Hồ
Bạch Thảo
Dù
chiến đấu bằng ngòi bút, trên nghị trường, hoặc
chiến trường, Việt Nam có nhiều yếu tố chiến thắng ;
xin được lần lượt phân tích dưới đây :
1. Thắng
vì chúng ta phải, địch trái
Có
kẻ bảo rằng thắng bại do sức mạnh, không can dự gì
đến sự phải trái, điều đó mới nghe qua có vẻ đúng,
nhưng thực tế lịch sử Việt Nam chứng minh ngược lại ;
tuy một nước nhỏ, yếu ; nhưng đã nhiều lần chiến
thắng Trung Quốc xâm lược :
“ Nực
cười châu chấu đá xe,
Tưởng
rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng.”
Việc
này không phải tự ta vỗ ngực khoe khoang, chính lịch sử
Trung Quốc đã xác nhận như vậy. Sau khi quân Thanh thua
trận tại thành Thăng Long, vua Càn Long nêu lý do không
muốn đánh An Nam, vì nếu giết được một Nguyễn Quang
Bình [Nguyễn Huệ] thì sẽ nảy ra nhiều Nguyễn Quang Bình
khác ! Riêng viên Thị Lang bộ hộ Đường Trụ dưới
thời Gia Tĩnh triều Minh đã điều trần lên vua 7 lý do
không nên đánh An Nam, xin trích dịch điều thứ 4 như
sau :
Ngày
1 tháng 12 nhuần năm
Gia Tĩnh thứ 15 [12/1/1537]
“ Tả Thị
lang bộ Hộ Đường
Trụ dâng sớ can gián về việc đánh An Nam như sau :
(…)
Nếu bảo rằng An Nam
là đất cũ của Trung Quốc, nên nhân lúc loạn chiếm đi.
Thần khảo Mã Viện nam chinh, đến được Lãng Bạc quan
quân chết gần nửa. Nhà Hán dựng Đồng Trụ làm giới
hạn, gần với phủ Tư Minh ngày nay.
Vào
năm Vĩnh Lạc [1407-1408]
thứ 5 bình Giao Chỉ ; năm sau
Giản Định tiếm hiệu
nổi lên, đến năm thứ 8 [1410-1411] Trần Quý Khoách làm
phản ; rồi các thổ dân hưởng ứng theo, chỉ còn
một thành Giao Châu an toàn ! Năm thứ 11 [1413-1414]
Trần Quý Khoách bị bắt, Trần Nguyệt
Hồ lại làm
phản ; rồi năm Tuyên Đức thứ 2 Lê Lợi làm phản.
Các quan văn võ của ta bị chết rất nhiều, như bọn Lưu
Tử Phụ, Hà Trung, Dịch Tiên, Lý Nhiệm, Cố Phúc vv..
Quân sĩ, của cải vật chất tổn thất có đên mấy chục
vạn ; làm kiệt sức lực Trung Quốc hơn 10 năm, chỉ
được cái tiếng thu phục được một số quận huyện
trong mấy năm. Còn các triều đại khác, đánh mà không
thắng như Tống Thái Tổ, Tống Thần Tông, Nguyên Thế
Tổ, Hiến Tông thì quân đội chôn vùi, uy danh thương
tổn. Các sự kiện kê ra như tấm gương sáng có thể
soi, đó là điều thứ 4. ” 1
Câu
hỏi được được đặt
ra : Tại sao một nước nhỏ bé như Việt Nam, có thể
chiến thắng Trung Quốc, một nước lớn đất rộng, dân
đông hơn hàng chục lần ?
Qua
sự kiện lịch sử cho
biết nguyên nhân chiến thắng là do lòng căm thù địch,
cái mà người xưa gọi là “ địch
khái ”,
giận kẻ xâm lăng, tạo nên sức mạnh dời non lấp bể.
Dưới
thời nhà Trần, thấy thế giặc mạnh, vua sai Đỗ Khắc
Chung mang thư đi giảng hòa. Trong cuộc hội kiến , tướng
Nguyên Mông, “ Ô Mã Nhi, hỏi
Chung :
– Quốc
vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ “Sát Thát”
[giết Mông Cổ], khinh nhờn Thiên binh, lỗi ấy to lắm !
Khắc
Chung đáp :
– Chó
nhà cắn người lạ, không phải tại chủ nó. Vì lòng
trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi
không biết việc đó. Tôi là cận thần tại sao lại
không có ?
Nói
xong giơ cánh tay cho xem 2.
”
Thời
khởi nghĩa chống quân Minh, nghĩa quân vây thành Xương
Giang [tỉnh Bắc Giang], ban đêm xây ụ như núi đất xung
quanh để bắn vào thành ; lại đào địa đạo xuyên
vào thành rồi xông lên, cuối cùng phá thành, giết chủ
tướng Lý Nhiệm ; sự kiện này được sử Trung
Quốc, Minh Thực
Lục, chép như sau :
“ … Bốn
phía giặc đều
xây núi đất, dùng phi minh bắn vào thành ; Nhiệm 3
sai quân cảm tử ban đêm mở cửa thành
ra đánh, giết
giặc giữ núi đất. Mưu tập kích doanh trại, giặc đào
địa đạo vào thành, Nhiệm sai đào hào ngang chặn địa
đạo, rồi ném đá xuống, khiến giặc chết nhiều…”
4
[Minh Thực Lục]
Đứng
về mặt quân sự mà
xét, chỉ có đạo quân vì đại nghĩa, tinh thần cao, sẵn
sàng hy sinh cho lẽ phải mới dám khắc chữ Sát Thát vào
tay, đào địa đạo xông vào lòng địch.
Còn
đạo quân phi nghĩa thì
như thế nào ? Cũng tại Minh Thực Lục
chép về vụ
Thiên hộ Tiền Hoằng, thuộc vệ Tùng Phan, đồn trú tại
Quảng Tây ; vệ này được lệnh điều sang Giao Chỉ.
Hoằng cùng quan quân trong vệ lập mưu khích động thổ
phiên Dung Nhi Kết nổi loạn, để cấp trên lưu lại dẹp
loạn, khỏi phải sang đánh Giao Chỉ. Rồi sự việc đã
xảy ra đúng như dự liệu của quan quân vệ Tùng Phan,
Dung Nhi Kết khởi sự trước, cấu kết với các dân tộc
thiểu số khác gây ra cuộc nội loạn tại vùng Quảng
Tây, Quý Châu, Tứ Xuyên. Triều đình nhà Minh phải mang
quân tới đánh dẹp, rồi điều tra được nguyên nhân
cuộc biến, bèn xử chém Tiền Hoằng ngay tại Tùng Phan
để làm yên lòng dân :
Ngày
27 tháng 2 năm Tuyên
Đức thứ 3 [12/3/1428]
Xử
chém Tiền Hoằng
Thiên hộ vệ Tùng Phan, biếm trích Đô Chỉ huy Cao Long
làm Sự quan, bắt Hàn Chính, Đặng Giám sung quân tại
Quảng Tây.
(…)
Khởi đầu Hoằng khích
động Phiên Man Dung Nhi Kết làm loạn. Thiên tử mệnh Chỉ
huy Cẩm Y vệ Nhiệm Khải, Giám sát Ngự sử Lý Ngọc tra
vấn sự thực, đến nay bọn Khải tâu rằng Phiên Man làm
loạn thực do Thiên hộ Tiền Hoằng khích động. Nguyên
do vệ Tùng Phan mang quân đánh Giao Chỉ, quân lính sợ
không muốn đi bèn mưu với Hoằng. Hoằng nói chỉ có
cách là tung tin người Man làm phản, Đô ty phải báo về
triều, tất phải sai vệ Tùng Phan đánh dẹp và đình chỉ
việc đi đánh tại Giao Chỉ. ” 5
Sự
kiện nêu trên cũng dễ
hiểu thôi, làm một việc phi nghĩa người ta có thể chịu
mất hàng triệu đô la, vì cho đó là việc làm ăn có lời
có lỗ ; nhưng không ai tự nguyện đánh mất sinh mệnh
mình !
Bây
giờ hãy thảo luận
thẳng vào vấn đề : Hoàng sa,
Trường Sa ; giữa
Trung Quốc và ta, ai phải, ai trái ?
Trung
Quốc gọi Hoàng Sa là
Tây Sa ; địa danh này được đặt ra từ năm 1909 khi
Thuỷ sư Quảng Đông Lý Chuẩn [李
準]
mang 2 tàu, đến tìm hiểu quần đảo này. Lý Chuẩn là
ai ? Xin thưa, đó là bầy tôi từng thờ 4 chủ :
nhà Thanh, Tôn Trung Sơn, Viên Thế Khải, Đoàn Kỳ Thuỵ.
Vào năm 1911, cách mệnh Trung Quốc khởi sự tại Quảng
Đông, Chuẩn mang quân đàn áp, giết 72 nhà cách mệnh,
sau đó những người này được chôn tại mộ Liệt sĩ
tại Hoàng Hoa Cương, Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông].
Cần lưu ý vào năm 1924 Liệt sĩ Phạm Hồng Thái nước
ta từng mưu giết Toàn quyền Pháp Merlin, bằng cách giả
làm nhà báo đến dự tiệc tại khách sạn Victoria nơi tô
giới Sa Diện, rồi bất ngờ ném quả lựu đạn bọc
trong máy ảnh, nhưng chỉ giết được 5 người Pháp,
riêng Merlin bị thương nhẹ. Sau đó Phạm Hồng Thái nhảy
xuống sông Châu Giang tự tử, người Trung Hoa mến mộ
khí tiết, cũng đem chôn tại Hoàng Hoa Cương.
Lúc phe cách
mệnh nổi dậy
tại Vũ Xương [Wugang, Hồ Bắc], thế mạnh như chẻ tre,
Chuẩn sợ bị phe cách mệnh hỏi tội, bèn trở cờ theo
Hồ Hán Dân, đồng chí của Tôn Trung Sơn. Nhưng chẳng
bao lâu Viên Thế Khải giành được quyền lực đánh đuổi
phe cách mệnh để chuẩn bị lên làm vua, Lý Chuẩn lại
theo Viên chống lại Tôn Trung Sơn. Rồi khi Viên chết,
Chuẩn quay sang phò trùm quân phiệt Đoàn Kỳ Thuỵ.
Việc
Lý Chuẩn mang tàu đến
Hoàng Sa [Tây Sa] cũng chỉ vì nghe thương gia ngoại quốc
nói chỗ này có nhiều phân chim và mỏ khoáng. Vì mục
đích như vậy nên Chuẩn cho nhân viên xét nghiệm hoá
chất đi cùng. Đây là lần đầu tiên người của nhà
cầm quyền Trung Quốc đặt chân đến đảo này, nên Lý
Chuẩn lấy tên tàu, hoặc tên làng quê mình đặt tên cho
đảo : như tên tàu Phục Ba [伏波]
đặt tên cho đảo Phục Ba, dùng tên tàu Sâm Hàng [琛航]
đặt tên cho đảo Sâm Hàng, dùng tên làng Lân Thuỷ [鄰水]
thuộc tỉnh Tứ Xuyên quê của Chuẩn đặt tên cho đảo
Lân Thuỷ. Việc làm của Lý Chuẩn chưa được chính thức
công nhận, nên bộ Thanh Sử Cảo, phần địa lý chí, của
nhà Thanh soạn sau đó, không chép đến quần đảo này.
Còn
trước trước thời
gian này, chính sử Trung Quốc chưa hề đề cập đến
quần đảo Tây Sa ; nhưng vì nhu cầu giành giật đảo,
nên một số Học giả Trung Quốc, như Hàn Chấn Hoa viết
theo đơn đặt hàng, dùng cách “ treo đầu heo, bán
thịt chó ”, đem các địa danh khác có sẵn trong sử,
chí cũ, như Trướng Hải, Tượng Thạch vv… từ các
triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, để
gán cho Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa]. Việc làm sai
trái này chúng tôi có dịp phản biện trong cuộc hội
thảo tại đại học Temple [Philadelphia, USA] và được in
lại trong sách Hoàng
Sa Trường Sa Là Của Việt Nam 6.
Cần
lưu ý suốt hai triều
đại Minh, Thanh, quân Nhật thao túng cướp phá vùng biển,
Trung Quốc chỉ phòng thủ trên bờ và ven biển cũng không
xong, nên không màng đến biển cả. Bằng cớ ngay cả đảo
lớn giàu tài nguyên như Ðài Loan, được liệt vào ngoại
quốc dưới triều Minh.
Biển
lúc bấy giờ là mối
hệ lụy, nên Trung Quốc chủ trương phòng thủ thụ động
trên bờ, bỏ mặc đại dương không chiếu cố đến.
Chiến lược này được phản ảnh một cách cụ thể
trong trường hợp viên Tổng đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng
Quang xin chế tạo nhiều thuyền để ra biển bắt cướp ;
bị vua Gia Khánh bác và khẳng định quốc sách là phòng
thủ tại cảng và truy lùng những người trên bờ ngầm
mua bán hợp tác với bọn cướp. Xin trích dẫn chiếu thư
của vua Gia Khánh có đoạn như sau :
Ngày
2 Kỷ Tỵ tháng 12 năm
Gia Khánh thứ 12 [30/12/1807]
“ (…) Ðiều
đó khẳng
định rằng việc cấm bọn phỉ tiếp tế tất phải
nghiêm tra trên bờ, làm vững rào dậu là biện pháp
chính. Phúc Kiến nghiêm cấm tiếp tế tại cửa biển,
thực hiện hữu hiệu, tỉnh Quảng Ðông cần nhất luật
thực hiện...” (Nhân Tông Thực Lục
quyển 189, trang 7).
Với
chiến lược từ bỏ
biển đảo gần bờ, Hải
Quốc Ðồ Chí, quyển 1, mục
Trù hải, Ngụy Nguyên nêu bằng
chứng rằng dưới thời
Minh, Thanh, đảo Châu Sơn [Zhowshan] thuộc tỉnh Chiết
Giang, không tiện việc phòng thủ, nên đã bỏ ra ngoài
lãnh thổ Trung Quốc. Nhìn lên Google
Map, đảo này chỉ
cách bờ biển Trung Quốc khoảng 10 km ; nay gọi là
Châu Sơn thị, dân số hơn 120 vạn người, tại đó có
Phổ Ðà Sơn là khu du lịch quốc tế.
Ngoài
ra trong Chiết
Giang
Thông Chí của Thẩm Dực Cơ đời Thanh, tại mục Hải
Phòng còn nêu thêm hai vùng đất sau đây, vào thời Hồng
Vũ triều Minh cho đến đầu triều Thanh, không nằm trong
lãnh thổ Trung Quốc :
– Thứ nhất là đảo
Kim Ðường, nay mang tên Kim Ðường Trấn [Jintang Island],
nằm giữa Châu Sơn thị [Zhoushan] và khu Trấn Hải ;
đảo chỉ cách bờ biển vài cây số.
– Thứ hai về đảo
Ngọc Hoàn ; nay là huyện Ngọc Hoàn [Yuhoan] cách bờ
biển Ôn Linh thị tỉnh Chiết Giang chưa đầy 1 km, dân số
60 vạn người.
Riêng
Quảng Ðông Thông
Chí quyển 9 mục Hải Phòng có ghi 22 vị
trí tiếp giáp với biển An Nam. Chúng tôi phối kiểm lại
với chính sử Trung Quốc Thanh Thực Lục,
thì cả hai
nguồn đều xác nhận 4 vị trí sau đây tiếp giáp An Nam
: Thất Thập Nhị Kính tọa độ khoảng 21.726334,108.57170
(Quý vị chưa quen, xin ghi số bên
cạnh, mở Google map chép
hàng số vào ô chữ nhật, rồi gõ vào hình mặt kính ô
màu bên phải, thì sẽ thấy vị trí trên bản đồ), Vi
Châu tại tọa độ 21.046695,109.117584, Ðại Ðộng Thiên
tọa độ 18.293906,109.150887, Tiểu Ðộng Thiên vị trí gần
Đại Động Thiên. Từ 4 vị trí này có thể vẽ ra được
tuyến đường ngoài biển khơi xuất phát từ Thất Thập
Nhị Kính, châu Khâm, hướng đông đến Vi Châu phía nam
châu Liêm, rồi theo hướng nam ra đảo Hải Nam, đến Ðại
Ðộng Thiên, Tiểu Ðộng Thiên thuộc phía nam Tam Á. Nói
vắn tắt, xét lịch sử và địa lý Trung quốc, lãnh thổ
nước này chưa hề vượt quá phía nam đảo Hải Nam; vậy
làm gì có Tây Sa [Hoàng Sa], Nam
Sa [Trường Sa] nằm trong
đó.
Riêng
về Việt Nam thì chứng cớ chủ quyền về Hoàng Sa Trường
Sa được ghi rõ trong sử chí của triều đình và các
công trình tư nhân từ triều Lê đến triều Nguyễn. Về
sử chí của triều đình phải kể đến Đại Nam Thực
Lục, Khâm
Ðịnh Ðại Nam Hội Ðiển Sự Lệ, Ðại Nam
Nhất Thống Chí, Ðại Nam Nhất Thống Toàn
Ðồ. Về công
trình tư nhân có Toản
tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư
của Nguyễn Bá Công, Phủ Biên Tạp Lục
của Lê Quý Đôn,
Lịch Triều Hiến
Chương Loại Chí Phan Huy Chú, Hoàng Việt
Ðịa Dư Chí của Phan Huy Chú. Những sử liệu này chúng
tôi đã có dịp trích dịch trong hai trang mạng dưới đây:
Ngoài
ra còn có rất nhiều sử liệu khác được ghi trong Châu
bản triều Nguyễn, các sắc phong của triều đình, cùng
những bản đồ mới tìm được, tất cả đều xác nhận
chủ quyền biển đảo của nước ta.
2.
Thắng vì Trung Quốc có nhiều nước thù địch, ta có
nhiều đồng minh
Dưới
thời Chiến Quốc Trung Quốc có chiến lược gia nổi
tiếng Tô Tần chủ trương hợp tung,
tức hợp các nước
từ bắc xuống nam để chống lại nước Tần hùng mạnh ;
lại có Trương Nghi xướng ra thuyết liên
hoành để chống
lại. Ngày nay tại châu Á đang hình thành thế liên hoành
và hợp tung dưới sự ủng hộ
của Mỹ, để chế ngự
Trung Quốc. Về liên hoành từ
đông sang tây có các nước
Việt Nam, Lào, Miến Điện, Ấn Độ ; về hợp tung
từ bắc xuống nam có các nước Nam Hàn, Nhật Bản, Đài
Loan, Phi Luật Tân, Malaysia, Indonesia, Úc. Còn về phía bắc
giữa Nga và Trung Quốc thì khỏi lo, suốt hai thế kỷ
dưới thời cận đại và hiện đại, hai nước này chưa
bao giờ thực sự hoà hảo với nhau. Hãy xem lãnh thổ
Trung Quốc từ thời Khang Hy trong hiệp ước Ni Bố Sở ký
với Nga năm 1689, để so sánh với ngày nay, Trung Quốc đã
mất cho Nga phần đất lớn hơn cả nước Việt Nam, trong
đó có vùng biên giới Nga tiếp giáp với Triều Tiên hiện
nay và ngay cả hải cảng Vladivostok.
Lẽ
dĩ nhiên liên minh hợp tung, liên
hoành hiện nay còn lỏng
lẻo, muốn củng cố Việt Nam ta cần phải đóng góp
vào ; cũng như đầu tư ngân hàng, muốn rút ra nhiều
[withdraw] phải cần ký thác [deposit]. Hãy tỏ cương quyết,
trước sau như một ; hành động dũng cảm xịt vòi
rồng xua đuổi giàn khoan Trung Quốc là một sự đóng góp
đáng kể, để xây dựng uy tín và niềm tin với các nước
bạn.
3.
Thắng vì Mỹ quyết bảo vệ sân sau Thái Bình Dương,
riêng người dân Trung Quốc không muốn thù địch với Mỹ
Hai
thế kỷ về trước,trong kiệt tác Hải Quốc Ðồ Chí
海國圖志 Học
giả Ngụy Nguyên [1774-1857] Trung Quốc đã có nhận xét về
chế độ dân chủ tại Mỹ rất xác đáng. Gọi chương
trình tức hiến pháp của nước Mỹ “ đời
qua đời
không có mối tệ ” “ 27 bộ
[tiểu bang] cộng cử
một đại Tù trưởng [Tổng thống] cứ
4 năm thì thay
đổi, quan chức tuy thay nhưng lòng người vui vẻ một
dạ ” “ Nghị sự, tố
tụng, tuyển quan, cử
hiền tài, đề bạt từ dưới lên ; cứ dân chấp
nhận là được, dân phủ nhận thì bỏ ” lại “ vừa
giàu và mạnh nhưng không ăn hiếp nước nhỏ, không quen
thói cú vọ với Trung Quốc, vì nghĩa phẫn giận, tình
nguyện ra tay ”.
Qua
lịch sử thời cận đại, Trung Quốc lâm vào cảnh “ một
miếng thịt trăm dao xâu xé ”, liệt cường tranh
nhau chiếm các cảng khẩu, tô giới ; dọc theo bờ
biển phía bắc từ tỉnh Liêu Ninh cho đến tỉnh Quảng
Đông phía nam ; dọc sông Dương Tử từ tỉnh Giang Tô
lên đến tỉnh Tứ Xuyên ; và còn nhiều chỗ khác
như tại các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam vv… Riêng nước Mỹ
chưa từng chiếm của Trung Quốc một thước đất ;
lại có những người như Quốc vụ khanh Mỹ John Hay năm
1899 đã thuyết phục các nước Anh, Đức, Nga, Nhật, Ý,
Pháp chấp nhận chính sách Môn hộ khai phóng
[Open-door
policy] giúp cho Trung Quốc giành được nhiều quyền lợi.
Sau thời chiến tranh lạnh, tư bản Mỹ rầm rộ đầu tư
vào, khiến Trung Quốc trở thành nước giàu mạnh.
Bàn
về cá nhân, những khuôn mặt lớn Trung Quốc như bà Tống
Mỹ Linh, phu nhân Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã sống
mãn đời tại Nữu Ước. Kẻ đối lập, ông Trương Học
Lương, người đã từng cả gan bắt cóc Tưởng Giới
Thạch để đòi Quốc dân đảng, Trung cộng hợp tác
chống lại Nhật, đã bị Tưởng Giới Thạch giam lỏng
mấy chục năm trời, cuối đời cũng sống yên vui tại
Hawaii.
Nói
tóm lại, người dân Trung Quốc đối với Mỹ :
“ Sống
không thù nhau,”
“ Chết không oán nhau.”
“ Chết không oán nhau.”
Thì
cho dù họ có bị nhà nước ép buộc cũng không muốn thù
địch với Mỹ.
Riêng
nước Mỹ sau khi đánh thắng hạm đội Tây Ban Nha, giành
chủ quyền tại Hawaii và Phi Luật Tân, thì Thái Bình
Dương thực sự là sân sau của Mỹ. Thời cuộc đưa đẩy
Việt Nam cùng với Mỹ san sẻ chung chiến lược chế ngự
Trung Quốc ; đây là dịp may của Việt Nam, quyết
không nên bỏ lỡ.
*
Giống
như trận Xích Bích thời Tam Quốc, tuy hai phe Ngô, Thục
đã chuẩn bị kỹ, nhưng còn thiếu gió đông, mới thực
hiện được trận hoả công. Việc giành chủ quyền Hoàng
Sa, Trường Sa của ta, ngoài ba yếu tố đã trình bày ở
trên, cũng cần phải có nội lực đẩy mạnh lên ; đó là tinh thần đoàn
kết, hoà hợp hoà giải dân tộc,
mới tạo nên được sức mạnh tổng hợp.
Bàn
về sự đoàn kết, có
thể nói thời đại nhà Trần là một mô hình tiêu biểu.
Nhà Lý nhường ngôi chưa được bao lâu [1237], nội bộ
nhà Trần có cuộc khủng hoảng lớn, tưởng chừng có
thể làm lung lay cả triều đại. Bấy giờ Chiêu Thánh
Hoàng hậu [tức Lý Chiêu Hòang], chánh cung của vua Trần
Thái Tông không có con. Thái sư Trần Thủ Độ bèn rắp
mưu đem Công chúa Thuận Thiên họ Lý, [vợ của An sinh
vương Liễu, anh ruột nhà vua] lúc bấy giờ đang có thai
ba tháng, làm vợ vua Trần Thái Tông, để mong có con nối
dõi. Việc làm loạn luân này, khiến Liễu tức giận họp
quân trên sông cái nổi loạn. Đến hai tuần sau, Liễu tự
lượng thế cô khó lòng chống được, ngầm đi thuyền
độc mộc, giả làm người đánh cá đến chỗ vua xin
hàng :
“ Lúc
ấy vua đang ở
trong thuyền, anh em nhìn nhau khóc. Trần Thủ Độ nghe tin,
đến thẳng thuyền vua, rút gươm thét lớn :
– Giết thằng giặc
Liễu.
Vua
giấu Liễu trong thuyền,
vội vàng bảo Thủ Độ :
– Phụng Càn Vương
[tước hiệu cũ của Liễu thời triều Lý] đến
hàng
đấy.
Rồi
lấy thân mình che cho
Liễu. Thủ Độ tức lắm, ném gươm xuống sông nói :
– Ta chỉ là con chó
săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịch thế
nào ?
Vua
nói giải hòa, rồi bảo
Thủ Độ rút quân về. ” 7
Theo
luân lý xưa đạo phu
phụ rất quan trọng, việc thay vợ đổi chồng thường
là nguyên nhân gây nên mối thù truyền kiếp. Rất may,
vua Trần Thái Tông cương quyết bảo vệ tình nghĩa anh
em, lấy sự đoàn kết làm trọng, giúp cơ nghiệp nhà
Trần bước đầu xây nền móng vững chắc .
Đoàn
kết không phải chỉ
là câu nói ngoài cửa miệng để tuyên truyền, cần có
lòng thành, bụng dạ phải rộng lượng, không cố chấp
thành kiến. Việc cử Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn
con An sinh vương Liễu làm tổng Chỉ huy quân đội là tấm
gương can đảm, dám dùng người. Hưng Đạo vương, người
lập công đầu trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên,
cũng là nhân vật triệt để thực hiện tình đoàn kết.
Sử chép An sinh vương Liễu vẫn ôm mối thù xưa, lúc sắp
mất cầm tay Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng :
“ Con mà
không vì cha
lấy thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không
nhắm mắt được.”
Quốc
Tuấn ghi điều đó
trong lòng, nhưng không cho là phải.
Lại
có lần Quốc Tuấn đem
chuyện ấy vờ hỏi Hưng Nhượng vương Quốc Tảng. Quốc
Tảng thưa :
– Tống Thái Tổ vốn
là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có
được thiên hạ.
Quốc
Tuấn rút gươm kể
tội :
– Tên lọan thần là
đứa con bất hiếu mà ra.
Định
giết Quốc Tảng. Con
trưởng Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc
xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Rồi ông dặn Hưng
Vũ Vương :
– Sau khi ta chết, đậy
nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng.” 8
Lúc
này vua tôi, quân dân
một lòng, nội bộ đoàn kết vững vàng ; nên có thể
đánh tan mọi âm mưu của kẻ ngọai xâm.
Hiện
nay, có rất nhiều
việc cần làm gấp để củng cố đoàn kết dân tộc.
Riêng về phương diện lịch sử, thiết tưởng nên theo
cách người xưa, chờ đậy nắp hòm rồi mới định luận
(cái quan định luận). Bởi vậy
lịch sử hiện đại nên
chia ra hai phần : sự kiện [fact]
và ý kiến [opinion].
Về sự kiện thì có thể lưu truyền, nhưng ý kiến phê
bình phải, trái thì nên để dành lại cho thế hệ sau.
Vì hiện tại phê bình khó tránh khỏi thiên vị, mà dễ
tổn thương đến khối đại đoàn kết dân tộc.
Lại
cần nói thêm người
Việt trong và ngoài nước hiện nay làm chủ đến hàng
chục triệu computer, một lời đưa lên mạng có thể
truyền ra cả thế giới. Người xưa dạy rằng “ một
lời nói có thể hưng vượng nước, một lời có thể
chôn nước.” Vậy khi gõ tay đánh chữ, hãy nhìn lên màn
hình computer, coi như có linh hồn những chiến sĩ đời
Trần khắc hai chữ “ Sát Thát ”
vào tay, chiến
sĩ đời Lê đào địa đạo xông vào thành địch, chiến
sĩ thời nay liều chết chiến đấu tại Hoàng Sa, Trường
Sa, để cẩn thận chọn lời, chọn chữ ; nói những
điều có lợi cho nước.
Hồ Bạch Thảo
Nguồn: diendan.org
Hồ Bạch Thảo
Nguồn: diendan.org