Người
về soi bóng mình
Giữa tường trắng lặng câm
Giữa tường trắng lặng câm
Trịnh
Công Sơn
Kẻ
nào không thể ra đi tất chẳng
quyền chi ở lại
He who cannot leave cannot stay
He who cannot leave cannot stay
Bertolt
Brecht, translated by Frank Jones
Lời mở đầu:
Tháng
Sáu năm 2008, được sự giới
thiệu của nhà thơ Nguyễn Trọng
Tạo và nhà văn - võ sư Nguyễn
Văn Dũng, chúng tôi đến thăm
Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhà
thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tại nhà
riêng. Sau lần thứ nhất, riêng tôi
còn trở lại một lần nữa theo lời
mời của anh để hoàn tất cuộc
trò chuyện. Chúng tôi cũng có
dịp hỏi chuyện chị Lâm Thị Mỹ
Dạ và một số bè bạn có
mặt. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc
Tường bị ischemic stroke năm 1998, liệt
nửa thân đối bên và rối
loạn ngôn ngữ, hình như aphasia của
tổn thương bán cầu não trái,
qua một thời gian dài. Nhờ sự chăm
sóc của thầy thuốc, gia đình,
đặc biệt người bạn đời,
chị Lâm Thị Mỹ Dạ, và những
thân hữu như Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn
Trọng Tạo, Tô Nhuận Vỹ, Ngô Minh,
Hồ Đăng Thanh Ngọc…anh dần dần
hồi phục. Trong hai lần gặp, anh tỏ ra
minh mẫn, và khi kể về các kỷ
niệm của quê anh ở Quảng Trị,
cũng như về Huế, anh nhớ nhiều chi
tiết theo tôi là chính xác. Tuy vậy,
anh phát âm khó khăn, người lạ
khó theo kịp. Nhờ kinh nghiệm làm
việc riêng, lại ngồi gần, và nhờ
sự giúp đỡ của chị Mỹ Dạ,
tôi có thể nghe được khoảng
bảy mươi hoặc tám mươi phần
trăm lời nói của anh ngay trong lần
đầu. Sau này tôi phải nghe lại
băng thu âm nhiều lần. Anh và chị
đã bổ sung và đọc kỹ văn
bản cuối cùng. Trong nhiều giờ làm
việc, anh ít khi tỏ ra mệt mỏi; những
lúc nghỉ, anh nhờ đẩy xe lăn ra
phòng khách, ngồi nghe chúng tôi.
Chị Lâm Thị Mỹ Dạ, tính dịu
dàng, kiên nhẫn, hiền hậu, chuẩn
bị chu đáo các phương tiện,
thường xuyên ra vào để săn
sóc anh.
Sau
đó chúng tôi còn liên lạc
trên điện thoại nhiều lần
khác để làm rõ một số
câu, chữ. Hoàng Phủ Ngọc Tường
có lúc đề nghị tạm thời
hoãn lại việc phổ biến để
cân nhắc thêm, vì lý do riêng
của anh. Tháng Sáu năm 2011, trong lần
gặp chúng tôi ở Huế, sau khi bổ
khuyết một vài điểm, trước
sự chứng kiến của nhiều bạn bè
như Tô Nhuận Vỹ, Trần Thùy Mai,
Nguyễn Văn Dũng, Hồ Đăng Thanh Ngọc…
anh cho biết bài phỏng vấn như thế
là đã hoàn tất và đề
nghị công bố. Chị Mỹ Dạ, tươi
cười nhưng cương
quyết, rõ ràng, hỏi lại hai ý
ấy của anh một lần nữa, anh gật
đầu xác nhận. Gần đây sức
khỏe của anh đã rất yếu. Sau khi
cân nhắc kỹ, chúng tôi cho rằng
việc phổ biến, sau bảy năm, là
trách nhiệm của người thực hiện
đối với nhà văn và độc
giả. Đây cũng là một trong những
bài phỏng vấn cuối cùng của
loạt bài Thơ Đến Từ Đâu.
Tháng
Sáu, năm 2015
Nguyễn
Đức Tùng
|
Nguyễn Đức Tùng:
Cách
đây nhiều năm trong lần về nước
đầu tiên, tôi được một
người bạn, anh ấy cũng có mặt
ở đây hôm nay, tặng tập thơ
của anh, Người Hái Phù Dung. Đó
là lần đầu tôi biết đến
văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Trước đó tôi chỉ biết đến
anh qua những dư luận về vụ Mậu
Thân, mà chưa hề đọc một bài
viết nào. Sau này tôi nghe nói rằng,
một thời gian dài độc giả trong
nước rất chăm chú theo dõi những
bài bút ký đăng rải rác
của anh trên các báo. Trở lại
với tập thơ, tôi thích một số
bài trong đó. Như thế là biết
đến anh bằng thơ, chứ không phải
là qua bút ký hay quan hệ ngoài
đời.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Cảm
ơn anh vì tình cảm đã dành
cho thơ của tôi. Có lẽ thơ đến
với người ta mau chóng và dễ
dàng hơn những phương tiện khác.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
hái hoa cành phù dung trắng
Cho em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu ánh nắng
Buổi chiều chợt tím không hay
Cho em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu ánh nắng
Buổi chiều chợt tím không hay
Thơ
hay, mà cũng buồn quá. Nhưng trong ấy
có tình yêu trẻ trung đối với
cuộc đời làm ta cảm động.
Tôi ngạc nhiên một người mơ
mộng như anh mà lại tự nguyện
tham gia vào một cuộc chiến tranh sát
phạt hận thù và đi xuyên qua
biết bao nhiêu là hệ lụy của nó.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Trong
tập thơ ấy, tôi có viết rằng
“Mỗi người chỉ thực là
chính mình trong căn nhà của nó.
Thơ cũng vậy, thơ cần phải trở
về căn nhà của nó là nỗi
buồn. Quyền của thi sĩ là quyền
được buồn”
Nguyễn Đức Tùng:
Hình
như Hoàng Phủ Ngọc Tường là
người đầu tiên dùng chữ
“quyền được buồn”. Đây
là một ý niệm thú vị. Anh buồn
vì thời cuộc hay buồn vì cuộc
sống cá nhân mình?
Em
gọi tên tôi khắp mọi nơi
Gọi tôi vang động cả vòm trời
Tôi ngồi im vắng như lau sậy
Mờ mịt như màu sương khói thôi
Gọi tôi vang động cả vòm trời
Tôi ngồi im vắng như lau sậy
Mờ mịt như màu sương khói thôi
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Ai
cũng được quyền buồn, nhưng thi
sĩ buồn nhiều hơn, sâu hơn, vì
họ sống bằng tất cả tâm hồn.
Tôi là người sống bằng nội
tâm nhưng cũng là người hoạt
động, nên những vấn đề thời
cuộc đất nước ám ảnh tôi
nhiều hơn.
Nguyễn Đức Tùng:
Vào
thời đó, đòi quyền được
buồn có phải là một thái độ
phản kháng văn học?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
nói đến điều đó từ năm
1990. Mặc dù là người viết văn,
tôi lại mê thơ. Đó là cái
quyền tự do của tâm hồn, quyền
được nói lên, hát lên,
không ai có thể ngăn cản.
Nguyễn Đức Tùng:
Ngày
ấy tôi thường hay đến đây
Đăm đăm soi mặt nước hồ đầy
Khói sương nhả tự trên trời xuống
Chỉ một mình tôi với bóng cây
Đăm đăm soi mặt nước hồ đầy
Khói sương nhả tự trên trời xuống
Chỉ một mình tôi với bóng cây
Mặc
dù bút ký và tùy bút Hoàng
Phủ Ngọc Tường là thành tựu
lớn nhất của anh, tôi nghĩ sau này
nhiều thứ có thể qua đi, nhưng thơ
anh, vài bài hay nhất, sẽ còn đứng
mãi với thời gian.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Nếu
được thế thì đó là
hạnh phúc của người viết.
Một
người bạn thân của tôi, anh Nguyễn
Văn Dũng, có in lại và đưa
cho tôi đọc các bài thơ của
anh Nguyễn Đức Tùng trên “Talawas
chủ nhật” vừa rồi, trong đó
có bài thơ đề tặng tôi, vì
nhà tôi không có computer. Đọc
xong, tôi có suy nghĩ nhiều lắm.
Tôi
nói với mọi người: Đây là
thơ thật.
Thơ
thật, chứ không phải là thơ giả.
Nguyễn Đức Tùng:
Năm
1966, ba mươi tuổi, đang là một
giáo sư ở Quốc học Huế, anh bỏ
vào rừng kháng chiến, đi theo con
đường lý tưởng riêng của
anh. Trước năm 1975, các thầy giáo
dạy trung học gọi là giáo sư, và
được xã hội tôn trọng xứng
đáng với danh hiệu đó. Rũ áo
ra đi như thế, có lẽ anh tin là
mình đã chọn được hành
trình lý tưởng cho cá nhân và
dân tộc. Trên con đường dài,
mà đối với nhiều người là
đại lộ mênh mông, đầy ánh
sáng của lý tưởng giải phóng
dân tộc, anh có gặp một ngã rẽ
hay ngõ cụt riêng tư nào không?
Những ngã rẽ của bóng tối và
nỗi buồn?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
À,
đây chính là tâm trạng của
bạn bè tôi cùng trang lứa đi
theo Đảng. Hồi đó mình cứ
nghĩ những chuyện buồn đều là
tạm thời nhỏ nhặt, những sai lầm
rồi sẽ qua đi, nên cố lấy niềm
vui chung mà át nỗi buồn riêng. Nếu
không có ai bắt mình thì mình
cũng tự bắt mình như thế.
Nguyễn Đức Tùng:
Ngày
nay nhìn lại, anh nghĩ như thế nào
về cuộc chiến tranh 1954-1975 vừa qua? Anh
gọi nó bằng tên gì? Hậu quả
của nó ra sao?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Mình
không có giết ai trong chiến tranh. Mình
có một thằng bạn, Hoàng Xuân
Thiệu (?), em ruột của Trung tướng Việt
Nam Cộng hòa Hoàng Xuân Lãm, bây
giờ đã đi Mỹ. Tôi thương
hắn lắm, có lần tôi nói với
hắn: nếu tau gặp mi thì tau sẽ không
bắn, ngay cả khi tụi mình đang ở
hai bên chiến tuyến. Nếu gặp nhau ngoài
chiến trường thì tôi sẽ nói:
mi phải vất súng để đi theo cách
mạng.
Nguyễn Đức Tùng:
Nếu
anh ấy không vất súng để đi
theo cách mạng thì sao?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
sẽ nói tiếp: Thà mi giết tau chứ
tau không thể giết mi.
Nguyễn Đức Tùng:
Có
thể anh đã từng chủ trương
như thế thật, nhưng chiến tranh có
những quy luật tàn bạo của nó.
Thực tế đã không xảy ra như
anh muốn, và những kẻ đứng bên
cạnh anh hay đứng đối diện với
anh cũng đều đã nổ súng.
Hoàng Phủ Ngọc Tường:
Đúng
thế. Chúng ta đã nổ súng vào
nhau và vết thương vẫn còn. Đó
là nỗi đau buồn của dân tộc
chúng ta. Nhưng hồi đó tôi quan
niệm rằng cứ sống ngay thật, trong sáng
với bản thân mình, mặc kệ người
khác làm gì thì làm.
Nguyễn Đức Tùng:
Thưa
anh, trong những người dân Huế mà
tôi có dịp tiếp xúc nơi này
nơi khác, ngay cả những người
không ai có thể gọi họ là cực
đoan, vì vẫn có thái độ
hòa nhã trong nhiều vấn đề của
đất nước, đến nay khi nhắc đến
vụ thảm sát Mậu Thân vẫn còn
tỏ ra xúc động. Hầu hết những
người đó đều cho rằng Hoàng
Phủ Ngọc Tường không nhiều thì
ít có một phần trách nhiệm.
Đọc
những bài viết và những tài
liệu gần đây, tuy vậy, tôi cũng
tin rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường
không có mặt ở Huế trong vụ Mậu
Thân.
Tại
sao năm đó anh không được cử
về đồng bằng?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Lúc
đó tôi cùng làm việc với
Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, bà
Nguyễn Đình Chi, giáo sư Lê Văn
Hảo. Tôi là Tổng thư ký của
Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa
bình. Họ dự định sau khi vụ Mậu
Thân thành công thì sẽ đưa
chúng tôi về ra mắt công chúng.
Nhưng cuộc tiến công bị chặn lại
vì phía Mỹ và Việt Nam Cộng
hòa phản kích dữ dội quá, bắt
đầu từ lực lượng đồn
Mang Cá. Mới đầu trận đánh
dự định là do Trung ương phụ
trách, nhưng trong thực tế thì chỉ
có địa phương lo gần hết, nên
thiếu thốn nhiều mặt, nhất là
thiếu đạn để đánh giặc.
Vì
việc không thành nên tôi không
được đưa về Huế để
ra mắt quần chúng.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi
còn nhớ một ca khúc của Trịnh
Công Sơn viết ngay sau vụ Mậu Thân,
về những mồ chôn tập thể ở
Huế, với giọng hát Khánh Ly náo
động bàng hoàng, lúc tôi còn
rất nhỏ tuổi:
Chiều
đi lên Bãi Dâu
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy tôi đã thấy
Trên con đường người ta bồng bế nhau chạy trốn
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy tôi đã thấy
Trên con đường người ta bồng bế nhau chạy trốn
Và
một ca khúc khác của Nguyễn Minh
Khôi, với Thái Thanh như con chim trúng
đạn cất tiếng kêu thương:
Chiều
nay không có em mưa non cao về dưới
ngàn
Đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng
Đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Buồn
quá. Đúng là những vết thương
sâu, rất khó lành của dân tộc
chúng ta.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
tham gia kháng chiến chống Mỹ là hoàn
toàn tự nguyện, nhưng trường hợp
những người khác thì như thế
nào? Thượng tọa Thích Đôn
Hậu, một người đồng hương
Quảng trị của anh, chẳng hạn? Có
một bài viết cho rằng ông bị bắt
ép chứ không phải tự nguyện?
Hoàng
Phủ Ngọc Tưòng:
Không
thể bắt ép ai cả.
Nguyễn Đức Tùng:
Tức
là tự nguyện?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Cũng
không phải, họ thỉnh ông đi.
Nguyễn Đức Tùng:
Thỉnh
đi như thế nào?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Lừa.
Nguyễn Đức Tùng:
Xin
anh nói rõ hơn.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Họ
lừa ôn bằng cách nói là
mời ôn đi họp. Họ đưa
ông qua một cánh đồng rộng, gánh
ông đi trong một cái thúng có
hai người khiêng hai đầu. Rồi họ
đưa ông dần từng bước một
vào những việc nhỏ nhỏ, từ từ,
nhưng ngày càng sâu đến lúc
biết ra thì đã muộn.
Nguyễn Đức Tùng:
Cách
đây nhiều năm, trong một cuộc phỏng
vấn truyền hình, anh có nói một
ý rằng vụ thảm sát Mậu Thân
là do nhiều nguyên nhân, do bom đạn
của Mỹ, do tai nạn chiến tranh bắn qua
bắn lại vô tình, và cũng do phía
cách mạng xử tội những thành
phần phản động, chống lại nhân
dân?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đó
là cuộc phỏng vấn của Úc. Trong
những cái chết do chiến tranh, phía
quốc gia thì đổ lỗi hoàn toàn
cho phía cách mạng, phía cách mạng
thì đổ lỗi hoàn toàn cho phía
quốc gia, nhưng tôi cho rằng thật ra
không bên nào có thể đổ
lỗi hoàn toàn cho bên nào cả,
vì thế nào cũng có bên này
bên kia chịu trách nhiệm. Đó là
nói chung. Còn riêng trong vụ Mậu
Thân thì giết lầm rất nhiều. Ví
dụ như tôi nhớ rằng trong mặt trận
Huế có phân công cho một người
là ông... tỉnh đội trưởng
nắm giữ mặt trận phía trái, phụ
trách vùng Phú Cam. Họ giết người
nhiều ở mặt trận này.
Nguyễn Đức Tùng:
Người
bạn tặng cho tôi tập thơ Người
Hái Phù Dung thì nói riêng với
tôi rằng, theo anh ấy, Hoàng Phủ Ngọc
Tường là một người innocent.
Anh cũng vừa kể rằng anh không muốn
bắn một người bạn cũ của anh,
như anh Hoàng Xuân Thiệu, thà mình
bị anh ta bắn. Như vậy, anh nghĩ sao về
những vụ giết người trong Mậu Thân
có tính tội ác?
Tôi
nghĩ rằng chúng ta cần hết sức
thận trọng, nghiêm cẩn, khi nói đến
những vấn đề gây xúc động
này, hết sức tránh thái độ
cực đoan: từ một phía là đổ
lên người khác những lỗi mà
họ không có, nói thêm, nói oan
cho những người vô tội, hoặc từ
một phía khác là coi nhẹ, lấp
liếm, di chuyển trọng tâm của vấn
đề, đánh lạc hướng lịch
sử.
Tôi
nghĩ rằng đối với bất cứ
người nghệ sĩ nào, cái chết
và sự khổ đau của con người
không thể là chuyện nhẹ nhàng.
Dù do ai gây ra, dù đó là Mậu
Thân hay Mỹ Lai, hay biết bao câu chuyện
tương tự khác đã xảy ra trên
đất nước chúng ta, chưa bao giờ
được kể lại. Không thể là
chuyện nhẹ nhàng. Đó có thể
là quan điểm của các nhà quân
sự, các nhà chính trị, nhưng
không thể là quan điểm của các
nhà thơ.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
hoàn toàn đồng ý với anh. Tuy
nhiên trong cuộc trả lời phỏng vấn
vừa kể trên tôi có nói lầm
đi, nói sai đi, một ý.
Nguyễn Đức Tùng:
Thưa
anh, sai hay lầm?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Lầm.
Tôi có nói lầm là đánh
rắn thì phải đập đầu. Họ
nghĩ rằng những người làm việc
cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là
cái đầu rắn.
Nguyễn Đức Tùng:
Chắc
anh đã từng đọc cuốn sách
của Nhã Ca vốn được nhiều
người nhắc đến?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
có đọc. Có ba người viết về
Mậu Thân. Một là nhà văn nữ
Nhã Ca, từ Sài Gòn về Huế ăn
Tết vào dịp đó và chứng
kiến cuộc tấn công Mậu Thân. Bà
đã ghi lại chuyện này trong cuốn
Giải Khăn Sô Cho Huế.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
nhận xét ra sao về cuốn sách đó?
Có đúng với sự thực không,
theo anh?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Trong
đó Nhã Ca viết “chắc là
Phủ không về.”
Nguyễn Đức Tùng:
Phủ
là ai?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Phủ
là tôi đó. Bà ấy viết
“chắc là Phủ không về”;“mà nếu có về chắc cũng
không giết người”.
Người
thứ hai là giáo sư Lê Văn Hảo,
người lên rừng cùng với tôi.
Ông có viết rằng tôi và ông
ấy đều không về Huế, mà chỉ
có hai người về là Hoàng Phủ
Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân.
Nguyễn Đức Tùng:
Còn
người thứ ba?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
(nghe
không rõ)
Nguyễn Đức Tùng:
Cuộc
chiến tranh vừa qua, mặc dù đã
chấm dứt từ lâu, vẫn còn tiếp
tục chia rẽ mọi người. Và sẽ
còn lâu dài, xuyên suốt các
thế hệ. Điều này thường bị
cố tình coi nhẹ (underestimated). Đọc
lịch sử, tôi tin là người Việt
Nam rất yêu nước và đã từng
chiến thắng nhiều cuộc chiến tranh
chống xâm lược. Thế mà năm
1975, theo lời của cố Thủ tướng Võ
Văn Kiệt, lần đầu tiên có
chuyện lạ lùng là nửa nước
thì vui, nửa nước thì buồn. Hiện
nay, cuộc chiến tranh Nam Bắc đối với
một số người từ cả hai phía
vẫn còn là hận thù, đối
với một số người khác là
phẫn nộ trước lịch sử, và
đối với nhiều người khác là
vết thương tâm hồn, là sự
hoài niệm về một nền Cộng hòa
đã bị xóa bỏ, một nền tự
do mà theo tôi nửa là hoàn toàn
có thật, nửa là chưa bao giờ kịp
có thật.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
không bao giờ muốn chia rẽ dân tộc.
Khi lên rừng đi kháng chiến chống
Mỹ tôi chỉ nghĩ đến một chính
phủ hòa hợp. Sau 1975 tôi tin rằng
chúng ta đã có cơ hội để
làm được điều này, nhưng
rồi chúng ta để lỡ dịp may đó.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi
tin vào suy nghĩ ở thời điểm này
của anh, nhưng tôi cũng không nhất
thiết cho rằng đó là những suy
nghĩ bất di bất dịch. Điều đó
là dễ hiểu. Đối với nhiều
người đi theo Mặt trận Giải phóng
miền Nam vào những năm sáu mươi,
có khi đó chỉ là một khẩu
hiệu dân vận, và vấn đề họ
quan tâm hơn, nói thẳng ra là, chiến
thắng tuyệt đối về quân sự
và chính trị.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
tâm sự với anh thế này: sau vụ
Mậu Thân xong tôi suy nghĩ mãi, tôi
buồn quá, tôi muốn một mình ra
một hoang đảo ở một mình và
sẽ không chọn một phe phái nào
cả.
Nguyễn Đức Tùng:
Nếu
trong Tết Mậu Thân anh được cử
về thành thì anh sẽ làm gì,
có thái độ như thế nào
trước những vụ giết người?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
sẽ không làm gì được, nhưng
tôi biết chắc là tôi sẽ không
giết người. Có lần, trên một
dốc núi, một người bạn của
tôi là anh Lê Hữu Bôi, Chủ tịch
Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, đã
bị giết. Anh ấy cũng người cùng
quê Quảng Trị mình, tuy học ở
Sài Gòn nhưng về Huế đi tu ở
chùa Tường Vân, rồi bị bắt
đi từ chùa Tường Vân trong Tết
Mậu Thân. Trường hợp ấy nếu
gặp tôi, tôi sẽ tha. Còn những
vụ giết người hàng loạt, tôi
chỉ nghe nói chứ không chứng kiến,
nhưng tôi biết là mình không thể
hành động như thế.
Tính
tôi có lẽ hợp với đi tu, thấy
chuyện máu me dư rứa tôi rất gớm
(lắc đầu). Tôi không làm được.
Hồi nhỏ, tôi không thể giúp mẹ
tôi làm được việc cắt cổ
gà.
Nguyễn Đức Tùng:
Lúc
đó anh có nhận ra là có một
sự khác nhau nào đó giữa anh và
những người cũng lên rừng đi
kháng chiến như anh? Ví dụ như
tỉnh đội trưởng mà anh nhắc
đến chẳng hạn?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Không
thể có khác biệt sâu xa được.
Khi đã ở với nhau lâu rồi thì
người ta sẽ dần dần trở nên
giống nhau, cũng như nhiều anh em khác,
tôi phải nén cái riêng tư của
mình lại. Mà những người đi
kháng chiến đa số là từ nông
thôn nên họ suy nghĩ giản dị lắm.
Một số người có thù sâu
nên có dịp là họ trả thù.
Nguyễn Đức Tùng:
Như
vậy trong chiến tranh chuyện trả thù
trả oán cá nhân là có thật?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Dĩ
nhiên là có thật.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
lên rừng từ năm 1966, nhưng đến
năm 1987 anh mới được chính thức
kết nạp vào đảng Cộng sản
Việt Nam. Như vậy là vì anh xin vào
mà không được hay vì anh chưa
muốn vào?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
xin vào mà không được. Lúc
mới gia nhập cách mạng, tôi thuộc
về Quảng Trị, ở đó tôi cũng
bị theo dõi. Rồi khi vào Huế, tôi
phụ trách tờ báo Cờ Giải Phóng,
có một ông bí thư luôn luôn
đố kỵ tôi. Tôi làm đơn
vào Đảng lúc nào cũng bị
bác vì nói là chưa đủ
điều kiện.
Trong
thực tế lúc ở trên rừng, tôi
chẳng nói điều gì khác biệt
với mọi người cả, mà chính
tôi cũng phải nói hùa theo những
người khác, và cho vụ Mậu Thân
là một chiến thắng, không có
thất bại. Tiến sĩ Lê Văn Hảo,
hiện nay làm ở viện bảo tàng
Louvre ở Pháp, có biết rõ giai đoạn
này của tôi.
Nguyễn Đức Tùng:
Như
vậy việc anh không được vào
đảng Cộng sản là do những đố
kỵ cá nhân chứ không phải là
vì những khác biệt lớn hơn, ví
dụ về quan điểm chính trị.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Rất
khó phân biệt giữa Đảng và
cá nhân, vì đảng cũng là
đảng viên.
Nguyễn Đức Tùng:
Có
phải chính anh là người đã
viết và đọc lời hiệu triệu
nhân dân nổi dậy trong vụ Mậu
Thân? Ngày nay nếu lặp lại anh có
thay đổi lời hiệu triệu đó
không, hay vẫn giữ nguyên?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Vẫn
giữ nguyên. Tôi viết và đọc
lời hiệu triệu đó thay mặt Liên
minh Dân tộc, Dân chủ và Hòa
bình, họ thu băng rồi phát lại ở
Huế. Nếu viết lại tôi sẽ không
thay đổi gì cả, vì trong đó
tôi nhớ là chỉ kêu gọi đánh
đuổi Mỹ và xây dựng một đất
nước hòa bình, dân chủ.
Nguyễn Đức Tùng:
Đọc
Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi để
ý vài điều. Anh làm thơ ít,
nhưng bài nào cũng thể hiện một
tâm trạng rõ rệt. Những bài
thành công thường dùng ngôn ngữ
cổ điển, bút pháp cổ điển,
mà vẫn lay động lòng người.
Đó là nhờ cái tình. Nhưng
nói đến tài năng của anh, thì
phải nói đến những trang văn xuôi
trác tuyệt trong thể loại bút ký
và tùy bút. Đó thực sự
là một trong những thành tựu của
văn học Việt Nam. Người ta thấy
rằng các chất liệu văn học của
anh đều lấy từ thời kỳ gian khổ
trong rừng, nhiều hơn là những ngày
thanh bình ở thành phố. Nhìn lại
đó là thời kỳ vui nhiều hay buồn
nhiều?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Vui
buồn lẫn lộn. Trên rừng, có
những sự việc tôi được chứng
kiến tận mắt, nhưng hầu hết là
nghe kể lại. Nhiều người nghĩ lầm
rằng trong thể ký hay phóng sự, người
viết đều chứng kiến cả. Thật
ra mình đâu có thể thấy được
tất cả. Đó cũng là những
ngày mình còn trẻ, xông xáo,
đi nhiều, có nhiều ấn tượng
sâu đậm. Sau này khi hòa bình,
mình viết các tùy bút ngắn,
đặt tên là nhàn đàm.Trong
bút ký, các sự kiện có thật
xuất hiện nhiều hơn.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi
nhớ một chi tiết văn học được
anh kể lại. Trong bài “Bản di chúc
của cỏ lau”, anh tả một buổi sinh
hoạt của du kích cách mạng với
những người dân đi rừng. Cuối
buổi sinh hoạt là mục đọc những
bức thư đầu tiên của anh em binh sĩ
trong quân đội Cộng hòa gởi cho
cách mạng, nói về nguyện vọng
của bản thân họ mong được tổ
chức hiệp thương tổng tuyển cử
để tránh khỏi một cuộc chiến
tranh mà họ sẽ phải đổ máu.
Sau đoạn văn đó anh lại viết
rõ ra, thực ra thì toàn là thư
bịa ra, do nhân vật Hoàng cặm cụi
ngồi viết ở trại Cây Thị.
Những
phương pháp hay thủ đoạn tuyên
truyền như thế là điều có
thể hiểu được trong chiến tranh, từ
cả hai phía. Tuy nhiên tôi tự hỏi,
một nền văn học có sứ mệnh
tuyên truyền sẽ phải trả giá như
thế nào để chuộc lại sự
thật mà nó đã trao đi trong thời
buổi ban đầu, để đổi lấy
chiến thắng sau cùng bằng mọi giá?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Văn
học phải đi sát với cuộc sống.
Nhà văn trung thực là kẻ nói
lên những điều anh ta cảm nhận về
cuộc đời trong hiện tại, trong ngày
hôm nay. Không điều gì có thể
chuộc lại sự thật đã mất,
không một thời gian nào có thể
thay thế được ngày hôm nay. Có
thể không phải bao giờ nhà văn
cũng đúng, nhưng khi anh ta sai thì sai
một cách chân thành.
Nguyễn Đức Tùng:
Trong
những bài viết thời kỳ chiến
tranh ý thức hệ, anh có những nhận
định rất quyết liệt và rõ
ràng, như vấn đề ta - địch.
Về nghệ thuật, những trang mô tả
của anh về miền Nam thời đó rất
hay, mặc dù người ta có thể
tranh cãi tính xác thực của chúng.
Những
nhận định và mô tả ấy cũng
không hẳn là phù hợp với những
suy nghĩ về hòa giải dân tộc sau
này của anh đâu. Hình như có
một so le nào đó. Phải chăng có
một sự phát triển hay biến đổi
trong tư tưởng đối với các
vấn đề chiến tranh và dân tộc?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đúng
là tôi có thay đổi. Nhưng ai mà
không thay đổi? Chúng ta học mỗi
ngày, học mãi. Sau những ngày nhiệt
huyết, mình dần dần nhận ra thực
tế có những cái cần điều
chỉnh. Nếu có một điều gì
không thay đổi ở tôi, thì đó
là cái tính không thích sự
giết người, ghét tội ác.
Trong
cuộc đời đi làm cách mạng
của tôi, tôi chỉ bắn một phát
súng duy nhất. Tôi bắn rụng một
chiếc lá trong một cuộc bắn thi. Đó
là phát súng duy nhất và là
phát súng cuối cùng của tôi.
Nguyễn Đức Tùng:
Tại
sao anh gọi đó là phát súng
cuối cùng?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Vì
tôi chủ trương không bắn ai. Và
thực tế là như thế.
Nguyễn Đức Tùng:
Chủ
trương của anh là không muốn giết
người, cá tính của anh cũng như
thế, nhưng con đường mà anh đi
là con đường cách mạng bạo
lực. Những người cộng sản bao giờ
cũng khẳng định nguyên lý đấu
tranh giai cấp và bạo lực cách mạng.
Như vậy có mâu thuẫn không?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
(Trầm
ngâm) Tôi hiểu rằng trong chiến
tranh thì các bên tham gia không thể
không nổ súng, nhưng cá nhân tôi
thì vẫn không thay đổi cá tính
của mình được. Tôi đã
và sẽ không bắn ai cả.
Nguyễn Đức Tùng:
Năm
1966, điều gì dẫn anh đến với
Mặt trận Giải phóng miền Nam? Đó
là tình yêu nước, muốn đánh
đuổi ngoại xâm, tương tự như
ngày xưa những người đi kháng
chiến chống Pháp năm 1945, hay là niềm
tin vào chủ nghĩa cộng sản trên
toàn thế giới? Niềm tin vào chủ
nghĩa Marx?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Chủ
nghĩa Marx. Niềm tin vào chủ nghĩa Marx.
Là
một thanh niên mới lớn, đứng trước
những bất công xã hội thời đó,
tôi không hài lòng với những
biện pháp tạm thời mà tin vào
cách giải quyết triệt để hơn.
Điều đó tôi tìm thấy ở
học thuyết cộng sản.
Nguyễn Đức Tùng:
Ngày
nay nhìn lại anh nhận xét như thế
nào về niềm tin thời trẻ?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đến
nay thì đã rõ chẳng ai làm
được gì trên toàn thế giới.
Cải thiện đời sống vật chất
là do những tiến bộ về khoa học
kỹ thuật mà thôi; còn làm cho
tốt đẹp hơn về tinh thần, về
tâm hồn, thì chưa ai làm được
nhiều. Chỉ có Mỹ. Theo tôi, Mỹ
nó đã làm được một
phần.
Nguyễn Đức Tùng:
Ở
Canada, tôi nhận thấy một điều đặc
biệt, có vẻ khó hiểu, là những
người thầy giỏi nhất của tôi
ở trường đại học Y khoa, không
phải là tất cả, nhưng một phần
lớn, đều thiên tả và khá
ngây thơ về các vấn đề ngoài
y khoa. Họ quá nặng về lý thuyết
và đến nay, sau sự sụp đổ
của Liên Xô và Đông Âu, vẫn
còn đi trên mây. Nhiều người
vẫn còn tin rằng sống ở Cuba thì
cũng tương tự như sống ở
Canada. Trong khi cổ vũ cho các khái niệm
có tính nhân loại, như bình
đẳng, tự do, thì họ lại tin rằng
người dân Trung Hoa đang có đủ
thứ quyền như họ. Vì vậy tôi
hiểu được phần nào tình cảm
và suy nghĩ của thế hệ anh những
năm sáu mươi ở miền Nam tự
do, một thế hệ trí thức đẹp,
nhưng có nhiều người không tưởng,
viễn mơ.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
có một bài thơ, trong đó có
câu
Vẽ
tôi một nửa mặt người
Nửa kia mê muội của thời hoang sơ
Vẽ tôi một nét môi cười
Một dòng nước mắt một đời phù du
Nửa kia mê muội của thời hoang sơ
Vẽ tôi một nét môi cười
Một dòng nước mắt một đời phù du
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
sinh ra trước 1954, nhưng lớn lên, đi
học và đi dạy ở miền Nam. Ở
Huế thời ấy anh có một vị trí
tốt đẹp, được kính mến.
Như thế người dân và chính
quyền Huế có lẽ đối với anh
đã có một thái độ ít
nhất là không đến nỗi tệ
lắm. Nhưng về phía anh thì anh nghĩ
sao vế chế độ Việt Nam Cộng hòa?
Anh có căm ghét nó không? Anh có
những kinh nghiệm tốt hay xấu nào đối
với miền Nam tự do?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Về
mặt lý trí, tôi nhìn chế độ
Việt Nam Cộng hòa qua hình ảnh người
bạn thân của tôi là Chủ tịch
Tổng hội sinh viên Lê Hữu Bôi bị
giết trong vụ Mậu Thân.
Vì
hắn là chủ tịch sinh viên nên
tôi phải tìm cách để đánh
đổ hắn. Nhưng về mặt tình
cảm, thì cá nhân tôi không có
chi ghét hắn. Hắn là người đi
tu.
Trong
chế độ Đệ nhị Cộng hòa
thì tôi không bị ai bắt cả mặc
dù tôi hoạt động trong phong trào
sinh viên.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
chưa từng bị bắt?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Có
một lần. Dưới thời Đệ nhất
Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình
Diệm, tôi bị bắt trong kế hoạch
Nước Lũ, của ông Ngô Đình
Nhu, tháng 8 năm 1963. Một người bạn
của tôi dạy ở đại học Y khoa
Huế, trước đó có dạy ở
đại học Minh Đức, phải bán
một phần tài sản đi để chuộc
cho tôi ra.
Những
người cực đoan, đòi chống
cộng tới cùng, thường đồng
hóa tôi với cộng sản. Nhưng tôi
không phải như thế.
Không
nên buộc tội tôi như vậy.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
được mọi người biết đến
vì nhiều lý do, nhưng trước hết
vì anh là một nhà thơ và một
nhà văn viết bút ký tài ba.
Anh cũng là nhà báo, đã từng
chủ trương tờ Cửa Việt, đóng
góp rất nhiều cho tờ Sông Hương.
Anh nghĩ sao về nền văn học Việt
Nam hiện nay?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Trước
khi chúng ta trở lại nói chuyện về
văn học nghệ thuật, tôi nhờ anh
tóm tắt lại cho tôi ba điều với
những độc giả sau này đọc
bài nói chuyện của chúng ta hôm
nay.
Nguyễn Đức Tùng:
Thưa
anh, đó là ba điều gì?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Thứ
nhất là tôi không liên quan gì
đến vụ Mậu Thân. Thứ hai, tôi
rất mong muốn có một chính phủ
hòa giải dân tộc. Trước đây
tôi đã nghĩ như thế mà bây
giờ tôi vẫn nghĩ như thế. Chính
phủ hiện nay không phải là chính
phủ hòa giải dân tộc, mà là
chính phủ của thể chế cộng sản.
Thứ ba, tôi không liên quan gì đến
đảng Cộng sản hiện nay cả. Họ
không làm được những điều
mà tôi mong ước ở họ. Họ
không làm được những gì cho
dân tộc như thời trẻ lúc đi
kháng chiến chống Mỹ tôi đã
từng kỳ vọng ở họ.
Nguyễn Đức Tùng:
Đó
là những kỳ vọng nào?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Có
hai vấn nạn, một là vấn đề
dân chủ, hai là vấn đề tham
nhũng. Họ chưa làm được việc
nào trong hai việc đó.
Nguyễn Đức Tùng:
Chủ
nghĩa Marx không thừa nhận khái niệm
dân chủ như nhiều người hiện
nay đang nghĩ, và tôi tuyệt nhiên
không nhìn ra được cách nào
để một nhà nước xã hội
chủ nghĩa có thể chia sẻ quyền
lực cho những thành phần đối lập,
và cho những giai cấp khác, mà không
vi phạm nguyên tắc căn bản của
chính họ, đó là chuyên chính
vô sản.
Dĩ
nhiên là chúng ta đang nói về
lý thuyết.
Nhưng
còn tham nhũng thì sao? Chính phủ
hiện nay hình như đang rất có
quyết tâm chống tham nhũng? Anh có tin
rằng với thời gian mọi việc sẽ
khá lên không?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đảng
không thể diệt được tham nhũng.
Tôi đã suy nghĩ về vấn đề
này sâu xa, và kết luận rằng
đảng không thể diệt được
tham nhũng trong khi nó đang cầm quyền.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
thường nhắc đến khái niệm
hòa hợp, hòa giải dân tộc. Ngày
nay khái niệm này có còn giá
trị nữa không?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Từ
khi rời thành phố đi theo cách mạng,
tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước
cho đến nay, lúc nào tôi cũng chủ
trương như vậy. Khái niệm đó
không những vẫn còn giá trị mà
mỗi ngày mỗi trở nên cần thiết
hơn. Ngày trước nhờ có chính
sách này mà đảng Cộng sản
đã đoàn kết được dân
tộc.
Nguyễn Đức Tùng:
Theo
anh muốn hòa giải hòa hợp thực
sự thì phải làm thế nào? Nhiều
người nay không còn tin vào chuyện
ấy nữa đâu.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đánh
giá lại lịch sử, quên đi quá
khứ đắng cay thù hận, cần thực
sự tôn trọng và thương yêu
nhau.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi
nghĩ rằng đối với vấn đề
hòa hợp dân tộc, tinh thần căn
bản là tha thứ. Ở Huế, khắp ngã
đường có chùa, mỗi cánh
cổng một lời kinh, đó là chìa
khóa vàng của khái niệm hòa
hợp. Nhưng tha thứ không có nghĩa
là quên lãng. Trái lại, đó
là hiểu biết, tức là nhận ra sự
thật từ hai phía, là không bôi
xóa lịch sử.
Mỗi
người cần suy nghiệm về sự thật,
lầm lỗi, về quá khứ riêng chung,
đánh giá đi đánh giá lại
mỗi ngày, đặt mình vào vị
trí của người khác trong “hai
mươi năm nội chiến từng ngày”,
cần nắm được sự thật trong
tay trước khi có đủ tư cách
để tha thứ cho người khác hay tự
tha thứ cho mình.
Một
dân tộc phải có trình độ
văn hoá rất cao mới đủ khả
năng làm điều này.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
lúc nào cũng thực tâm nghĩ đến
việc những người ở các phe phái
khác nhau cùng ngồi lại. Trong thời
kì chiến tranh, có những xung đột,
hận thù thì cũng nên bỏ qua,
không nên tiếp tục buộc tội lẫn
nhau.
Nguyễn Đức Tùng:
Đã
từng là người chủ trương tờ
báo Cửa Việt, sau đó bị đóng
cửa, anh nghĩ sao về tình hình báo
chí ở Việt Nam hiện nay?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tờ
Cửa Việt bị đóng cửa vì có
người cho rằng nó quá cởi mở
và đi chệch hướng, tờ Sông
Hương cũng bị chấn chỉnh. Thời
đó, cùng với tờ Văn Nghệ ở
trung ương, đó là hai tờ báo
địa phương đã góp phần
tạo nên văn chương đổi mới.
Việc đóng cửa tờ Cửa Việt
là biểu hiện không tốt về nền
tự do báo chí chưa trưởng thành.
Tôi nghĩ là chúng ta cần thông
cảm hơn với các nhà văn và
nhà báo hiện nay. Họ viết rất
khổ sở. Kẻ nào cho rằng họ không
chịu một sức ép nào cả là
không đúng đâu.
Nguyễn Đức Tùng:
Trong
văn xuôi, tôi chú ý nhiều hơn
đến những bài nhàn đàm có
tính chất tiểu luận của anh, viết
sau này. Khác với nhiều người,
tôi tin là khi hoàn cảnh lịch sử
của chúng ta thay đổi, chúng sẽ
ở lại lâu dài trong lòng người
đọc hơn những bài bút ký
về chiến tranh của anh. Anh có một
hoặc hai bài rất hay viết về quẻ
Dịch, tôi đọc đã lâu nên
không nhớ rõ lắm. Đó là
bài nói về hai quẻ cuối cùng
của Kinh Dịch, Thủy Hỏa Ký Tế và
Hỏa Thủy Vị Tế. Tế là vượt
qua sông. Ký Tế là đã vượt
qua, việc đã thành tựu. Vị Tế
là chưa qua sông, chưa thành. Có
phải năm 1975, cách mạng và chiến
tranh Việt Nam mà anh là một thành
phần tích cực trong đó, đã
vượt qua sông, đã ký tế?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Qua
sông rồi mà vẫn chưa xong. Đó
là bài học lớn của Kinh Dịch
nói về lẽ trời đất sinh sinh hóa
hóa. Vận mệnh thịnh suy, đường
thế gập ghềnh, người đi tới
cuối cuộc lữ hành, rồi thở phào
nhẹ nhõm ở quẻ Ký Tế. Tưởng
rằng việc đã xong, nợ đời đã
trả, chỉ còn một bước nữa
thôi là hoàn tất. Ngờ đâu
sau cái bước ấy lại là quẻ
Vị Tế, lại phải khởi đầu.
Một dòng sông khác lại hiện ra
trước mặt.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi
nghĩ rằng “một dòng sông khác
lại hiện ra trước mặt” thật
ra đã có sẵn từ lúc khởi
đầu của cuộc hành trình. Trong
bài viết ấy, anh có ý nói về
cá nhân hay nói về việc chung?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
muốn nói về cả hai.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh
chính thức gia nhập đảng Cộng sản
Việt Nam vào năm 1987. Hiện nay anh có
phải là đảng viên không?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
đã thôi sinh hoạt đảng ba năm
sau đó.
Lâm
Thị Mỹ Dạ:
Nhưng
anh ấy cũng không có giấy tờ gì
chính thức.
Nguyễn Đức Tùng:
Chị
Lâm Thị Mỹ Dạ vừa mới kể
với tôi rằng lúc đó có
người bạn của anh than phiền trong lúc
người ta tìm cách xin ra khỏi đảng
thì anh lại tìm cách xin vào.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
muốn chứng minh rằng tôi trung thành
với niềm tin thời tuổi trẻ, và
với lý tưởng cộng sản của
tôi.
Nguyễn Đức Tùng:
Trong
bài thơ tặng Irina Zisman, anh viết:
Đùa
thôi nhé, thiên đường mộng
ảo
Thế giới vỡ tan ngoài chân mây
Thế giới vỡ tan ngoài chân mây
Anh
muốn nói số phận của chính
mình?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
vừa nói về lý tưởng của
tôi thời trẻ tuổi, lý tưởng
mà chủ nghĩa Marx đã mang lại,
nhưng tôi cũng muốn nói về giấc
mơ chung của con người. Ai mà không
có ước mơ của mình, khi về
già như tôi đây thì thấy
bao nhiêu điều không phải như mình
nghĩ, mà lúc còn trẻ thì cứ
khẳng định một trăm phần trăm
là đúng, mới nghiệm ra rằng cuộc
đời nửa hư nửa thực.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi
vừa được đọc trọn vẹn
tuyển tập bốn cuốn của anh do nhà
xuất bản Trẻ (2002) in rất đẹp,
đóng bìa cứng. Tập 1 là tùy
bút và tiểu luận mà anh gọi là
nhàn đàm, tập 2 và tập 3 là
bút ký, tập 4 là thơ. Nhiều
trang viết đẹp như mơ nhưng cũng
có nhiều chi tiết trong bút ký mà
tôi cảm thấy nghi ngờ và rất
mong được gặp tác giả tận
mặt để trao đổi lại sau này.
Lâm
Thị Mỹ Dạ:
Tuyển
tập ấy nhờ có anh Trần Thức là
người rất hăng hái tuyển chọn,
tập hợp bài vở, vận động
mới được.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
cũng rất mong có dịp trao đổi với
độc giả và với các nhà
phê bình như anh Nguyễn Đức Tùng.
Văn học chúng ta ít có cơ hội
để tác giả được dịp
thảo luận trực tiếp với nhà phê
bình như thế này, về những vấn
đề xã hội và văn chương
mà tôi đoán rằng mọi người
đều quan tâm.
Nguyễn Đức Tùng:
Hoàng
Phủ Ngọc Tường là một trong vài
người viết bút ký và tùy
bút hay nhất nước, có thể đặt
tên anh bên cạnh Nguyễn Tuân, Võ
Phiến, Vũ Bằng, Phan Nhật Nam không chút
do dự. Nhưng viết bút ký là một
trò chơi có phần nguy hiểm: Nó
chính là sự thật hay chỉ là hư
cấu của tác giả? Bao nhiêu phần
trăm là sự thật, bao nhiêu là
tưởng tượng? Trách nhiệm làm
chứng của nhà văn là ở đâu?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Nhiều
người cũng cho rằng ký chỉ là
hình thức phóng sự, ghi chép, nhưng
tôi cho rằng ký có thể trở
thành một loại hình văn học có
tính sáng tạo, cũng như truyện
ngắn, tiểu thuyết. Vì vậy tôi đã
dành nhiều thời gian cho ký và may
mắn được nhiều anh em lấy làm
thích và khuyến khích. Nếu ký
là văn học thì phải nhìn nó
như một tác phẩm sáng tạo văn
học.
Nguyễn Đức Tùng:
Nghĩa
là các sự kiện trong đó không
thể tin cậy như các tài liệu
lịch sử?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Rất
khó trả lời câu hỏi của anh.
Nhưng tôi cho rằng đọc văn chương,
không thể hoàn toàn như đọc
các tài liệu khoa học được,
vì ký cũng là một thể loại
văn học.
Nguyễn Đức Tùng:
Về
thời gian, anh chỉ viết nhiều trong khoảng
từ 1975 đến 1990.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Anh
nói đúng. Đó là thời kỳ
tôi dành nhiều thời gian hơn cả
cho việc viết. Trước đó thì
bận nhiều công việc, cũng chưa đủ
thời gian tích lũy.
Nguyễn Đức Tùng:
Xa
Huế, xa nhà, anh có nhớ bạn bè,
học sinh, nhớ Tuyệt tình cốc, nhớ
ngôi trường Quốc học hay mối tình
nào đó của anh không?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
(Cười)
Nhớ chứ. Nhưng tôi là người
hoạt động nên cũng phải nén
lòng mình xuống.
Nguyễn Đức Tùng:
Trong
cuốn sách Trịnh Công Sơn Và Cây
Đàn Lya Của Hoàng Tử Bé anh mới
viết gần đây (2004), anh có kể
rằng anh và Trịnh Công Sơn cùng
học một lớp ở trường tiểu
học, sau đó hai người vẫn còn
gặp nhau nhiều lần nữa như hai người
bạn. Thời kỳ anh ở thành phố,
chưa vào bưng, thời kỳ Trịnh Công
Sơn đệm đàn cho Khánh Ly hát
trên sân trường đại học miền
Nam, có sợi tóc nào bay trong trí
nhớ nhỏ nhoi, và cả thời kỳ
sau 1975.
Tình
bạn của anh và tác giả Ru Ta Ngậm
Ngùi, có cay đắng, có thăng
trầm lắm không?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
lúc nào cũng coi Trịnh Công Sơn
là người bạn thân. Mỗi người
quyết định đi một con đường
riêng, có lúc tưởng không bao
giờ gặp nhau được nữa, nhưng
rồi cũng lại gặp nhau. Quá khứ là
tài sản quý báu của một đời
người, cái còn lại sau cùng
không bao giờ thay đổi.
Nguyễn Đức Tùng:
Cũng
trong cuốn sách ấy, anh có viết rằng
một nền nghệ thuật đánh rơi
mất nỗi cô đơn của phận người
chưa phải là một nền nghệ thuật
hoàn hảo.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đó
là tôi viết về âm nhạc Trịnh
Công Sơn, nhưng suy nghĩ ấy cũng có
tính cách tổng quát đối với
cả nền văn học nước ta, nhất
là dòng văn học cách mạng.
Nguyễn Đức Tùng:
Thời
gian đi vào rừng, anh cho là đẹp.
Còn thời gian trước đó, lúc
anh đi học và đi dạy ở miền
Nam thuộc Việt Nam Cộng Hòa, có phải
cũng là một trong những thời kỳ
đẹp nhất của anh không?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đối
với tôi, đó là thời kỳ rất
đẹp, đáng nhớ, đáng quý.
Nguyễn Đức Tùng:
Khi
trở về A Sao, anh viết:
Chợt
giật mình những tháng năm lơ đãng
Anh biết đâu em khóc em cười
Anh biết đâu em khóc em cười
Trở
về chiến khu nơi anh sống những ngày
hào hùng, lòng anh có vui không,
trong khi thơ anh lại có vẻ buồn?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Đúng
là nửa vui nửa buồn. Mất mát
của chiến tranh. Mất mát một phần
đời mình cho nó. Cái được
cũng bằng cái mất. Trong ký tôi
cũng có viết về mảnh đất A
Sao.
Nguyễn Đức Tùng:
Trong
thể ký và tùy bút, anh quan tâm
đến nhiều vấn đề, thay đổi
rất nhiều văn phong, ví dụ viết
về Huế thì nồng nàn sâu lắng,
viết về bóng đá thì triết
lý, viết về công nương Diana bạc
mệnh thì thanh khiết. Anh lấy đâu
ra những kiến thức như thế? Anh có
lời khuyên nào đối với các
nhà văn mới viết?
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Tôi
là người mê đọc sách từ
nhỏ. Chương trình đại học Sư
phạm và đại học Văn khoa của
miền Nam trước đây dạy tôi
nhiều điều, rồi sau này vừa đi
vừa đọc vừa tìm hiểu. Những
nhà văn trẻ hiện nay có nhiều
người cũng đọc, nhưng đa số
hình như ít đọc hơn thời
trước. Đó là điều đáng
tiếc.
Nguyễn Đức Tùng:
Thưa
chị Lâm Thị Mỹ Dạ, là một
nhà thơ nổi tiếng, lại là người
bạn đời của anh Hoàng Phủ Ngọc
Tường, chị có thể nói vài
lời được chăng?
Lâm
Thị Mỹ Dạ:
Hôm
nay xin dành cho anh Tường, chúng mình
sẽ có dịp khác. Nếu nói về
anh Tường thì tôi xin nói rằng
tôi đã sống nhiều năm với
anh ấy và hiểu rất rõ. Đó
là một người tốt nhưng chỉ
quan tâm tới công việc, mà không
quan tâm gì tới vợ con.
Như
một người đàn bà, tôi sống
với anh ấy rất là khổ.
Nguyễn Đức Tùng:
Xin
chị nói thêm về bản thân mình.
Lâm
Thị Mỹ Dạ:
Tôi
quê ở Lệ Thủy, Quảng Bình. Cha
tôi vào Nam trước năm 1954, mẹ tôi
lọt lại một mình ở lại nuôi
con. Chúng tôi có hai đứa con gái,
một cháu là Hoàng Dạ Thi đã
lấy chồng được qua định cư
ở Mỹ, bây giờ chỉ còn hai vợ
chồng ở với nhau. Mọi việc gì
đều nhờ đến tay bạn bè thân
thiết của anh Tường.
Nguyễn Đức Tùng:
Chị
đã từng viết:
Cuộc
đời em đơn thân đến nỗi
Chưa bao giờ em tựa vào anh
Và vì thế em âm thầm sống
Tựa vào chính mình trĩu nặng, đớn đau
Chưa bao giờ em tựa vào anh
Và vì thế em âm thầm sống
Tựa vào chính mình trĩu nặng, đớn đau
Lâm
Thị Mỹ Dạ:
Mình
biết làm sao được, vui ít, buồn
nhiều. Cái an ủi lớn nhất của
mình là anh Tường rất thành
thật, tính hồn nhiên nhiều khi như
trẻ con. Có lần đi uống rượu
gặp một cô tiếp viên nhà hàng,
cô ấy than thở với anh là không
có tiền nuôi mẹ phải bỏ quê
lên tỉnh đi làm nghề không xứng
đáng. Anh ấy liền cởi cái đồng
hồ quý được một người
bạn tặng đem cho cô ta. Mấy người
bạn phải năn nỉ bà chủ quán
để lấy lại, nhưng anh ấy nhất
định không chịu, nói là đã
cho rồi thì không lấy lại nữa.
Nguyễn Đức Tùng:
Có
một người đàn ông như thế
thì ít ra có thể lấy làm an
ủi rằng sự hy sinh của chị cũng có
phần xứng đáng, không đến
nỗi phí hoài.
Nước
mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười
Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng
Giữa tháng ngày trĩu nặng
Em đứng thẳng người
Cho anh tựa vào em.
Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng
Giữa tháng ngày trĩu nặng
Em đứng thẳng người
Cho anh tựa vào em.
Lâm
Thị Mỹ Dạ:
Chăm
sóc anh Tường trong những ngày ngã
bệnh là nhờ sự giúp đỡ và
thuốc men, công lao rất lớn của bè
bạn khắp nơi, chứ một mình tôi
cũng không làm gì được. Bây
giờ anh ấy đã từ từ hồi
phục một phần, viết được trở
lại. Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn của mình đến tất cả những
người bạn chung của hai chúng tôi.
Nguyễn Đức Tùng:
Một
hôm về Sài Gòn, buổi chiều tối
tìm đến quán cà phê gần
Đại học Vạn Hạnh trên đường
Trương Minh Giảng vì nhớ Hoàng
Thị Hạnh, người nữ sinh viên tóc
xõa ngang vai năm cũ, tôi tình cờ
được nghe một ca khúc phổ nhạc
thơ anh. Bài hát bồi hồi xúc
động.
Có
buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa
Vết
thương nào cố che khuất cũng sẽ
bị nhiễm trùng, cần mở chúng
ra, rửa sạch, khâu vá lại, rồi
cùng nhau vượt qua phiền não, đó
là mới thật sự là khởi đầu
của hàn gắn. Tôi tin vào sự cứu
chuộc của tình yêu và tha thứ.
Những
câu thơ có thể anh đã viết
riêng cho chị Mỹ Dạ. Mà người
viết khi đọc lại cũng còn hạnh
phúc.
Hoàng
Phủ Ngọc Tường:
Cám
ơn anh đã nhớ những câu thơ
của tôi. Điều đó làm tôi
thật cảm động.
Nguyễn Đức Tùng:
Xin cảm ơn
và chúc anh chị sức khỏe, bình
an.
Source: diendan.org
***