hoa cộng sản ra một tuyên bố chính thức về hải phận
lúc khủng hoảng 1958 trên Kim Môn và Mã Tổ lên đến cao
độ ; như thế rõ ràng rằng những biến cố ấy đã
phát động ảnh hưởng trên bản tuyên bố » 13.
Ai cũng thấy, lúc đó Mỹ là kẻ thù chung, làm sao, với
thực lòng, không thấy rằng văn thư của Hà Nội nhắm
việc chống kẻ thù chung ? Trong bối cảnh quân sự
và chính trị của năm 1958, chống Mỹ tức là ủng hộ
12 hải lý. Đông Đức ủng hộ, Rumania ủng hộ tiếp
theo Liên Xô 14.
Công hàm Phạm Văn Đồng cũng ủng hộ như vậy thôi. Nếu
muốn tìm đối tượng, mục tiêu đích thực của hành vi
đơn phương này, thì bối cảnh ấy cho đủ ánh sáng.
Bài viết nhỏ này
được viết trong thời gian tác giả nằm trong bệnh viện,
không có phương tiện tìm thêm tư liệu ở các thư viện.
Với mục đích nhỏ bé là làm sáng tỏ những gì đã nói
từ lâu bằng một ngôn ngữ và một lập luận pháp lý,
tác giả không mong gì hơn là được bạn bè có thẩm
quyền chỉnh sửa và bổ túc thêm.
CAO HUY THUẦN
1
Charles Rousseau, Droit
international public, Tome 1, Paris, Sirey,
1970, trang 423.
2 Nguyen Quoc Dinh, Droit international public,
Paris, LGDJ, 1975, trang 325 ; Charles Rousseau, sđd, từ trang 418.
3 Charles de Visscher, Théories et Réalités en Droit international public, A. Pedone, 4è édition, 1970, trang 281.
4 Charles Rousseau, sđd,
trang 424, dẫn Carbone, Promessa e
affidamento nel diritto internazinale, Milan,
1967.
5 Charles Rousseau, sđd,
trang 284.
6 Cùng tác giả, trang 291,
trích nhiều án lệ.
7 Charles de Visscher, sđd,
trang 282.
8 Tất cả
lịch sử kể ở mục này là lấy từ Hungdah Chiu, China and the Question of
Territorial Sea, Maryland
Journal of International Law, Vol. 1, N° 1, 1975.
9 Tao
Cheng, Communist China and the Law of the Sea, The American Journal of International
Law, Vol. 13, N° 1,
Jan. 1969.
10 Tao
Cheng, như trên.
11 Tất
cả lịch sử về vấn đề này được giải thích rất rõ trong Lê Minh Nghĩa,
Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng
giềng, Kỷ Yếu Hội
Thảo phát triển khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và tranh chấp biển Đông,
NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000, từ trang 300. (có thể đọc toàn văn bài
này trên mạng Thời
Đại Mới )
12 Nội
dung cung cấp cho phóng viên tại Họp báo ngày 23-5-2014.
13 Tao
Cheng, đã dẫn.