Họa sĩ Tôn Thất Đào
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
vẫn còn Núi Ngự bên bờ Sông Hương
( Bùi Giáng )
Tôi
muốn viết một bài về người thầy của tôi - họa sĩ Tôn Thất Đào - đã lâu
mà chưa viết được [1]. Có lẽ vì buồn quá khi nghĩ về một họa sĩ duy nhất
của Huế tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương, có nhiều công lao đóng
góp cho nền giáo dục mỹ thuật Huế mà không được đãi ngộ xứng đáng. Bao
nhiêu bài báo gần đây loan tin và viết về các tác phẩm còn lại của thầy
đã bị hư hỏng gần hết. Thương nhất và quý nhất là người con dâu bây giờ
lo toan mọi chuyện từ chăm sóc các bức tranh còn lại trong nhà cho tới
chuyện gia đình. Hình như thầy cô có hai trai một gái. Người con trai
đầu, Tôn Thất Lục, có vào học mỹ thuật dở dang, sau đó bị tai biến nằm
liệt cho đến nay, là chồng của Liên Phương, người con dâu hiếm có kể
trên. Tôn Thất Điều, người con trai út thì đã mất và nghe nói cô con gái
Tôn Nữ Như Hồng, giáo viên, thì đang ở Mỹ. Những người bà con bên phía
thầy ở Mỹ cũng nhiều. Ở Mỹ còn có nhiều học trò xuất thân từ trường Cao
Đẳng Mỹ Thuật Huế, thời thầy là vị giám đốc khả kính đầu tiên, lúc
trường còn nằm ở dãy nhà số 15 đường Phan Đình Phùng bên bờ sông Bến
Ngự. Thời 1957 trường còn trực thuộc Viện Đại Học Huế do linh mục Cao
Văn Luận làm viện trưởng. Sau 3 năm ở đó trường mới dời qua Đại Nội. Và
hình ảnh của thầy lại luôn hiện ra trong tôi: thầy đi chiếc xe gắn máy
màu đen hiệu Brigestone luôn dừng lại trước hai cánh cổng sắt hẹp trước
sân trường, vốn là Lầu Diên binh vệ, nằm sát cửa Hiển Nhơn, khoan
thai đẩy bộ vào. Hình như sáng nào cũng đều đặn như vậy. Bóng dáng vị
giám đốc thật phúc hậu hiền lành, là con nhà hoàng tộc...
Tôn
Thất Đào sinh ngày 15 tháng 10 năm 1910 (Canh Tuất) tại phủ Ô Hồ, làng
Phú Cát - Huế. Sau năm 1975, trải qua một tuổi già nhiều khó khăn, sức
yếu, mất ngày 2 tháng 9 năm 1979 (Kỷ Mão) tại Gia Hội - Huế, thọ chưa
đến 70 tuổi. Ngôi mộ chôn gần chùa Sư Nữ, An Cựu - Huế. Thân phụ: cụ Tôn
Thất Tu, quan chức Nam triều, tước Hồng Lê Tự Khanh dưới triều vua
Thành Thái. Thân mẫu: bà Lê Thị Liên. Hiền thê: bà Lê Khắc Ngọc Đại
(1918 – 2002) em gái ông Lê Khắc Tưởng, thân sinh của giáo sư Lê Khắc
Phò và Lê Khắc Cầm. Nhớ năm 2000 tôi về thăm thắp cây nhang cho thầy,
còn ngồi trò chuyện cùng cô trong căn nhà xưa cũ ở số 17 đường Mạc Đĩnh
Chi - Gia Hội ( số nhà mới hiện nay là 53 Mạc Đĩnh chi ) nay xem như
Phủ Thờ Ô Hồ. Bàn thờ thầy và một số ít tranh hiếm hoi còn lại treo từ
trên cao xuống … bị xuống màu vì ẩm mốc và chất lụa bị mục. Bà Trần
Thị Liên Phương – con dâu trưởng – cho biết hàng năm bà có đem tranh ra
phơi. Lựa ngày nắng vừa phải, bà đưa ra hiên, lật úp tranh lại trong vài
chục phút rồi lại đưa tranh vào. Cách làm này do một người quen bày
cho và bà không còn nhớ người đó là ai . “Có mấy bức cứ thỉnh thoảng rớt
ra một mảng màu, rồi mục ra mà tui không biết cách chi để bảo vệ được” -
bà Phương cho biết… (Thái Lộc - Bộ tranh Tôn Thất Đào đang nguy cấp
- Tuổi Trẻ - 1-4-2014). Đọc xong mà thấy nao lòng. Đem tranh ra phơi.
Nhớ sao những ngày sau mưa lụt ở Huế, có chút nắng lên…
Thắp nhang bàn thờ Thầy Tôn Thất Đào
Huế 2000 (tư liệu DC)
Thử nhớ lại một thời sinh hoạt mỹ thuật ở Huế trước và cùng thời Tôn Thất Đào
Nhớ
là trước năm 1975, tôi thường được cụ Nguyễn Khoa Phẩm đưa về thăm chùa
Ba La của dòng họ Nguyễn Khoa ở Vỹ Dạ, ở đó tôi đã say mê nhìn ngắm hai
bức chân dung thờ vẽ bằng bột màu - trông như sơn dầu- màu sắc cổ điển
chín chắn, chi tiết tỉ mỉ, sau này mới biết là của họa sĩ Lê Huy Miến
(1874 – 1943), vẽ chân dung ông bà Nguyễn Khoa Luận, và biết thêm ông là
rể của dòng họ Nguyễn Khoa. Lê Huy Miến, nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật
viết Lê Văn Miến (khi gặp họa sĩ Lê Huy Tiếp là cháu ông lần qua Mỹ ghé
Virginia thăm, tôi có hỏi thì được biết những người trong gia đình đều
lót chữ Huy), vốn gốc Nghệ An, theo thân phụ lúc ấy vào làm quan dưới
triều Đồng Khánh. Ông được chọn gởi sang Pháp học trường thuộc địa
(École Coloniale), học xong xin thi tiếp vào trường Mỹ Thuật Quốc Gia
Paris (L’École Nationale des Beaux Arts de Paris), ông về nước năm 1895
vừa mới 21 tuổi. Được xem là họa sĩ Tây học đầu tiên với những tác phẩm
vẽ sơn dầu xưa nhất của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, như các bức chân dung cụ Tú Mền (1896), Bình Văn (1905) hiện treo tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam.
Nhắc
dòng họ Nguyễn Khoa lại nhớ đến họa sĩ Nguyễn Khoa Toàn, ông sinh năm
1899 tại Huế, không nhớ mất năm nào ở đâu, là một nhà ngoại giao và một
họa sĩ tài hoa. Sống ở Pháp nhiều năm, là môn đệ của họa sĩ Jean
Despujols, Giám đốc trường Fontainebleau, từng được giải thưởng về nghệ
thuật trang trí ở Paris. Thời chính phủ Ngô Đình Diệm ông làm đại sứ ở
Thái Lan. Ông vẽ nhiều tranh trong mọi chất liệu. Nhà phê bình mỹ thuật
Pierre Faucon trong tờ báo tiếng Pháp ở Sài Gòn, Le Courrier d’ Extrême
– Orient, đã gọi Nguyễn Khoa Toàn, một thi sĩ tinh tế của ánh sáng…
Một
hình ảnh khác mà tôi còn may mắn được gặp vào những năm 60, 70 ở Huế là
cụ Tôn Thất Sa (1882 – 1980) vốn được xem như một họa sĩ cung đình, với
bao nhiêu đóng góp về các mẫu họa trang trí Long Lân Quy Phụng trên các
lăng tẩm, đền chùa. Bức bình phong đối diện với cổng trường Quốc Học
vẫn mãi còn đó, là đồ án trang trí kiến trúc của ông đã đoạt giải nhất
năm 1920. Và bao nhiêu hình vẽ rồng độc đáo của ông. Tên tuổi ông gần
như gắn liền với tập san Đô Thành Hiếu Cổ (Bulletin des Amis du Vieux
Hué) trong L’ Art à Hué (L’ Association des Amis du Vieux Hué, 1919 )
với bài mở đầu, L. Cadière, đã ghi lời cám ơn đến Tôn Thất Sa - giáo sư
Trường Kỹ Nghệ Huế (Professeur de dessin à l’Ecole professionnelle de
Hué), một trong những học trò ông là Lê Văn Tùng và Trần Văn Phềnh, cựu
học sinh trường Bảo Hộ Hà Nội đã đóng góp phần minh họa cho B-A-V-H.
Ông người làng Kim Long.
Năm 1894, TTS lên 12 tuổi, cụ thân sinh là Tôn Thất Du qua đời, gửi gắm
ông cho linh mục Dangelzer, Cha Sở giáo xứ Kim Long, để được hướng dẫn
học hành. Thấy TTS thông minh đặc biệt lại có năng khiếu hội họa, linh
mục Dangelzer giới thiệu TTS với linh mục Renaud, Giám đốc chủng viện
Phú Xuân Huế để được chỉ dẫn về nghệ thuật hội họa và nắn tượng. Nhờ sự
chỉ dẫn tận tình của linh mục Renaud, tài hoa của TTS ngày càng phát
triển… ( Bùi Oanh Hằng – Nét Huế trong tác phẩm của họa sĩ Tôn Thất Sa - Thế Kỷ 21- California - số 175 – 176, năm 2003 )
Cũng
nên nhắc đến phòng vẽ của họa sĩ Mộng Hoa ở cửa Thượng Tứ. Bà tên thật
Nguyễn Thị Phi Phụng, sinh năm 1913 tại Quảng Trị, sau năm 1975 vào Đà
Nẵng và mất ở đó. Sinh trưởng trong một gia đình hội họa, ba người anh
đều là họa sĩ, nhớ nhất họa sĩ Phi Hùng với tranh bìa các bản nhạc thời
đó đầy chất sương khói Huế. Hình ảnh họa sĩ Maria Mộng Hoa, tóc búi
cao, áo dài lụa trắng, kính trắng ngồi trước chiếc giá vẽ cũng khích lệ
không ít những thanh thiếu nữ ngang qua dừng lại và mơ mộng… biết đâu
mình cũng thành họa sĩ…
Và
những họa sĩ từ trường Mỹ Thuật Đông Dương ở Huế, như họa sĩ Lê Yên,
tốt nghiệp cùng khóa 8 (1932 – 1937) với Tôn Thất Đào. Sinh năm 1913 tại
Hà Nội, mất ở Long Hải - Sài Gòn sau năm 1975. Là thầy dạy chính thức
của tôi môn vẽ hình họa và sơn dầu ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế những
năm 1960. Thầy vào Nam năm 1953, trước đó dạy hội họa tại trường Khải
Định, Đồng Khánh và trường Trung Học Kỹ Thuật Huế. Nhiều tác phẩm của Lê
Yên đã được in trong tập sách Les Ecoles d’Art de l’Indochine (Hanoi –
Imprimerie d'Extrême-Orient – 1937 ) như bức bình phong sơn mài thếp
vàng lớn : Lên đường – Le depart và Người bán đồ chơi cho trẻ em – La marchande de jouets - cùng với các tác phẩm của Trần Văn Cẩn và Lương Xuân Nhị…
Họa
sĩ Phạm Đăng Trí cũng học qua trường Mỹ Thuật Đông Dương (1937 –
1942). Sinh năm 1921 tại Huế, nguyên quán Gò Công, mất tháng 6 năm 1987
tại Huế. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm với ông khi cùng dạy Cao Đẳng Mỹ
Thuật Huế thời Vĩnh Phối làm giám đốc từ năm 1967. Trong phân khoa lụa
cùng Tôn Thất Văn, ông là giáo sư được sinh viên nể trọng, ở sự nghiêm
túc và chu đáo trong việc hướng dẫn sáng tác. Bảng màu của họa sĩ được
nghiên cứu rất công phu. Ông còn nghiên cứu về tỷ lệ vàng (nombre d’or)
và màu pháp lam Huế. Ông đã vận dụng thành công đĩa màu ngũ sắc Huế vào
các tác phẩm lụa của mình. Được giải thưởng của Quan Toàn Quyền (Le
Gouverneur General) tại Salon de 1944 cùng với Nguyễn Tư Nghiêm (hiện
vẫn còn sống tại Hà Nội). Sau đó bức Người Suối Bạc (lụa, 1945)
là một bức tranh nổi tiếng của ông, một bảng màu rất mới cho tranh lụa
vốn đạm bạc, cũng được một giải thưởng lớn.
Họa sĩ Tôn Thất Đào, một tên tuổi trong bộ mặt Văn Hóa Huế cần được trân trọng
Qua những sinh hoạt mỹ thuật và những tên tuổi họa sĩ kể trên, nghiệm lại chỉ thấy Tôn Thất Đào là họa sĩ của Huế duy nhất tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương, khóa 8 (1932 - 1937), cùng với Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Khánh, Đỗ Đình Hiệp, Nguyễn Văn Thâu, Nguyễn Văn Thiện, Lê Yên và
Nguyễn Thị Nhung. Các thầy giáo giảng dạy: Victor Tardieu (hình họa cơ
bản), Nam Sơn (trang trí), Menard (lịch sử mỹ thuật), Inguimberty (trang
trí), L. Goger (điêu khắc), De Fenix (giải phẫu cơ thể người). Năm Tôn
Thất Đào ra trường cũng là năm Victor Tardieu (1870 – 1937) mất. Tardieu
học cùng thầy với Rouault và Matisse, một họa sĩ giỏi, ông là vị giám
đốc có công lớn đã gần gũi giúp đỡ để đào tạo những họa sĩ danh tiếng
Việt Nam góp mặt những tác phẩm sơn dầu, lụa, sơn mài ra thế giới, càng
ngày càng đắt giá cho tới ngày nay. Theo nhà phê bình, nghiên cứu lịch
sử mỹ thuật Thái Bá Vân: Cuộc
triển lãm của thế hệ học sinh đầu tiên vào năm 1931 ở Hà Nội và sau đó ở
Paris, đã gồm những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc
Vân, Vũ Cao Đàm, Mai TrungThứ, Lê Phổ, Công Văn Chung, và tên tuổi họ đã
lọt hết vào lịch sử mỹ thuật Việt Nam (Thái Bá Vân - Tiếp Xúc Với Nghệ Thuật - Viện Mỹ Thuật Việt Nam 1977, trang 67), với họa sĩ Lê Văn Đệ thì: Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội ra đời đã mở một kỷ nguyên mới cho nền mỹ thuật Việt Nam.
Huế là nơi ghé đến của bao văn nhân nghệ sĩ nổi tiếng thời ấy, tác phẩm Bến thuyền sông Hương của
Tô Ngọc Vân, những tác phẩm của Nguyễn Đỗ Cung… Nguyễn Đỗ Cung còn là
giáo sư dạy hội họa ở Huế rất sớm, đã từng sống ở đường Âm Hồn trong
Thành Nội từ năm 1942 đến 1944. Mai Trung Thứ (1906 – 1980) - sau này
đổi thành Mai Thứ - sinh ra và lớn lên tại Huế, ra Hà Nội học khóa đầu
tiên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, năm 1937 ông qua Pháp và định
cư tại đó cho đến khi mất (1980) . Nhớ nhất là năm 1960 ông về thăm Huế,
ghé thăm bạn là Tôn Thất Đào đang làm giám đốc trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Huế và thầy Đào có nhờ ông hướng dẫn một lớp vẽ tranh lụa khô (theo kỹ thuật vẽ lụa của ông khác với lụa rửa theo truyền thống) và ông cũng đã tặng Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam tranh Thiếu nữ Huế, tác phẩm sơn dầu vẽ năm 1934 thật quý.
Họa sĩ danh tiếng về sơn mài Nguyễn Gia Trí cũng đã ra thăm trường, thăm bạn là Tôn Thất Đào và Lê Yên. Hình ảnh với vóc dáng nhỏ nhắn của người họa sĩ bậc thầy về sơn mài tài hoa ấy vẫn mãi đậm dấu trong tôi với câu nói: Nghệ thuật là phương tiện để mình đi vào thế giới chưa từng biết…
Sau
khi tốt nghiệp, năm 1939 họa sĩ Tôn Thất Đào được bổ nhiệm về dạy ở
Lycée Khải Định và Collège Đồng Khánh với ngạch Professeur de 4ème
classe. Từ đó ông đã sinh hoạt vào những chương trình văn hóa ở Huế có
giá trị, như đã tham gia vẽ phụ bản, lúc ấy gọi họa bản, nhan đề Trầm bay nhạt khói, gió đưa lay rèm trong Tập văn họa kỷ niệm Nguyễn Du do
hội Quảng Tri xuất bản năm 1942, với sự ủng hộ của các hội: Khai Trí
Tiến Đức, Khuyến Học, Sampic và Trí Tri. Một tập sách được chăm sóc thật
kỹ từ hình thức đến nội dung, việc biên tập do Đào Duy Anh, trình bày
do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung.
Những tranh lụa sáng tác những năm vừa ra trường như các bức Cá về, Chân dung, Đàn thập lục, Nhà bè
đầy tính cách Huế, đài các, thơ mộng. Năm 1941, dưới thời vua Bảo Đại
ông đã được đề cử vào Đại Nội dạy cho Thái Tử Bảo Long vẽ. Tham gia
nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước: Hà Nội (1939), Sài Gòn (1945),
Cao Miên (1939), Nhật Bản (1940) và Vatican (1950)…
Đã
nhận được nhiều giải thưởng cao quý như huy chương Long Bội Tinh
(1942), huy chương Kim Khánh (1943). Thời gian sau này cũng nhận được
nhiều bằng khen của Bộ Giáo Dục và Nha Mỹ Thuật về những đóng góp xây
dựng trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, giáo dục, đào tạo sinh viên ngành mỹ
thuật cho Miền Nam.
Ngoài
tranh lụa, ông còn vẽ tranh sơn dầu, sơn mài, phấn tiên. Theo ước tính
của gia đình lên tới vài trăm bức, nay còn lại khoảng 30 bức tại nhà
đang bị mục rã kể trên. Một số cho Hà Nội mượn triển lãm bị thất lạc,
một số bị trận lụt năm 1999 làm hư hỏng hết, và sau này một số bán cho
các gallery ở Singapore… có những thân hữu trong hội cố đô Huế tại Pháp
cũng về tìm sưu tập, lưu giữ tranh ông…
Một họa sĩ tài ba vốn bị thiệt thòi. Trong “Các Họa Sĩ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương” do
nhà xuất bản Mỹ Thuật Hà Nội in năm 1993, tác giả Nguyễn Quang Phòng đã
không công bằng khi “quên nhắc” đến các họa sĩ tốt nghiệp trường Cao
Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương ở Miền Nam, nhất là hai vị giám đốc của hai
trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế: Lê
Văn Đệ và Tôn Thất Đào, chỉ nhắc qua vài dòng về Lê văn Đệ, không thấy
in tranh của hai ông. Còn nhiều họa sĩ, giáo sư khác như Nguyễn Văn
Long, Lưu Đình Khải, Lê Yên, U Văn An… ở Miền Nam đều tốt nghiệp ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương thì … xem như bị quên.
Ngoài dạy sinh viên mỹ thuật, ông
còn rất tâm huyết với việc phát hiện năng khiếu mỹ thuật ở lứa tuổi
nhỏ. Trong phòng Truyền Thống của Trường Đại Học Nghệ Thuật vẫn còn lưu
giữ nhiều bài viết của ông về điều này với văn phong giản dị, chữ đẹp,
với sự giãi bày sâu sắc về năng khiếu mỹ thuật cũng như mong muốn đưa mỹ
thuật vào nhà trường… (Phan Thanh Bình - Họa sĩ Tôn Thất Đào - Tạp chí Sông Hương online)
Nhìn
lại tranh Tôn Thất Đào ta thấy luôn bàng bạc màu sắc, linh hồn Huế, từ
những bức sơn dầu vẽ phong cảnh trong Đại Nội cho đến những con ngựa đá
trên lăng tẩm, đến những tranh lụa với những phác thảo nghiên cứu tỉ mỉ
từng nhóm người trên các phiên chợ, trên các bến sông Gia Hội, trước cửa
Đông Ba, cả những lũy tre làng quê… đều hiền hòa làm sao một tâm hồn
nhân ái. Giai đoạn sau với vài bức sơn mài, bức vẽ những thiếu nữ trong
vườn chuối là một bức đẹp. Và hình như họa sĩ đã có nhiều tâm sự, nhiều
nghĩ suy dàn trải khi vẽ tác phẩm Ngự Bình, đây không phải là tác
phẩm hay của ông về mặt nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật khác với văn
chương, không là kể truyện. Nhưng lại mang nhiều ẩn chứa trong ông về
một tình yêu Huế thiết tha… Tác phẩm Ngự Bình là một trong những
tranh ông đã vượt ra khỏi cách nhìn hiện thực theo trường phái Mỹ Thuật
Đông Dương để tạo nên một hình tượng mang tính tượng trưng, ẩn dụ qua
hình núi mang dáng hình thiếu nữ, tóc người con gái trải dài thành sông
núi bao la, xứ Huế hiện ra không phải ở góc nhìn tĩnh lặng mà hoành
tráng và phóng khoáng hơn, ý nghĩa của Sông Hương – Núi Ngự đã được sáng
tỏ và mang đậm sắc thái u hoài, cổ kính… (Phan Thanh Bình - Họa sĩ Tôn Thất Đào - Tạp Chí Sông Hương online)
Ban giám đốc, giáo sư, sinh viên
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế 1959 (tư liệu Thanh Trí)
Những ý nghĩ rời thả trôi theo điệu ca Nam Ai
Thử đọc lại vài dòng về Cảnh Sắc Văn Hóa Mỹ Thuật Huế của Huỳnh Hữu Ủy, một tác giả nổi tiếng, người viết tiểu luận, nhận định về mỹ thuật có lòng nhất, là người con của Huế: Trước tiên phải nói đến
sông Hương. Bởi vì chính trên dòng nước trong veo ấy, Cựu Kinh đã soi
bóng mình qua nhiều thế kỷ thăng trầm, rồi từ đó đã dựng nên một nền văn
hóa riêng: văn hóa Huế… ( Huỳnh Hữu Uỷ - Mỹ Thuật Việt Nam Ngày Xưa
– Văn Mới 2013). Về mặt mỹ thuật, hiện Huế có trường Đại Học Nghệ
Thuật, chưa có Bảo Tàng Mỹ Thuật chung của Huế, chỉ có nhà Bảo Tàng Điềm
Phùng Thị và Bảo Tàng Lê Bá Đảng, mong sao sẽ có một Viện Bảo Tàng Mỹ
Thuật Huế và chắc chắn phần tranh Tôn Thất Đào sẽ chiếm một gian. Từ đó
trên phương diện chính thức của Tỉnh và của Quốc gia mới có thể nói
chuyện tu sửa và bảo quản tranh qua sự kêu gọi giúp đỡ của các Viện Bảo
Tàng trên thế giới, gởi chuyên viên hoặc mở lớp hướng dẫn phục chế tranh
theo tiêu chuẩn bảo tàng, như UNESCO đã giúp tu sửa phục chế những di
tích Cố Đô Huế. Chuyện đó lại là do một bộ trưởng Văn Hóa có tấm lòng và
lưu tâm đề xuất… chuyện còn lại là ai có quyền ban ra quyết định?
Trong
khi chờ đợi những điều ước trên, hằng hai năm Huế đều tổ chức Festival
đồ sộ, có thể bớt chăng một dàn đèn chiếu sáng xanh đỏ tím vàng để giúp
cho căn nhà cổ xưa của họa sĩ Tôn Thất Đào, nay là Phủ Thờ chung của
dòng họ, có thể trở thành khang trang hơn với số tranh dù hư hao còn
lại, cũng là nơi lưu niệm, địa điểm đến viếng một họa sĩ tài ba của Huế ở
vùng Gia Hội, chưa mong gì sẽ có một con đường nhỏ được đặt tên Tôn
Thất Đào.
Virginia, Aug 8, 2014
Đinh CườngNguồn: Blog Họa sĩ Đinh Cường
Mai Trung Thứ - Viễn Đệ - Tôn Thất Đào
Huế 1960 ( tư liệu DC ) Thắp nhang bàn thờ Thầy Tôn Thất Đào Huế 2000 ( tư liệu DC )
HÌNH ẢNH MỘT SỐ TRANH CỦA HỌA SĨ TÔN THẤT ĐÀO
- Đàn thập lục
Lụa Tôn Thất Đào - Họa bản Kiều khắc gỗ Tôn Thất Đào - Chân dung sơn dầu Tôn Thất Đào - Bến thuyền sơn dầu Tôn Thất Đào
- Cảnh Đại Nội - Huế
sơn dầu Tôn Thất Đào - Bến thuyền Lụa Tôn Thất Đào - Chân dung thiếu nữ Lụa Tôn Thất Đào - Sen trắng Lụa Tôn Thất Đào |


