T. là một cô gái trẻ chừng 20 tuổi. Hiền lành, lễ phép, đẹp thùy mị và trong trẻo. Em nhập viện vì một chứng cảm cúm thông thường. Chuyện tưởng chừng như không thể đơn giản hơn: hạ sốt, giảm đau, chút vitamin… nâng đỡ chờ ngày hết sốt và ra viện.
Chiều hôm ấy, T. kêu nhức đầu. Điều dưỡng vừa cho uống một viên giảm đau
thì T. đổ vật ra giường, ngưng thở và hoàn toàn mê man, đồng tử giãn
rộng, mất phản xạ ánh sáng một bên. Thời đó chưa có CT, nhưng chẩn đoán
thì không gì dễ hơn: chứng xuất huyết do vỡ mạch máu não, gây ngập máu
chèn ép các mô não, làm tê liệt các trung tâm hô hấp, vận mạch ở thân
não.
Cách duy nhất để duy trì sự sống thực vật cho T. là cho thở máy, duy trì
những chức năng hô hấp- tuần hoàn tối thiểu để chờ người nhà đến nhìn
mặt lần cuối.
Xuất huyết não không chừa ai cả. Đã có ít nhất hai người thầy đã dạy dỗ
tôi, một người đổ gục xuống bàn siêu âm khi đang khám bệnh, một người
quị xuống khi đang phát biểu trong một hội thảo tiêu hóa. Họ đột quị
giữa rất nhiều đồng nghiệp y khoa, chắc chắn không thiếu sự cứu chữa
khẩn trương. Và họ cũng không thắng nổi cái giới hạn của y khoa trong
chứng xuất huyết não ngặt nghèo này.
Năm ấy tôi 30 tuổi, mà đến giờ này vẫn không quên được cái cảm giác bàng
hoàng khi cắt máy thở, chấm dứt các biện pháp hồi sức cho một thiếu nữ
đang xuân, tóc đen, môi hồng như đang ngủ. Nên tôi hiểu lắm các cảm giác
sốc nặng, kinh khủng của người nhà trước sự ra đi đột ngột của một
thành viên rất trẻ như thế.
Trường hợp thiếu nữ vừa qua đời ở bệnh viện Đà nẵng mà báo chí đưa tin
trong những ngày qua cũng không nằm ngoài kịch bản quen thuộc và bi thảm
của xuất huyết não. Khi máu đã chảy thành “hồ” trong nhu mô não, khi
não thất đã “lụt” vì máu, khi những trung tâm hô hấp – tim mạch đã bị
chèn ép và tê liệt, thì khả năng sống sót dù được cứu chữa tích cực bằng
những biện pháp y khoa tối tân nhất gần như không có. Nói theo từ của
dân trong nghề là “tiên lượng rất xấu” hay “không qua khỏi”.
Mà làm gì thì làm, trước mọi ca bệnh nặng, dân trong nghề cũng phải “giữ
vững sinh hiệu”, bảo tồn những chức năng tối quan trọng để duy trì sự
sống như mạch, huyết áp, hô hấp… rồi mới tính đến những biện pháp đặc
hiệu khác. Theo tường trình của đồng nghiệp tôi từ bệnh viện Đà nẵng,
như một thầy thuốc đã làm nghề hồi sức trong nhiều năm, tôi có thể hình
dung ngay được tính khẩn trương khi cấp cứu ca bệnh này. Chỉ trong vòng
một giờ, người bệnh được chuyển ngay từ khoa cấp cứu lên khoa hồi sức để
thở máy, nâng đỡ hô hấp. Trong khoảng thời gian đó, các đồng nghiệp tôi
đã cho chụp CT để xác định chẩn đoán xuất huyết não. Không bỏ lỡ một nỗ
lực nào, họ còn cho chụp thêm một phim CT mạch máu khác để tìm thêm khả
năng cứu sống bệnh nhân dù rất nhỏ nhoi là vỡ dị dạng mạch máu não, một
bệnh lý có thể phẫu thuật được, dù khả năng thành công rất thấp (các
phim CT này được chụp với dấu ghi nợ, trước khi người nhà đóng tiền, với
ngày giờ còn ghi rành rành trên bệnh án và trên bản in phim).
Nhưng các thầy thuốc phẫu thuật thần kinh đã lắc đầu bó tay…
Rõ ràng, không một tòa án y khoa nghiêm túc nào có thể buộc tội hay lên
án một qui trình cấp cứu chuẩn mực, nhanh chóng và đúng bài bản như thế.
Có trách thì trách trời già cay nghiệt, bắt đi một sinh mạng còn rất
trẻ như thế.
Người ta có thể ban hành những qui chế máy móc và nực cười để dạy thầy
thuốc chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi bệnh nhân. Thì cũng nên ấn định những
thái độ ứng xử đúng mực từ phía bệnh nhân và người nhà của họ. Vì sẽ
không bao giờ có một nền y khoa nhân bản nào được hình thành từ thái độ
du côn hay thù nghịch.
Nhưng cũng rõ ràng không kém, là cái cảm giác ngao ngán khi đọc những
thông tin ác ý từ báo chí, những bình luận đầy hỗn xược, đầy mạ lị dành
cho những đồng nghiệp của tôi ở Đà Nẵng. Những “bình luận gia” này không
phải là dân y khoa, hẳn rồi, nên mới phê phán gay gắt, mau mắn như đúng
rồi như thế. Nhưng từ đâu ra, xã hội chúng ta mang sẵn những định kiến
đầy thù nghịch giữa công chúng và y giới như thế?
Câu trả lời chẳng đâu xa, nếu biết rằng trước năm 1975, Sài gòn có 3
triệu dân. Sau 40 năm “xây dựng và phát triển”, dân số Sài gòn đã vượt
quá 10 triệu mà không hề có thêm một bệnh viện công lập nào khả dĩ to
đẹp, đàng hoàng như bệnh viện Chợ Rẫy. Lại phải gánh thêm bệnh nhân các
tỉnh đổ về.
Nên quá tải là phải! Nên phận người khi vào bệnh viện công phải chen
chúc nằm đôi, nằm ba, nằm ngoài hành lanh, dưới gầm giường… Thật không
bút mực nào tả xiết những thảm cảnh của người dân trong các bệnh viện
thời nay, thật chẳng khác chi những trại tị nạn. Cả đôi bên, người nhà,
bệnh nhân và nhân viên y tế, không ai không cảm thấy ngột ngạt, bức bối.
Đó là chưa kể những nhũng nhiễu, hạch sách của không ít thầy thuốc, làm cho bức tranh đã đen tối lại càng thê thảm hơn nữa.
Trong khung cảnh bức bối đó, và trên nền tảng của một xã hội đang mục
nát về đạo đức, người ta không còn tin nhau nữa. Lòng trắc ẩn, tình đồng
loại, sự chia sẻ, biết ơn… dễ dàng biến mất, nhường chỗ cho bạo lực,
nghi hoặc, hung hãn. Nên mới có việc mẹ bệnh nhi tát vào mặt bác sĩ của
con mình, nên mới có việc nhân viên y tế bị đâm chết, hay bị đổ xăng
thiêu sống…
Chuyện kinh khủng như vậy, quả tình “xưa nay hiếm” dưới gầm trời nước Nam này!
Ở một thái cực khác, các quảng cáo theo kiểu “bệnh viện là khách sạn”
cũng dẫn đến rất nhiều ngộ nhận: người ta đòi hỏi nhân viên y tế phải
hầu hạ thay vì chăm sóc, phục dịch thay vì phục vụ, và tự cho mình cái
quyền “muốn gì được nấy” ở bệnh viện. Người ta quên y khoa là một khoa
học đòi hỏi sự chuyên nghiệp, và nhân viên y tế là những người chuyên
nghiệp. Họ làm việc vì sự sống và sức khoẻ làm đầu, chứ không phải vì sự
thoả mãn hay hài lòng của một vài cá nhân quá quắt. Dưới nhãn quan của
công chúng, việc cột tay chân bệnh nhân vào giường là vô nhân đạo, phản
cảm. Nhưng có ai hiểu cho nếu không làm vậy, con người sảng rượu kia sẽ
bứt ngay dây oxy, dịch truyền, quậy phá tưng bừng…
Một ví dụ nhỏ vậy thôi, để thấy rằng đã đến lúc phải xây dựng lại nền
tảng cốt lõi của y khoa là sự thấu cảm và tôn trọng nhau từ cả hai phía:
bệnh nhân và thầy thuốc. Người ta có thể ban hành những qui chế máy móc
và nực cười để dạy thầy thuốc chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi bệnh nhân. Thì
cũng nên ấn định những thái độ ứng xử đúng mực từ phía bệnh nhân và
người nhà của họ. Vì sẽ không bao giờ có một nền y khoa nhân bản nào
được hình thành từ thái độ du côn hay thù nghịch.
Xin thôi cho thói dậu đổ bìm leo, mắng nhiếc nhân viên y tế như một trào lưu.
Xin đừng hằn học với thầy thuốc vì những qui định hành chính về y tế. Họ
không đẻ ra nó, mà là một hệ thống thừa ngàn tỷ để xây tượng đài nhưng
không đủ tiền để chụp một tấm phim CT miễn phí hay ký nợ cho công dân
của mình đang lâm trọng bệnh. Hệ thống đó thừa thì giờ, công sức để đẻ
ra đủ thứ qui định răn dạy nhân viên của mình, nhưng chưa bao giờ đề cập
đến một hỗ trợ tài chính, luật pháp để bảo vệ người thầy thuốc trước
những tai nạn nghề nghiệp như đã xảy ra với đồng nghiệp tôi ở Đà nẵng.
Và xin cho chúng tôi, những người thầy thuốc, được hành nghề trong niềm
vui và vinh dự của nghề nghiệp. Không vì hai điều ấy, y khoa là nghề
nghiệp bạc bẽo và nhọc nhằn biết chừng nào!
Theo BS. Lê Đình Phương (Nguoidothi)
Source: ijavn.org