Trần Văn Chánh*
Ôn cố tri tân
Cãi nhau hay tranh luận là hoạt động
thường xuyên của con người trong xã hội, khi hai bên (hoặc hai phe)
còn có những ý kiến bất đồng, phải dùng sự kiện và lý lẽ bắt bẻ lẫn
nhau, chỉ ra và phê phán chỗ sai của đối phương để chứng minh lẽ
phải thuộc về mình. Nếu được thể hiện bằng giấy bút thì còn gọi luận
chiến hay bút chiến (polemic). Có thể tranh cãi nhau về mọi thứ trên
đời, cả về thái độ sống tốt/ xấu, nhưng thường nhất là những vấn đề
thuộc kiến thức, quan điểm liên quan đến học thuật hoặc chính trị.
Trong lịch sử, khi chưa có báo chí hoặc
báo chí chưa phát triển, nhiều cuộc luận chiến đã được thể hiện dưới
hình thức những bài thơ xướng họa, ví như 24 bài thơ Đường luật
xướng họa nổi tiếng giữa Tôn Thọ Tường (1825-1877) và Phan Văn Trị
(1830-1910), thực chất là cuộc bút chiến giữa hai phe thân Pháp và
chống Pháp tại Việt Nam nửa sau thế kỷ 19, và tuy quan điểm đối lập
nhau hoàn toàn nhưng cả hai đều tỏ ra có tài văn chương và thái độ
nho nhã, biết kìm chế, với cách diễn đạt hàm súc, tế nhị, mang tính
nghệ thuật.
Hình thức luận chiến phổ biến kế tiếp
là trao đổi, tranh luận qua thư từ viết bằng văn xuôi. Ở Trung Quốc
người ta thường nhắc đến hai bức thư trao đổi chính sự nổi tiếng
giữa Tư Mã Quang (1019-1086) và Vương An Thạch (1021-1086) thời Bắc
Tống. Họ Vương là một nhà văn nổi tiếng và cũng là nhà kinh tế,
chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc, từng đỗ Tiến sĩ và giữ
chức tương đương Tể tướng; họ Tư chẳng thua kém, cũng từng đỗ Tiến
sĩ, cuối đời được phong Thừa tướng, là một nhà sử học, học giả lừng
danh, nhưng lại là nhân vật trung tâm đại diện cho phe bảo thủ của
triều đình chống lại những biến pháp cách tân (còn gọi “tân pháp”)
của phe cải cách Vương An Thạch dưới thời Tống Thần Tông.
Tư Mã Quang viết cho Vương An Thạch một
bức thư dài gần bốn ngàn chữ cực lực can ngăn những giải pháp đổi
mới kinh tế-chính trị táo bạo của họ Vương mà ông cho là quá lạm,
bất cận nhân tình, chỉ làm hại dân hại nước.
Cuộc tranh luận không có sự tương
nhượng nào cả nhưng lời lẽ trao đổi giữa hai bên đều vẫn giữ được
thái độ bình tĩnh, lịch sự, tế nhị, chứng tỏ phong cách đại phương
của bậc chính nhân quân tử, đồng thời cũng cho thấy họ tuy bất đồng
chính kiến một cách căn bản về đường lối, chủ trương, chính sách
nhưng cả hai đều nhiệt tâm với vận mệnh đất nước. Tư tưởng đối chọi
nhau như vậy, nhưng cả hai đều hiếu học, thành thực, liêm khiết,
sống có lý tưởng, cả phần đời tư cũng đều rất nghiêm chỉnh, giống
nhau ở đời sống rất đạm bạc, tuyệt nhiên không nghĩ đến tiền bạc,
quyền lợi riêng tư.
Đào Trinh Nhất trong cuốn Vương An
Thạch (Nxb Tân Việt, 1960) đã dịch bức thư nói trên của Tư Mã
Quang, giọng trang nghiêm, hồn hậu, với mấy dòng mở đầu (sau khi đã
có mấy sáo ngữ chào hỏi lịch sự và trước khi công kích nặng nề đường
lối chính trị của đối phương), đại khái: “Thuở nay, Quang với Giới
Phủ (tên tự của Vương An Thạch) cùng nhau bàn bạc công việc triều
đình quốc gia, vẫn thường trái nghịch ý kiến; chẳng biết Giới Phủ có
lượng xét cho không, nhưng đến lòng Quang yêu mến Giới Phủ thì trước
sau vẫn thế, không hề đổi dời chút nào…”.
Cuối thư lại còn có một đoạn khẳng khái
viết: “Giới Phủ có vui lòng nghe cho chăng? Bắt tội mà dứt tình
chăng? Mắng nhiếc mà làm nhục chăng? Hay là tâu với chúa thượng mà
đuổi đi chăng? Thế nào cũng được Quang xin đợi chờ mệnh lệnh mà
thôi”.
Về phần Vương An Thạch, ông đã đáp bằng
một bức thư ngắn gọn chỉ độ bốn trăm chữ (bằng một phần mười bức thư
của Tư Mã Quang), ý chắc nịch, không chút nhượng bộ, nhưng lời thì
vẫn rất nhã nhặn từ đầu đến cuối. Trích một đoạn:
“Hôm nọ mang ơn bác chỉ giáo, trộm nghĩ
tôi với Quân Thực (tên tự của Tư Mã Quang) giao du với nhau đã lâu,
cảm tình tuy hòa hợp mà mỗi lần bàn về việc nước thì ý kiến bất
đồng, chỉ do chủ trương mỗi người thường một khác, dù tôi có gắng
sức giải thích thì rốt cuộc cũng không được bác hiểu cho, vì vậy mà
đã không dâng thư lên biện bạch từng điều, từng điều một. Nhưng nhớ
trước kia được Quân Thực hậu đãi, thì nghĩ đi nghĩ lại không nên lỗ
mãng, vì thế hôm nay xin trình bày đủ nguyên ủy, mong Quân Thực may
ra thứ lỗi cho.
“Nhà Nho sở dĩ tranh luận nhau, phần
lớn là tại vấn đề danh và thực. Danh và thực đã rõ ràng rồi thì sự
lý trong thiên hạ có thể nắm được.
Quân Thực muốn chỉ bảo tôi là những
điều này: tôi vượt chức, tiếm quyền; tôi cố ý sinh sự, tôi chiếm
đoạt lợi của dân; tôi cự tuyệt những lời can gián; đến nỗi thiên hạ
oán giận, công kích.
“Tôi thì lại cho rằng (…). Nếu Quân
Thực trách tôi là ở chức đã lâu mà không giúp Hoàng thượng làm được
những việc lớn để ban ân đức cho dân thì tôi xin nhận là có tội. Còn
như bảo rằng ngày nay nhất thiết không nên bày việc ra làm gì, cứ
giữ lề lối cũ thì điều đó tôi không dám nghe. Không có dịp gặp mặt,
khôn xiết chờ mong”.
Đọc thư của hai đại văn gia Trung Quốc
kể trên, người Việt chúng ta không thể không liên tưởng đến hai bức
thư nổi tiếng không kém trao đổi nhau giữa Phan Đình Phùng và Hoàng
Cao Khải, tiêu biểu cho phe chống Pháp và thân Pháp khoảng cuối thế
kỷ 19.
Như chúng ta đều biết, hưởng ứng dụ Cần
vương của vua Hàm Nghi sau cuộc binh biến thất bại năm 1885 ở Huế,
Phan Đình Phùng (1847-1895) đứng ra chiêu tập lực lượng chống Pháp
trong suốt 10 năm (1885-1895) ở Hương Khê, Hà Tĩnh, gây cho đối
phương nhiều tổn thất nặng nề. Vâng lệnh Toàn quyền Lanessan, tháng
5/1894, đại thần thân Pháp Hoàng Cao Khải (1850-1933) đã viết một
bức thư cho người đem đến tận nơi đưa cho Phan Đình Phùng để dụ ông
ra hàng, sau đó họ Phan cũng đã có thư phúc đáp. Có thể coi đây cũng
là một cuộc tranh luận về quan điểm, thái độ chính trị của hai nhân
vật đối nghịch không tương nhượng thuộc hai chiến tuyến khác nhau,
mỗi người đều kiên quyết với lập trường của mình, nhưng lời lẽ vẫn
giữ được sự khôn khéo, nhã nhặn, nên thiết tưởng cũng nên chép lại
cả hai bức thư lịch sử để làm mẫu tham khảo cho việc tranh luận về
quan điểm, lập trường chính trị của người xưa. Cả hai bức thư đều
viết bằng chữ Hán, được Đào Trinh Nhất công bố bản dịch tiếng Việt
trong cuốn Phan Đình Phùng-Một vị anh hùng có quan hệ với lịch sử
hiện thời (NXB Tân Việt, 1950, đây dẫn lại của Tôn Thất Thọ,
“Hai bức thư của Phan Đình Phùng & Hoàng Cao Khải”, tạp chí Xưa
Nay, số 452, tháng 10-2014, tr. 20-23).
Thư của Hoàng Cao Khải gởi để dụ hàng
Phan Đình Phùng:
Triều Thành Thái, năm Giáp Ngọ (1894), tháng Tư.
Kính gửi Đình nguyên Tiến sĩ Phan huynh ông túc hạ,
Tôi với túc hạ xa cách nhau thấm thoát đã mười bảy năm rồi.
Việc đời dâu bể phong trần kẻ Bắc người Nam, xu hướng dù có khác
nhau, nhưng hồn mộng vẫn quanh quẩn bên nhau. Hồi tưởng khi ngày
trước ở làng xóm vui chơi, tình nghĩa đôi ta sao mà thắm thiết thế!
Từ khi túc hạ gây việc đến nay, gan trung dạ nghĩa đã vang khắp
đó đây, mọi người đều biết. Tôi thường được nghe các quý quan nói
chuyện với nhau, ai cũng khen ngợi và kính trọng túc hạ, đủ rõ cái
quan niệm về nghĩa khí và tôn bậc thân, người nơi khác cũng đồng
tình, chứ không phải chỉ là bọn thanh khí riêng mình với nhau mà
thôi đâu.
Nguyên khi kinh thành có việc, nhà vua dời đi, túc hạ đã hăng hái
đứng ra ứng nghĩa, giữa lúc sự thể đến tay như thế, mà làm như thế,
ai dám bảo là không đúng.
Còn đến gần đây, sự thể như thế nào? Việc thiên hạ có thể làm
được nữa hay không? Thì dù những kẻ thô thiển tầm thường cũng còn
biết được, nữa là túc hạ là hạng người tuấn kiệt, há không nghĩ được
hay sao?
Tôi trộm đoán cái chí của túc hạ cho rằng: “Ta cứ làm việc nghĩa
của ta, hết sức hết tài của ta, còn nên hay không là do trời, ta chỉ
biết dâng mình cho nước đến chết thì thôi!” Cho nên đi luôn biền
biệt mà không trở lại nữa, là vì không thể cướp được cái chí ấy.
Nhưng tôi thấy tình cảnh hiện nay của xóm làng thật là đau lòng, tôi
thường muốn đem ý kiến thô thiển của mình mạo muội bày tỏ lên bậc
cao minh, nhưng đã rải giấy mài mực, rồi lại gác bút lên mà than thở
nhiều lần. Tại sao thế? Vì nghĩ rằng gan vàng dạ sắt ấy, không thể
lấy lời nói câu văn mà chuyển động được. Phương chi tình khác, cảnh
khác, mặt xa, lòng xa, lời nói của tôi chưa chắc đã thấu đến sân túc
hạ, mà dù có đến được sân túc hạ chăng nữa, vị tất đã lọt được vào
tai của túc hạ, chỉ tổ cho cố nhân cười tôi là ngu mà thôi.
Nay nhân quan toàn quyền cũ lại sang, trước tiên
đem công việc anh ta ra bàn, có khuyên tôi sai người tỏ ý với túc
hạ, ngài lại gửi lời nhờ nói với túc hạ rằng: “Những người đạt nhân
cố nhiên vốn không bo bo vì gia đình mình, nhưng cũng
phải nghĩ đến cứu nhân dân một phương này chứ”. Câu ấy quan toàn
quyền không nói với ai, mà lại nói với tôi, là vì cho là tôi với túc
hạ có tình làng xóm, lẽ nào tôi lại im đi làm thinh mà không nói với
túc hạ cho đành.
Kìa như quan toàn quyền từ xa muôn dặm đến đây mà còn băn khoăn
nghĩ đến dân ta như thế, phương chi chúng ta sinh trưởng ở xứ này,
cha anh họ hàng ở cả đấy mà một sớm quên hết cả tình nghĩa, điềm
nhiên như không, rồi trăm năm sau người ta sẽ bảo chúng ta ra sao?
Nguyên con người ta trên là đức của vua, vì dưới là vì dân; kẻ đã
trung với vua thì phải có lòng thương dân, chưa có người nào không
thương đến dân của mình mà bảo là trung với vua được. Những công
việc túc hạ đã làm bấy lâu nay, bảo là trung thì trung thật đấy.
Nhưng riêng nhân dân hạt ta thì phỏng có tội gì mà phải lâm vào cảnh
lầm than ấy? Đấy là lỗi của ai? Nếu cứ theo cái đà này mà đi mãi,
tôi sợ rằng cả cái vùng Hồng Lam này sẽ thành ao cá hết, chứ có phải
riêng làng Đông Thái chúng ta phải lo thôi đâu!
Cứ cho rằng: “Người làm việc thiên hạ thì không nhìn đến nhà”.
Nhưng chỉ nhà của một người thì được, còn như nhà của cả một tỉnh
thì sao? Thiết tưởng không phải điều mà nhân nhân quân tử thích làm.
Tôi lui vào mà nghĩ, lại bất giác vùng dậy vui vẻ nói rằng: “Câu này
có thể đem ra mà thỉnh giáo với bề trên được đấy!”
Tuy nhiên, sự thế của túc hạ hiện nay như cưỡi cọp
muốn xuống, nguy hiểm biết là nhường nào? Nếu tôi không có gì tự tin
thì quyết không dám khinh suất dựng nên lời nói để làm hại cố nhân.
May có quan toàn quyền đại thần quen biết với tôi từ lâu, lại quan
khâm sứ ở kinh và quan công sứ Nghệ An, Hà Tĩnh, đều tin cậy ý kiến
tôi cả. Tức như trước đây, quan Bố Trần
[tức Trần Khánh Tiến, Bố chính sứ tỉnh Nghệ An], quan Thị Phan
[tức Phan Huy Nhuận, Thị lang Bộ Công] người thì bị án mạng,
người thì bị an trí, tôi đều vì tình trong làng trong tỉnh, bảo toàn
cho cả, may đều được yên ổn. Lại như mới đây, Phan huynh [Phan
Trọng Mưu] ông ra thú, tôi đưa đi yết kiến
các quý quan, đều được đối đãi như khách. Lại sai đánh điện bảo trả
ngay mồ mả tiền nhân, thả anh em thân thuộc ra. Khoan hồng biết là
nhường nào? Xem đấy, dù biết lẽ ân lòng ấy, tuy xa nghìn dặm, vẫn có
chỗ giống nhau vậy.
Nếu túc hạ không cho lời tôi nói là viễn vông quá, xin hoàn toàn
đừng lo ngại sự gì. Quyết không để cho cố nhân mang tiếng là bất tài
đâu.
Nay tôi đã thương thuyết với các quý quan: trước hãy tha bà chị
nhà được đến báo tin với túc hạ, và kèm cả bức thư này đường đột gửi
đến túc hạ. Kính xin bậc cao minh xét cho.
Đầu non mai báo tin xuân, mong đợi có thư trả lời.
Dưới đây là thư Phan Đình Phùng trả lời
Hoàng Cao Khải:
Hoàng quý đài các hạ,
Gần đây, tôi vì việc quân, ở mãi trong chốn rừng rú, lại thêm lúc
này tiết trời mùa đông, khí hậu rét quá, nông nỗi thật buồn tênh.
Chợt có người báo có thư của cố nhân gửi đến. Nghe tin ấy, không ngờ
bao nhiêu buồn rầu lạnh lẽo, tan đi hết cả. Tiếp thư liền mở ra đọc.
Trong thư, cố nhân chỉ bảo cho điều họa phúc, bày tỏ hết chỗ lợi
hại, đủ biết tấm lòng của cố nhân, chẳng những muốn mưu sự an toàn
cho tôi thôi, chính là muốn mưu sự yên ổn cho toàn hạt ta nữa. Những
lời nói gan ruột của cố nhân, tôi đã hiểu hết, cách nhau muôn dặm
tuy xa, nhưng chẳng khác gì chúng ta được ngồi cùng nhà nói chuyện
với nhau vậy.
Song le, tâm sự và cảnh ngộ của tôi có nhiều chỗ muôn vàn khó nói
hết sức. Xem sự thể thiên hạ như thế kia, mà tài lực tôi như thế
này, y như lời cổ nhân đã nói: thân con bọ ngựa là bao mà dám giơ
tay lên muốn cản trở cỗ xe thì cản sao nổi; việc tôi làm ngày nay
sánh lại còn quá hơn nữa, chẳng phải như chuyện con bọ ngựa đưa tay
ra cản xe mà thôi.
Nhưng tôi ngẫm nghĩ lại, nước mình ngàn năm nay, đất nước chẳng
rộng, quân lính không mạnh, tiền của chẳng giàu, cái chỗ dựa để dựng
nước, là nhờ có cái gốc vua tôi, cha con theo năm đạo thường mà
thôi. Xưa kia nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh,
bao nhiêu phen lăm le muốn chiếm lấy đất ta làm quận huyện của họ mà
rút cục vẫn chiếm không được. Ôi! Họ đối với nước ta, bờ cõi liền
nhau, sức mạnh hơn ta vạn bội, thế mà trước sau họ không thể ỷ mạnh
mà nuốt trôi nước ta được, nào có vì lẽ gì khác đâu, chẳng qua non
sông nước Nam tự trời định phận riêng rõ ràng rồi, và cái ơn giáo
hóa của thi thư vốn là chỗ dựa cho mình đấy. Đến nay người Tây với
mình, cách xa nhau không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể lại đây,
đi tới đâu như là gió lướt tới đó, đến nỗi nhà vua phải chạy, cả
nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi người
ta, thế là trọn cả nước nhà, dân nhà cũng bị đắm chìm hết thảy, có
phải là riêng một châu nào hay một nhà ai phải chịu cảnh lầm than mà
thôi đâu.
Năm Ất Dậu, xa giá thiên tử ngự đến sơn phòng Hà Tĩnh; giữa lúc
đó tôi đang còn tang mẹ, chỉ biết đóng cửa chịu tang cho trọn đạo,
trong lòng há dám mơ tưởng đến sự gì khác đâu. Song vì mình là con
nhà thế thần, cho nên đôi ba lần đức Hoàng thượng xuống chiếu vời
ra, không lẽ nào có thể từ chối, thành ra tôi phải bất đắc dĩ đứng
ra vâng chiếu. Gần đây, Hoàng thượng lại đoái tưởng lựa chọn tôi mà
giao phó cho việc lớn, ủy thác cho quyền to; ấy mang ơn vua ủy thác
như thế đó, nếu cố nhân đặt mình vào trong cảnh như tôi, liệu chừng
cố nhân có đành chối từ trốn tránh đi được hay không?
Từ lúc tôi khởi nghĩa đến nay, đã trải mười năm trời, những người
đem thân theo việc nghĩa, hoặc đã bị trách phạt, hoặc đã bị chém
giết, vậy mà lòng người trước sau chẳng hề lấy thế làm chán nản ngã
lòng bao giờ; trái lại, họ vẫn bỏ của bỏ sức ra giúp đỡ tôi, mà số
người mạnh bạo ra theo tôi lại càng ngày càng nhiều thêm mãi. Nào có
phải người ta lấy điều tai vạ hiểm nguy làm sự sung sướng thèm
thuồng mà bỏ nhà dấn thân ra theo tôi như vậy đâu. Chỉ vì họ tin cậy
lòng tôi, lượng xét chí tôi, cho nên hâm mộ vậy đó thôi. Nay lòng
người như thế đó, nếu như cố nhân đặt mình vào cảnh của tôi liệu
chừng cố nhân có nỡ lòng nào bỏ mà đi cho đành hay không?
Chỉ vì nhân tâm đối với tôi như thế, cho nên cảnh nhà tôi đến nỗi
hương khói vắng tanh, bà con xiêu giạt, tôi cũng chẳng dám đoái
hoài. Nghĩ xem, kẻ thân với mình mà mình còn không đoái hoài, huống
chi là kẻ sơ; người gần với mình mà mình còn không bao bọc nổi,
huống chi người xa. Vả chăng hạt ta đến nỗi điêu đứng lầm than quá
không phải riêng vì tai họa binh đao làm nên nông nỗi thế đâu. Phải
biết quân Pháp đi tới, có lũ tiểu nhân mình hùa theo bày kế lập
công, những người không có tội gì, chúng cũng buộc cho có tội, rồi
thì bữa nay trách thế nọ, ngày mai phạt thế kia, phàm có cách gì đục
khoét được của cải của dân, chúng nó cũng dùng hết không từ. Bởi thế
mà thói hư mối tệ tuôn ra cả trăm cả ngàn, quân Pháp làm sao biết
thấu? Như thế mà bảo làng xóm không phải tan lìa trôi giạt đi thì có
thể được ư?
Cố nhân với tôi đều là người sinh tại châu Hoan, mà cố nhân ở
cách xa ngoài muôn ngàn dặm, còn có lòng đoái tưởng quê hương thay,
huống chi là tôi đây đã từng lấy thân chịu đựng và lấy mắt trông
thấy thì sao? Khốn nỗi cảnh ngộ bó buộc, vả lại sức mình chẳng làm
được theo lòng mình muốn thành ra phải đành, chứ không biết làm sao
cho được. Cố nhân đã biết đoái hoài thương xót dân này, thì cố nhân
nên lấy tâm sự tôi và cảnh ngộ tôi, thử đặt mình vào mà suy nghĩ
xem, tự nhiên thấy rõ ràng, chứ cần gì đến tôi phải nói dông dài
nhiều nữa.
Tiết đẹp nhất dương, bình yên xa chúc.
Phan Đình Phùng kính đáp.
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong
thời Pháp thuộc, cùng với sự chín muồi dần của chữ viết và nền văn
chương Quốc ngữ, ngành báo chí Việt Nam bắt đầu phát triển và có thể
nói đã khá sôi nổi từ những năm 20 của thế kỷ trước, hoạt động theo
luật báo chí 1881 với nhiều điều khoản tự do cởi mở của chính quốc
Pháp. Trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc thù của Việt Nam thời đó,
nhiều vấn đề học thuật, chính trị cần làm sáng tỏ đã được đặt ra,
thu hút sự quan tâm của đông đảo giới trí thức trong nước, theo đó
thể loại văn tranh luận/ bút chiến trên sách báo cũng xuất hiện ngày
một nhiều hơn.
Cố Giáo sư Thanh Lãng (Đại học Văn khoa
Sài Gòn) đã có công sưu tập, phân tích các cuộc luận chiến theo từng
chủ đề mà ông gọi là “vụ án”, trong 14 tập sách in ronéo dày 4.545
trang để làm tài liệu đọc tham khảo cho sinh viên, sau được soạn giả
trình bày thu gọn lại thành 10 vụ án trong bộ sách Phê bình văn
học thế hệ 1932 (Nxb Phong trào văn hóa, Sài Gòn, tập I &II,
1972-1973). Có tất cả 10 vụ án, tức 10 cuộc tranh luận tiêu biểu,
tưng bừng, sôi nổi: (1) Báo chí; (2) Cái cũ cái mới; (3) Phan
Khôi-Trần Trọng Kim [về Nho giáo]; (4) Tản Đà-Phan Khôi [về cái cười
vô cảm của người Việt và về Tống Nho]; (5) Quốc học; (6) Thơ cũ-Thơ
mới; (7) Duy tâm-Duy vật; (8) Nghệ thuật vị nghệ thuật-Nghệ thuật vị
nhân sinh; (9) Cô giáo Minh [về chuyện đạo văn]; (10) Hàn Mặc Tử [về
chuyện tranh chấp bản quyền thơ Hàn Mặc Tử giữa Quách Tấn và Trần
Thanh Mại].
Trước đó, trong những năm 1924-1930, đã
nổ ra một cuộc tranh luận khá kịch liệt về Truyện Kiều giữa Phạm
Quỳnh chủ bút báo Nam phong với nhóm nhà Nho Ngô Đức Kế-Phan
Khôi-Huỳnh Thúc Kháng, mà Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã có công tập
hợp lại thành một hồ sơ để giới thiệu cho các sinh viên đại học văn
khoa miền Nam thời đó tham khảo, trong quyển Vụ án Truyện Kiều
(Viện Đại học Đà Lạt in ronéo lần đầu năm 1965, sau có in lại bằng
kỹ thuật typo, ngoài bìa đề “Tài liệu tham khảo dành cho sinh viên
Văn khoa, Sư phạm, lớp Lý luận Văn học”, với một bài viết bổ sung ở
cuối nhưng không ghi năm xuất bản).
Trong số rất nhiều “vụ án”, đáng chú ý
có cuộc tranh luận tương đối ôn hòa diễn ra năm 1930 giữa Phan Khôi
với Trần Trọng Kim về Nho giáo. Đầu năm 1930, Trần Trọng Kim cho
xuất bản quyển thượng bộ Nho giáo, Phan Khôi đã viết một loạt
nhiều bài phê bình tác phẩm của Trần Trọng Kim (bài đầu “Đọc cuốn
Nho giáo của Trần Trong Kim”, đăng trên Phụ nữ tân văn số
54, ngày 29/5/1930). Sau khi khách quan ca ngợi công lao của họ
Trần, ông đã phê phán thẳng thắn, đại khái cho rằng tác giả
Nho giáo đã nhầm lẫn giữa Khổng học với Tống Nho.
Sau đó Trần Trọng Kim lên tiếng trả lời
Phan Khôi trong bài “Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo”
(đăng trên Phụ nữ tân văn số 60, ngày 10/7/1930), chấp nhận
Phan Khôi có lý ở nhiều điểm, nhưng không trả lời đúng vào cái điểm
mà Phan Khôi đã công kích.
Không xét chi tiết nội dung chứa trong
các bài tranh luận, ở đây chúng ta chỉ chú ý đến tư cách/ phong cách
tranh luận học thuật một cách có văn hóa giữa hai nhà học giả: hết
sức bảo vệ ý kiến mình bằng kiến thức phong phú và lý lẽ vững chắc
nhưng lời lẽ vẫn luôn ôn tồn, nhã nhặn, không dùng những câu chữ
khiếm nhã để mỉa mai quá đáng hoặc mạt sát thậm tệ đối phương; không
lợi dụng tranh luận để kích bác, chê bai, bêu riếu, xúc phạm cá
nhân…
Tham gia tranh luận nhiều nhất và hăng
hái nhất về đủ loại đề tài từ văn chương đến triết học có lẽ là Phan
Khôi (1887-1959) người gốc Quảng. Qua nhiều cuộc tranh luận, người
ta dễ dàng nhận thấy ông là một học giả uyên bác trên nhiều lĩnh
vực, có kỹ năng lý luận khúc chiết, rành mạch, tuy cãi rất hăng
không kiêng nể và nhượng bộ bất kỳ một ai nhưng vẫn giữ được mức độ
trầm tĩnh và thái độ nhã nhặn cần thiết của nhà Nho lớp trước. Một
số ý kiến chính đáng Phan Khôi nêu ra phê phán năm 1930 đã được Trần
Trọng Kim khiêm tốn tiếp thu, và đến năm 1932, khi cho tái bản
Nho giáo, ông đã cho sửa chữa. “Cuộc tranh luận này cho ta thấy
hai nhà học giả họ Phan và họ Trần đã có thái độ trí thức rất đáng
phục. Chính thái độ trí thức ấy đã giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề
triết học bấy lâu bị thiên hạ hiểu rất mu mơ” (Phê bình văn học
thế hệ 1932, tập 1).
Trong khi tranh luận, các cụ thường gọi
tôn kính nhau bằng “tiên sinh” (“tiên sanh”) hoặc “quân” (như Phan
tiên sinh/ tiên sanh, Phạm tiên sinh, Trần quân, Phạm quân…). Đôi
khi họ cũng chia sẻ lẫn nhau và với công chúng độc giả về thái độ
cần có trong học thuật, như ở bài “Sau khi đọc bài trả lời của Trần
Trọng Kim tiên sinh, cảnh cáo các nhà học phiệt” (Phụ nữ tân văn
số 62, ngày 24/7/1930) mà đối tượng bị công kích là Phạm Quỳnh trong
vụ án Truyện Kiều, ông đã hai lần nhắc khen thái độ tranh luận đúng
đắn của Trần Trọng Kim để chê Phạm Quỳnh mà ông kết án là “học
phiệt”, cho họ Phạm là có thái độ khinh khỉnh lặng im không thèm trả
lời bài viết “Luận về chánh học và tà thuyết” của cụ Ngô Đức Kế về
Truyện Kiều đăng trên báo Hữu thanh hồi năm 1924:
“Sau khi tôi đọc bài của Trần Trọng Kim
tiên sanh bàn với tôi về sự phê bình cuốn sách Nho giáo, đăng
ở Phụ nữ tân văn số 60, tôi rất lấy làm phục cái nhã độ của
tiên sanh. Tôi lấy làm phục tiên sanh bao nhiêu, thì tôi càng mừng
cho học giới nước ta có cơ khai phóng bấy nhiêu!...
“Khi tôi viết bài bình phẩm cuốn sách
Nho giáo, trong anh em đã có người e cho tôi lại ‘mắc cỡ’
chuyến nữa, nhưng tôi cũng cứ đánh bạo mà làm. May quá! Trần tiên
sanh khứng viết ra mà thương xác sự học vấn cùng tôi; cái tên tiên
sanh tôi quý trọng bao nhiêu, thì cái bài ấy tôi cũng quý trọng bấy
nhiêu; quả là “vàng” thật!
“Về phương diện lý thuyết của cái bài
tiên sanh trả lời cho tôi đó, tôi xin để rồi sẽ nói đến. Nay chính
tôi và cũng xin đại biểu cho những anh em có học vấn ít nhiều mà
cùng tôi đồng ý kiến, ngỏ lời cảm tạ Trần tiên sanh về sự người đã
có ý tốt, mở cái đường thương xác về sự học cho chúng tôi và hết
thảy mọi người trong nước Việt Nam sau nầy”.
Trong bài “Mời Trần Trọng Kim tiên sanh
đi với Khổng Tử, Mạnh Tử đến nhà M. Logique chơi, tại đó, chúng ta
sẽ nói chuyện” (Phụ nữ tân văn số 63 và 64), tiếp tục
tranh luận, họ Phan vẫn tỏ ra là một người công bằng và quang minh
chính đại, coi chân lý là thầy:
“Trước kia tôi có bài phê bình cuốn
sách Nho giáo của Trần Trọng Kim tiên sanh, kế đó tiên sanh
có viết một bài mà thương xác cùng tôi, cả hai đều được đăng trong
Phụ nữ tân văn số 54 và số 60. Mới rồi tôi lại viết một bài
đăng ở số 62, cảm ơn tiên sanh về sự mở đường cho cuộc luận biện về
học vấn; còn cái lý thuyết của tiên sanh trong bài ấy thế nào, tôi
chưa nói đến.
“(…) Vì trong sự học vấn phải giữ cái
thái độ quang minh chánh đại, khi người ta bẻ bác mình, mình còn có
lẽ nói lại thì đem mà nói lại, mình hết lẽ thì phải tỏ ý chịu cái
thuyết của người ta đi; nói cho rõ ra, hễ thua thì chịu thua, chớ
không được làm cái thói trù trơ ấp úng cho qua việc. Tôi lại cũng
biết rằng sự cãi nhau về học vấn chẳng qua là sự binh vực cho chơn
lý, thế thì dầu tiên sanh có hơn mà tôi có thua đi nữa, cái đó cũng
chẳng đủ làm cho kẻ vui người buồn giữa đôi ta; và nếu tôi là kẻ
biết điều, thì tôi cũng lại nên đừng buồn nữa, mà phải lấy sự chơn
lý đắc thắng làm vui…”.
Tranh luận, nhưng vẫn giữ được thái độ
lịch sự, tôn kính lẫn nhau, chê khen đúng mực, đó là phong cách đáng
học tập của những bậc thức giả chân chính.
Như để sửa soạn phê bình thẳng
thắn một số điểm trong sách Nho giáo của Trần Trọng Kim, Phan
Khôi (trong bài “Đọc cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim”,
Phụ nữ tân văn số 54, ngày 29/5/1930) đã khéo khởi đầu bằng sự
thừa nhận giá trị của công trình: “Trần
quân rõ là một nhà học giả, mà lại thuần túy cái thái độ học giả đời
nay, nghĩa là dùng phương pháp khoa học mà nghiên cứu các học thuật,
bởi vậy làm ra sách vở rất có giá trị”.
Về phần Trần Trọng Kim, khi đáp lại
những bài viết công kích của Phan Khôi, cũng đã tỏ ra thậm chí còn
nhã độ, từ tốn hơn, khi ông viết trong bài “Mấy lời bàn với Phan
tiên sinh về Khổng giáo” (Phụ nữ tân văn số 60, ngày
10/7/1930, sau có in lại trong phần Phụ lục sách Nho giáo):
“Trong báo Phụ nữ số 54 vừa rồi
ông Phan Khôi có đăng một bài phê bình quyển Nho giáo của
tôi. Ông lấy lời rất thanh nhã và thành thực mà bày tỏ cái ý kiến
của ông và chỉ bảo những điều mà ông cho là tôi đã lầm; thật tôi lấy
làm cảm tạ lắm. Tôi làm bộ sách ấy biết là một việc khó, không dám
chắc là không có chỗ sai lầm; cho nên chỉ mong những người thức giả
ai thấy điều gì không phải, bảo cho tôi biết để tôi xét lại, hễ có
điều chính đáng thì xin theo mà cải chính lại.
“Người mình xưa nay vẫn chưa quen chịu
người ta phê bình. Ai làm được quyển sách, quyển vở nào, đem ra giới
thiệu với công chúng, thì chỉ muốn người khen, chứ không muốn người
ta chê, rồi hễ thấy người ta bẻ bắt điều gì là mích lòng và không
hiểu rằng: “Người dạy ta mà phải, là thầy ta; người trách ta mà
phải, là bạn ta”. Bởi vậy người phê bình cũng không muốn phê
bình, mà sự học cũng không tiến bộ được. Nay Phan quân không theo
thói thường, cứ tự mình sở kiến thế nào, thì nói rõ ra như thế, để
người bàn đi có người bàn lại, khiến cho sáng rõ cái chân lý ra. Ấy
là một cách phê bình chính đáng mà tôi rất lấy làm kính phục vậy.
“Phan tiên sinh đã có lòng tốt đem cái
sở kiến của mình mà bày tỏ ra cho tôi biết, vậy tôi xin lấy lòng
thành thực đem cái sở kiến của tôi ra mà bàn lại với Phan tiên sinh.
Vị tất lời bàn của tôi đã vừa ý Phan tiên sinh, song cái chủ đích
không phải là ganh hơn ganh kém gì, chỉ cốt là cho rõ cái chân lý ra
mà thôi. Phan tiên sinh có nhắc đến những bài của tiên sinh đã đăng
trong báo Thần chung. Tôi xin thú thật rằng tôi không được
đọc những bài ấy. Mấy câu tôi nói về những cái thái độ của những nhà
cựu học đối với Nho giáo là tôi thấy hiện tình thế nào, thì tôi nói
thế, chứ không có ý chỉ trích riêng gì một ai. Vả tôi cũng chắc là
Phan quân không có ngờ gì cho tôi về việc đó.
Chuyện ấy là ngoài cái vấn đề ta định
bàn với nhau ở đây, song cũng phải nói qua để cho rõ cái tình thực
của tôi, chỉ chú ý về cái học vấn của người mình mà thôi…” (Nho
giáo, quyển hạ, Phần phụ lục, Bộ Giáo dục-Trung tâm Học liệu,
Sài Gòn, 1971, tr. 394-395).
Ở đoạn cuối bài, sau hơn 15 trang tranh
luận học thuật, Trần Trọng Kim còn đưa ra một kết luận rất ư là tinh
thần đoàn kết, hòa giải hòa hợp giữa những người quân tử “hòa nhi
bất đồng”, lời lẽ cảm động, mà đọc đến đây, cụ Phan Khôi dù có hăng
cãi và hiếu thắng đến đâu có lẽ cũng phải dịu lòng xuống để lắng
nghe:
“Dẫu thế nào mặc lòng, xem đó thì biết
Phan quân với tôi đi hai con đường khác nhau. Thôi thì tiên sinh đã
chia ra tả hữu, thì tiên sinh cứ đi đường tả, tôi cứ đi đường hữu,
mong rằng một ngày kia ta cùng nhau tới một chỗ cao ráo sạch sẽ,
tiên sinh thì đem cái tài năng của Tây học, tôi thì đem những vật
liệu của nước nhà, rồi hai ta cùng ra sức xây lấy một cái nhà thật
đẹp, theo kiểu mẫu rất mới, mà vẫn là nhà của ta, chứ không giống
nhà của người. Lúc ấy ta cùng nhau cả cười rằng ta đi con đường khác
nhau mà cùng tới một cái mục đích.
“Nếu được như vậy, thì ta cũng có thể
phảng phất như câu Mạnh Tử nói: “Quân tử diệc nhân nhi dĩ hĩ, hà
tất đồng” (Tlđd, tr. 410).
Ở một bài khác, “Mời Phan Khôi tiên
sinh trở về nhà học của ta mà nói chuyện” (Phụ nữ tân văn các
số 71, 72 và 74), viết để tranh luận đáp lại bài của Phan Khôi (“Mời
Trần Trọng Kim tiên sinh đi với Khổng Tử, Mạnh Tử đến nhà M. Logique
chơi, tại đó chúng ta sẽ nói chuyện”, Phụ nữ tân văn số 63 và
64), Trần Trọng Kim lại tiếp tục ôn tồn nhã nhặn mặc dù vẫn kiên
định lập trường:
“Trước khi Phan tiên sinh mời tôi đến
nhà cô Logique…, để nói chuyện với Khổng Tử và Mạnh Tử, tiên sinh có
viết một bài cảnh cáo các nhà mà tiên sinh gọi là học phiệt.
Trong bài ấy tiên sinh trách những người Nho học có cái thái độ lãnh
đạm đối với Khổng giáo, tôi lấy làm phục lắm (…).
“Song trong bài ấy có điều Phan tiên
sinh nói về cái thái độ của những người học phiệt, thì không
được đủ lẽ, là vì tiên sinh chỉ trách những người ấy khinh người, ai
nói gì cũng làm thinh, không thèm đáp lại. Nhưng tiên sinh không xét
cho tự xưa đến nay đã có mấy ai xướng lên vấn đề gì mà nói cho chính
đáng và ôn tồn, để cho những người có ý kiến gì khác cũng muốn đem
ra mà bàn chưa? Số nhiều người mình khi đã cầm bút viết, thì chỉ
dùng những giọng khích bác, những lời thô thiển, có khi lại buông
lời quá đáng, làm mất cả cái hòa khí trong khi biện luận. Như thế
thì tiên sinh bảo người học giả ai còn muốn biện luận nữa. Đã hay
rằng người đi học cần phải phục thiện. Song phải biết lời mình nói
có thiện thì người ta mới phục, chứ mình nói những lời sống sượng, ý
tứ ngoắt ngoéo, từ đầu chí cuối chỉ thổ lộ ra cái ý cầu thắng thì
bảo người ta phục thiện làm sao được.
“Thiết tưởng nói điều phải, có nhiều
cách nói, nếu mình lấy cái thái độ thanh nhã ôn hòa mà nói, thì ai
chẳng muốn nghe. Phàm khi đã bàn đến những điều nghĩa lý, thì ta
phải lấy cái nghĩa công chính mà nói, chứ không để ý vào sự cầu
thắng. Vì đã có cái ý cầu thắng, thì tất là động khí, mà đã động khí
thì còn bàn thế nào được cái trung chính của đạo lý nữa. Thế mà có
nhiều người hễ biện luận điều gì là lấy cái tư ý của mình đối với cá
nhân, rồi nói những lời như cãi nhau ở ngoài đường, vậy mà trách
người ta không đáp lại, chẳng hóa ra không công bình lắm hay sao?
Đây là tôi nói cái thói thường của phần nhiều người như thế, chứ
không nói gì đến Phan tiên sinh. Vậy cứ ý tôi, ta nên trách cả hai
bên, thì mới phải” (Tlđd, tr. 411-412).
Những lời trần tình của học giả Trần
Trọng Kim như vừa trích dẫn trên đây, thật xứng đáng coi là một thứ
bài giảng về văn hóa tranh luận.
Nếu chỉ tính riêng trong lĩnh vực
nghiên cứu văn học, trong gần một thế kỷ nay, đáng kể còn có cuộc
tranh luận lớn kéo dài về vấn đề ai là tác giả của bản dịch Chinh
phụ ngâm hay nhất đang được lưu hành rộng rãi nhất (Đoàn Thị
Điểm hay Phan Huy Ích?), không thấy đề cập trong bộ sách Phê bình
văn học thế hệ 1932 của Thanh Lãng. Cuộc tranh luận khởi đầu từ
năm 1926 trên tạp chí Nam phong đã được nhiều văn nhân-học
giả có uy tín tham gia, trong đó có Nguyễn Hữu Tiến, Hoàng Thúc
Trâm, Hoàng Xuân Hãn… Thậm chí sau đó có người còn viết nguyên cả
quyển sách dày cộp để tổng hợp vấn đề, như Nguyễn Văn Dương trong
công trình Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm (do
Nxb Đại học Huế in lần đầu năm 1964, tái bản có bổ sung năm 2008,
Nxb Văn hóa-Thông tin), Lại Ngọc Cang trong Chinh phụ ngâm
(Nxb Văn học, Hà Nội, 1964), Nguyễn Văn Xuân trong Chinh phụ ngâm
diễn âm tân khúc (Nxb Lá bối, 1971)...
Cuộc tranh luận đã diễn ra rất ôn hòa,
có lẽ một phần do những người tham gia đều là tiền bối lớp trước, có
phong thái học giả, với thái độ vừa khiêm cung nhã nhặn, vừa dè dặt
thận trọng, nên nói chung cũng không thấy ai sát phạt ai bằng những
lời lẽ nặng nề như ta có thể thỉnh thoảng nghe thấy trong những cuộc
tranh luận văn học gần đây qua một số sách báo, và nhất là qua không
ít bài viết đăng trên mạng Internet.
Tuy nhiên, việc tranh luận nói chung
cũng còn tùy theo ở cá tính cụ thể của mỗi người tham gia, bình tĩnh
hay sốc nổi, hiếu thắng. Có người cũng gốc nhà Nho, nhưng tự do lãng
mạn và có phần ngang ngạnh kiểu nhà thơ như Tản Đà, “dọc ngang nào
biết trên đầu có ai”, đôi lúc cũng không kìm chế được mình. Chẳng
hạn, trong đợt tranh cãi về cái cười của người Việt và về Tống Nho
(đăng trên An Nam tạp chí từ tháng 01 đến tháng 4 năm 1932),
Tản Đà đã không ngần ngại “phang” cho Phan Khôi nhiều câu búa bổ hết
sức nặng nề.
Điều này cho thấy, từ rất lâu tại Việt
Nam, giới báo chí nói chung và giới phê bình tham gia luận chiến nói
riêng, đã bắt đầu có những biểu hiện thiếu lành mạnh. Trong điều
kiện cạnh tranh khá quyết liệt, cũng không loại trừ trường hợp có
không ít nhà báo thời đó đã dùng thủ đoạn tranh luận rùm beng, tạo
sự kiện giật gân bằng cách chửi thật mạnh vào vài người có danh
thanh lớn trong học giới để quảng cáo thu hút độc giả, nhất là ở một
vài tờ báo đang ế hoặc được xuất bản sau nhiều báo khác.
Có thể kể trường hợp báo Phong hóa
để làm thí dụ. Ngay trong số đầu (16/6/1932, giai đoạn đầu có 13
số do Nguyễn Hữu Mai làm Giám đốc Chính trị), đã cho đăng bài công
kích, nhạo báng Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh một cách không thương
tiếc, mà người nào công tâm đọc vô cũng cảm thấy tuy tác giả có tài
làm thơ châm biếm độc đáo nhưng đã đi quá giới hạn cho phép về mặt
đạo đức báo chí, vì xúc phạm cá nhân một cách ác tâm:
Nước Nam có hai người tài,
Thứ nhất xừ Ĩnh, thứ hai xừ Uỳnh.
Một xừ béo núng rung rinh,
Một xừ lểu đểu như hình cò hương.
Không vốn liếng, chẳng ruộng nương,
Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu.
Bây giờ đang xỉa xói nhau,
Người câu “lập hiến”, kẻ câu “trực quyền”.
“Thưa các ngài, thực vi tiên,
Muốn xem chiến đấu, quẳng tiền vào đây”.
Tuy nhiên, đánh giá chung các cuộc
tranh luận (chủ yếu liên quan văn học, triết học) trong khoảng từ
1932 đến 1939 hay 1940, GS Thanh Lãng viết: “Có lẽ chưa có thời nào
sinh hoạt văn học có vẻ hào hứng, động đạt cho bằng trong khoảng
thời gian này” (Sđd, tập 1). Còn về kết quả, cũng theo Thanh Lãng,
“mặc dầu trong lúc lời qua tiếng lại có lắm khi không tốt đẹp là bao
nhiêu cũng đã đem lại những kết quả đáng khích lệ” (Sđd, tập II, tr.
239), có thể tóm tắt như sau: (1) Báo chí dần đi đến chỗ trưởng
thành…; (2) Những hủ tục và sự gò bó theo luân lý cũ giảm bớt: phe
mới thắng; (3) Vấn đề quốc học được hiểu theo nghĩa chính xác hơn;
(4) Thơ mới thắng; (5) Quan điểm nghệ thuật đỡ máy móc. Những nghệ
sĩ của quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật đã để lại những công trình
sáng tác đủ biện minh cho lý tưởng của họ; quan điểm nghệ thuật vị
nhân sinh hướng về xây dựng lao động cũng đã có những công trình
đáng khen ngợi; (6) Chủ trương duy vật không phải là không mở ra cho
văn nghệ sĩ những cửa ngõ mới để đánh giá nghệ thuật và thổi một
luồng gió mới vào địa hạt phê bình, khiến cho từ 1940, văn phê bình
phát triển rất mạnh.
Từ 1946 trở đi, khởi đầu thời kỳ kháng
Pháp, lịch sử Việt Nam bước sang một giai đoạn khó khăn phức tạp
mới, và nhất là từ tháng 7/1954, sau Hiệp định Genève, lịch sử lại
sang trang thêm lần nữa, đất nước tạm thời chia đôi thành hai miền
Nam, Bắc. Miền Nam tiếp tục sinh hoạt văn hóa khoa học đại khái vẫn
tiếp theo nếp cũ, với nhiều cuộc tranh luận sôi nổi nhưng đôi khi
cũng không tránh khỏi có chút lộn xộn mất trật tự kiểu tự do tư sản.
Miền Bắc trái lại, hầu như không có cuộc bút chiến nào, nếu có thì
chỉ bút chiến với một vài tác giả miền Nam với lập trường chính trị
trái ngược hẳn, hoặc để công kích những phần tử còn lơ mơ về lập
trường giai cấp và về chủ nghĩa Mác-Lênin trong nghiên cứu văn học,
mỹ học, lịch sử… Phan Khôi hay cãi nhưng đến lúc này thì cũng bó
tay, không còn cãi được. Tội nghiệp, vẫn tiếp tục không kiêng nể ai,
ông viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” đăng trên Giai phẩm mùa
thu (tập I, 29/8/1956), phân tích thực chất tình hình văn nghệ
lúc bấy giờ, đề nghị văn nghệ sĩ được tự do sáng tạo… “Nếu trong một
bối cảnh khác thì đây có thể là một đề tài bút chiến sôi nổi, hấp
dẫn, thu hút nhiều người tranh luận. Tuy nhiên, do hoàn cảnh cụ thể
lúc này, không có cuộc bút chiến nào diễn ra. Ông bị quy cho là phản
động… Và rồi từ đấy, ông bị thân bại danh liệt, mất hết mọi quyền
lợi, gây ra hệ lụy cho cả gia đình, con cái suốt một thời gian dài!”
(xem Huỳnh Hùng, “Từ các cuộc bút chiến của Phan Khôi”, tạp chí
Xưa & Nay, số 451, tháng 9/2014, tr. 20).
Văn hóa tranh luận vì thế đã chuyển
sang một chiều hướng khác. Có không ít tác giả là nhà văn, nhà báo,
nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, trước đây từng viết nhiều bài
tranh luận văn học bằng lời lẽ ôn tồn lịch sự đầy sức thuyết phục,
được cảm tình của đa số độc giả, thì giờ đây, đã bắt đầu giở giọng
phê phán và coi những người có quan điểm khác biệt như kẻ thù chẳng
đội trời chung, qua những lời lẽ sắt máu nặng nề, như gọi đối tượng
mình phê phán là “y”, là “hắn”, là “bọn chúng” này “bọn phản động”
nọ… Một số tác giả có quan điểm khác như Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang,
Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa)…,
dính đến vụ Nhân văn giai phẩm (1956), đều là nạn nhân của họ. Đọc,
chẳng hạn, Qua những trang văn (1976) của Vũ Ngọc Phan
(1902-1987), hay Phê bình và tiểu luận (tập 1, 2, 3, năm
1960, 1965, 1971) của Hoài Thanh (1909-1982)…, chúng ta có thể dễ
dàng thấy rõ điều đó.
Soi rọi vào thực tế văn hóa tranh luận hôm nay
Ở Việt Nam những năm gần đây, hai chữ
“phản biện” xuất hiện từ lúc nào không rõ nhưng được dùng khá phổ
biến. Đặc biệt, đây là một từ gốc Hán nhưng không thấy có trong từ
điển tiếng Hán, nên hẳn nó là một từ Hán Việt do người Việt mới sáng
tạo ra tương đương với nghĩa “biện luận, cãi lẽ” (tiếng Pháp:
argumenter), như nói: “tiếng nói phản biện nhiều mặt của người
trí thức”, “giáo sư phản biện”, “hội đồng phản biện”… Về ý nghĩa,
phản biện có nghĩa gần như tranh luận, nhưng phản biện mà viết ra
trên báo chí sách vở thì đó cũng là luận chiến hay bút chiến, vì thế
nhiều tờ báo, tạp chí hiện nay đặt ra mục “nghiên cứu-trao đổi” để
làm công việc phản biện.
Phản biện vì thế có hàm nghĩa là dùng
lý lẽ để chống lại một cái gì đó. Nói cách khác, là tranh luận phải
trái, chống lại cái đã đưa ra, dù đó là một giáo điều truyền thống
đã được số đông người chấp nhận. Như vậy, sự “chống” ở đây phải cần
đến lý lẽ phải chăng, không có tính bạo động, đàn áp hoặc chụp mũ,
và chỉ dừng lại ở phạm vi tư tưởng-học thuật, có thể liên quan đến
mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, văn học, nghệ thuật…
Theo Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia, “tư
duy phản biện là một quá trình
tư duy
biện
chứng gồm
phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác
cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính
xác của vấn đề. Lập luận phản biện phải rõ ràng,
lôgic,
đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm”.
Các ý kiến phản biện và được/ bị phản
biện đều có thể hoàn toàn trái nghịch nhau nhưng phải đặt trên cơ sở
tranh luận bình đẳng, công bằng, trong sáng, nhất là không được dùng
những yếu tố phi lôgic và lời lẽ phỉ báng để chống lại người khác,
theo kiểu chụp mũ, hoặc “cả vú lấp miệng em”.
Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam hiện
nay, vẫn có lối phản biện hay tranh luận thiếu lành mạnh và khá
thường xảy ra trên báo chí.
Có hai vụ xảy ra vào năm 2013 có thể
nêu lên làm thí dụ.
Một là vụ ông Lê Hiếu Đằng ra tuyên bố
đề nghị lập đảng mới đối lập. Nhiều người đã phản biện trên báo chí
công khai bằng cách đưa ra những lý lẽ khác để phản đối hoặc thuyết
phục ông Đằng thay đổi ý kiến. Một trong những bài viết như vậy đã
được đăng trên tờ Tuổi trẻ (27/8/2013), với lời lẽ lịch sự
đàng hoàng của tác giả. Nhưng cũng có loại bài viết dùng lời lẽ bêu
riếu, chụp mũ, thậm chí còn moi việc đời tư ra để tranh luận. Đó là
bài đăng trên tờ tuần báo Văn nghệ TP HCM (số 269, ngày
29/8/2013) dưới tiêu đề “Ý kiến của nhà văn Đông La (Hội Nhà văn TP
Hồ Chí Minh) về bài viết ‘Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…’ của
Lê Hiếu Đằng”, mà ngay dòng đầu phần I của bài đã gọi Lê Hiếu Đằng
là “kẻ lật lọng”, rồi đến đoạn kết thì lại viết thêm: “Khi tôi
viết về LHĐ, một bạn thân quen đã cung cấp một thông tin về đời tư
rất hay giúp ta hiểu rõ hơn về phẩm chất của nhân vật này. Có ai
muốn tìm hiểu thì liên hệ trực tiếp với tôi qua email: donglasg…”.
Vụ thứ hai liên quan tới cuộc tọa đàm
khoa học đầu tiên về nhà thơ Bùi Giáng nhân kỷ niệm 15 năm
ngày mất của nhà thơ, do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TP HCM tổ chức ngày 14/9/2013, dưới sự chủ trì của PGS TS Võ Văn Sen
(Hiệu trưởng).
Sau cuộc tọa đàm, nhiều bài viết trên
các báo ca ngợi “tài năng kỳ lạ” của nhà thơ. Dường như chỉ riêng tờ
tuần báo Văn nghệ TP HCM và tiếp liền sau đó tờ nguyệt san
Hồn Việt có ý kiến khác, nói chung cũng là hình thức phản biện
rất đáng hoan nghênh và tham khảo. Chỉ tiếc, cả hai bài đầu tiên
đăng trên tờ Văn nghệ TP HCM đều không đưa ra được lý lẽ gì
để tranh luận về phương diện văn chương, mà chỉ có tính chất xúc
phạm cá nhân, moi móc đời tư. Bài thứ nhất (“Ai làm Bùi Giáng sống
lại sau 15 năm?” của Châu Thị Năm, số 274, ngày 03/10/2013) có đoạn
viết: “15 năm nay Bùi Giáng đã chết không kèn không trống, giờ
sống lại nhờ báo Thanh niên và các vị bạn bè thân hữu của ông ấy với
động cơ gì trước sau gì ta cũng rõ”. Cuối bài còn nói thêm: “Thử
hỏi một nhà thơ cuồng say đem tọa đàm tại một trường đại học lớn như
vậy thì dạy cho sinh viên điều gì? Sao không tọa đàm các nhà thơ lớn
như Tố Hữu, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thi, Hàn Mặc Tử… Nếu nói về
cách gieo vần - câu cú trong thơ thì tôi không bàn, nhưng về lời thơ
thì đó là thơ của một người nửa đời không tỉnh”. Bài thứ hai
(“Chuyện ngược đời” của P. T. Sanh, số 275, ngày 10/10/2013) có đoạn
viết: “Nếu hỏi đa số người dân của thành phố này… thì ai cũng
biết Bùi Giáng là người… có học, từng đi dạy, làm văn, làm thơ nhưng
mọi việc đều dở dang, vì rối loạn tâm thần nên không có một vị trí
nào đáng kể trong xã hội”. Những đoạn tiếp sau chỉ thấy tác giả
toàn chỉ trích cá nhân để phản biện, bằng cách kể lại một vài tật
xấu của nhà thơ “điên”, mà không có một lời nào bàn luận xác đáng về
thơ ca cả!
Cách phản biện kiểu như trên tưởng
cũng chẳng cần bình luận thêm nhiều, vì mọi người đọc bàng quan đều
sẽ tự có cách đánh giá chính xác.
Trước đó khoảng vài tháng là vụ án văn
học nổi tiếng Nhã Thuyên về chủ đề “thơ mở miệng”, xảy ra hồi tháng
6 năm 2013. Vụ việc bắt đầu và trở nên ồn ào từ bản luận văn thạc sĩ
văn học Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa
của Nhã Thuyên (Đỗ Thị Thoan) do PGS TS Nguyễn Thị Bình (Tổ trưởng
Văn học hiện đại Việt Nam, Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội)
hướng dẫn. Nhìn chung, đối tượng nghiên cứu của bản luận văn là một
thứ văn chương “phản kháng”, “nổi loạn” của một số người trẻ không
chấp nhận thực tại nhiều mặt.
Phản ứng mạnh mẽ trước tiên có lẽ là
của cây bút “luận chiến văn chương” nổi tiếng Chu Giang (Nguyễn Văn
Lưu) trong loạt bài viết “Tiểu luận của Nhã Thuyên”, “Vấn đề ở khoa
Văn, ĐHSP Hà Nội: Một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối”
đăng trên tuần báo Văn nghệ TP HCM tháng 6/2013, với
lời tòa soạn nêu rõ đại ý: “Tiểu luận của Nhã Thuyên về thơ “dơ”,
thơ “rác”... thì không đáng nói đến. Nhưng vấn đề rất nghiêm trọng
là quan điểm đào tạo sai lầm. Kỳ này nói về luận văn của Nhã Thuyên.
Các kỳ tới nói rõ sai lầm có hệ thống ở bộ môn Văn học hiện đại Việt
Nam, Khoa Ngữ Văn ĐHSP Hà Nội”.
Sau khi trích dẫn một đoạn giễu nhại
phạm thượng của nhóm thơ Mở Miệng, tác giả loạt bài viết nêu trên đã
không ngần ngại tỏ thái độ dứt khoát: “Chỉ riêng sự giễu nhại này
cũng đủ lý do để hủy bỏ Luận văn của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thoan.
Luận văn này vi phạm nhiều điều của Luật xuất bản (thật ra vẫn
chưa xuất bản - TVC). Vì vậy chúng tôi cấp thời đề nghị phải lập
tức đình chỉ việc giảng dạy của cô giáo Nhã Thuyên - dù là giảng dạy
hợp đồng. Đồng thời hủy bỏ Luận văn, hủy bỏ học vị Thạc sĩ
của tác giả Luận văn, xem xét lại tư cách của người hướng dẫn khoa
học là PGS TS Nguyễn Thị Bình và trách nhiệm của Hội đồng chấm Luận
văn này. Không thể để tiêm nhiễm vào các nhà giáo tương lai một thứ
văn hóa phản nhân văn, bất nhân bất nghĩa như thế” (Văn nghệ
TP HCM, ngày 13/6/2013).
Tiếp sau là một làn sóng phản ứng ngày
càng mạnh mẽ thể hiện qua nhiều bài viết của những tác giả tên tuổi
đăng trên các tờ báo lớn như Thanh tra (22/6/2013),
Nhân dân (07/7/2013), Quân đội nhân dân (07/7/2013), mà
tất cả đều phản đối kịch liệt ở nhiều góc độ khác nhau.
Bồi thêm vào câu chuyện để tấn công Nhã
Thuyên và nhóm bảo trợ luận văn ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội lại
còn có tờ nguyệt san Hồn Việt, trong số tháng 8/2013 đã “đăng
một số ý kiến để bạn đọc tham khảo, nhận định” (trích Lời Tòa soạn),
dưới đầu đề chung “Mấy vấn đề chung quanh luận văn thạc sĩ của Nhã
Thuyên”. Tiếp dưới là một loạt 4 bài viết rất dữ dội: “Không mơ hồ,
mất cảnh giác” của nhà văn Vũ Hạnh (Hội đồng Lý luận-Phê bình Trung
ương và TP HCM), “Một luận văn thạc sĩ văn học… phi văn học” của
Nguyễn Văn Thức (Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ), “Lợi dụng chiêu
bài ‘dân chủ’, ‘nghiên cứu’ để phỉ báng cách mạng” của nhạc sĩ Trần
Xuân Tiến (Hội đồng Lý luận-Phê bình Văn học-Nghệ thuật TP HCM), và
“Luận văn bộc lộ thái độ chống đối chế độ” của NSND Đặng Hùng (Hội
đồng Nghệ thuật Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam). Tất cả 4 bài viết tuy
trình bày hơi khác nhau nhưng đều đồng loạt đưa ra quan điểm với lời
lẽ nặng nề vạch trần tính chất bị cho là phản động phi văn học của
bản luận văn đang xét. Nhưng điều đáng nói là thay vì dùng thuần lý
luận và lời lẽ có văn hóa để phản biện xoáy vào nội dung chính, họ
lại áp dụng biện pháp chụp mũ chính trị và tuôn ra hàng loạt những
lời sấm sét có tính đe dọa đối với một cô giáo trẻ mới vào nghề tuổi
đáng con cháu họ, và với tập thể giáo viên liên quan, như: “… các
thế lực chống đối chúng ta thì không bao giờ quên, bất cứ ở đâu, lúc
nào họ cũng đeo đuổi mục tiêu chống phá và lật đổ” (Hồn Việt,
số 72, tháng 8-2013, tr. 20). Hoặc: “Nó chứng tỏ chủ nghĩa chống
cộng được các thế lực nước ngoài cổ vũ… Tôi đề nghị… huy động các
chuyên gia còn có nhiệt tình cách mạng vào cuộc để giúp Bộ Giáo dục
và Đào tạo làm tốt công tác của mình. Cái mạnh của chúng ta là tổ
chức. Phải nên thay thế, không ngần ngại, những vị có chức trách
ở các viện, trường…” (tr. 24). Hoặc: “Đây là luận văn trá hình, che
phủ nội dung chính trị phản động…” (tr. 64)...
Dường như họ viết ra là để hạ bệ, làm tiêu tan sự nghiệp người khác
chứ không phải để phản biện trên tinh thần xây dựng.
Về phía Nhã Thuyên và nhóm có cùng chủ
trương, sau đó đều bị cho thôi việc, dư luận chờ đợi nhưng hầu như
không thấy có ý kiến trao đổi gì trên các báo chí công khai (hiểu là
báo giấy/ báo in có giấy phép chính thức trong nước), nhưng qua vụ
này mà vô tình họ được nhiều người chú ý, đã mở ra một đề tài tranh
luận có ý nghĩa về phương diện văn hóa, văn học.
Nhưng cuộc tranh luận lẽ ra phải có,
đáng có vừa được giả định nêu trên, có lẽ cũng giống như hoàn cảnh
Phan Khôi hồi năm 1956 khi viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”,
rất tiếc đã không xảy ra. Hay nói cách khác, thực tế là không có
tranh luận hoặc tranh luận bất bình đẳng, vì nhóm công kích Nhã
Thuyên có sẵn trong tay những phương tiện truyền thông mạnh mẽ, trái
lại bản thân Nhã Thuyên và nhóm bênh vực cô ta lại không có được
chút đất dụng võ trên những tờ báo được phát hành chính thức trong
nước, khiến họ chỉ còn cách đưa lên một số bài viết để tranh luận
trên mạng Internet, trong khi đó điều cần nhất và hữu ích cho công
cuộc xây dựng văn hóa chung hiện nay là báo chí công khai cần phải
đăng thêm nhiều ý kiến trái chiều nhau để tiện cho sự phán xét khách
quan hơn của công luận và các giới nghiên cứu.
Những thực tế dẫn trên cho thấy, trong
thời kỳ đổi mới, phát triển của đất nước, hằng trăm vấn đề trên mọi
mặt hoạt động cần được đặt ra để thảo luận giải quyết. Với khoảng
800 báo, đài, tạp chí thuộc đủ loại hình khác nhau trong nước được
nhà cầm quyền luôn khuyến khích phải tham gia đóng góp, xây dựng,
sáng tạo, phát huy vai trò diễn đàn của báo chí… thì lẽ ra tình hình
tranh luận trên tinh thần dân chủ phải được cổ vũ mở rộng hơn nữa để
huy động trí não của toàn dân và đặc biệt của các tầng lớp nhân sĩ
trí thức tham gia ý kiến xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới,
nhưng thực tế lại đi theo chiều ngược hẳn.
Trong khi các nhà đương cuộc thừa nhận
việc “nghiên cứu những trào lưu tư tưởng, học thuyết mới, lý thuyết
mới chưa được nhiều”, từ đó đòi hỏi về mặt lý luận phải chấp nhận
“đối thoại thẳng thắn với những người có quan điểm khác trên tinh
thần khoa học, dân chủ, xây dựng, thuyết phục lẫn nhau” (trích Nghị
quyết số 37-NQ/TW ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác lý
luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030), thì một số ít tờ báo
trong hệ thống báo chí quốc gia lại không thực hiện đúng theo tinh
thần Nghị quyết Đảng, bằng cách thường xuyên cho đăng những bài viết
nhân danh “nghiên cứu-trao đổi” để trù dập bất kỳ tư
tưởng, “ý kiến khác” nào vừa được ló ra, nhưng không phải trên tinh
thần đối thoại xây dựng dân chủ mà chỉ chuyên theo một chiều bôi
bác, vu cáo, chụp mũ chính trị...
Cách phản biện (tức nghiên cứu-trao
đổi) của họ là không cần dùng đến một hệ thống kiến thức hay lý
thuyết gì cho chặt chẽ, lý lẽ đưa ra không cần mạch lạc, sự kiện dẫn
chứng cũng không cần độ chính xác cao, mà chỉ cần dựa theo những
kiến thức lý luận đã học được từ mấy mươi năm về trước, để áp đảo.
Khi muốn tranh luận với ai, họ thường trích dẫn ngắt khúc từng đoạn
bài viết của đối phương để xuyên tạc, hoặc tìm cách bắt bẻ vặt vãnh
vào những câu chữ đôi khi sơ suất của tác giả, rồi dùng những lời
lẽ, câu chữ rất khiếm nhã, thậm chí hỗn xược để công kích, bêu riếu,
mạt sát, mỉa mai, vạch đời tư ra chửi, không từ bất kỳ ai, kể cả
với những “đối thủ” có tuổi đời đáng bậc đàn anh hoặc thuộc hàng cha
chú họ.
Mấy năm gần đây lại còn thấy có hiện
tượng đôi ba tờ báo nào đó chẳng rõ do ngẫu nhiên trùng hợp hay cố ý
đã có sự liên kết liên minh lẫn nhau với một quan điểm lập trường
thống nhất, chuyên tập trung một số “chuyên gia phản biện” để công
kích một số đối tượng thuộc loại có ý kiến khác mà tất tần tật đều
bị họ gán cho cái tội nếu không phản động chống phá Nhà nước, xuyên
tạc lịch sử thì cũng có ý xấu này khác. Do quen thói chửi rủa, quy
chụp thô thiển kiểu “bỏ bóng đá người”, số ít tờ báo như vậy đã vô
tình trở thành những con sâu làm rầu nồi canh, tự hạ thấp vai trò
của báo chí và lương tâm chức nghiệp, ảnh hưởng xấu đến uy tín của
cả hệ thống quy hoạch báo chí quốc gia, và thường thì một số tác giả
đúng đắn bị họ phản biện cũng ít khi phản biện trở lại, vì xét thấy
không cần thiết hoặc chỉ mất công vô ích. Tuy nhiên, theo sự nhận
xét của riêng tôi, những bài phản biện đăng trên số ít tờ báo loại
nêu trên cũng có mặt lợi ích nhất định, nếu người được/ bị phản biện
có tinh thần khách quan vô tư chịu nhận một số điều chỉ trích hợp lý
mà đôi khi những bài phản biện kém chất lượng kiểu đó cũng giúp vạch
ra cho thấy.
Trong lịch sử mọi thời kỳ và bất cứ ở
đâu, khi một đất nước nào đó bị đặt trong tình huống có nhiều thử
thách và lựa chọn thì tình trạng phân hóa tư tưởng trong nhân dân,
trong giới cầm quyền cũng như trong hàng ngũ trí thức với sự căng
kéo đấu tranh quyết liệt giữa hai thế lực bảo thủ và tiến bộ là
đương nhiên không thể tránh khỏi. Hai lực lượng này luôn luôn tranh
luận lẫn nhau để giành phần thắng và lẽ tất nhiên, từ cổ chí kim,
chẳng ai dám công khai thừa nhận mình thuộc nhóm bảo thủ hoặc cho sự
bảo thủ là tốt, mặc dù đôi khi sự cấp tiến thái quá cũng có thể dẫn
đến nhiều hậu quả tai hại. Tuy nhiên, dù thuộc nhóm bảo thủ hay cấp
tiến, trên phương diện luật pháp, cả hai bên đều phải có quyền tranh
luận bình đẳng như nhau, và đều phải tôn trọng một thứ đạo đức chung
gọi là văn hóa tranh luận. Trong chiều hướng đó, kẻ bảo thủ
vẫn có quyền bảo vệ lập trường bảo thủ của mình, chẳng ai cấm họ nếu
họ chưa muốn sửa đổi, nhưng khi viết ra trên những diễn đàn công
cộng để tranh biện với người khác, xã hội buộc họ phải giữ thái độ
chừng mực đúng đắn, không được xổ ra những câu chữ lếu láo bất nhã
gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến đầu óc thế hệ học sinh-sinh viên
trẻ tuổi đang cần thụ hưởng một nền giáo dục lành mạnh.
Mục đích của bài viết này chủ yếu muốn
gợi ý, nói qua vấn đề văn hóa tranh luận trong lĩnh vực nghiên cứu
văn học, sử học, với hàm ý cho rằng thái độ khiêm cung hòa nhã, sự
làm việc cẩn trọng, cách dẫn chứng-trình bày minh bạch, kết luận dè
dặt… là những tính cách tốt đẹp cần thiết của tất cả những người
tham gia tranh luận vì thiện chí học thuật chứ không bởi bất kỳ động
cơ cá nhân ích kỷ nhỏ nhen nào khác. Ngược lại với tính cách nghiêm
túc trên đây là thái độ phủ nhận, bài bác theo kiểu bươi móc, chửi
bới, chụp mũ chính trị, thậm chí còn dùng cả ưu thế ngôn luận của
mình để vùi dập không cho người khác được phát biểu những ý kiến
trái chiều.
Tranh luận tự do trên các diễn đàn công
khai là một hình thức trao đổi ý kiến và cũng là nề nếp sinh hoạt
không thể thiếu được trong các xã hội dân chủ và văn minh, vì vậy
đứng trước tình trạng văn hóa tranh luận đã và đang có không ít biểu
hiện biến tướng, chệch choạc theo hướng độc quyền như ngày hôm nay
và như đã mô tả, có hại cho tiền đồ dân tộc, thiết tưởng tuy thời
đại có khác, chúng ta vẫn phải cấp bách gây dựng lại điều mà ngày
trước cụ Phan Khôi từng gọi là “học phong sĩ tập” (phong thái học
vấn và tập quán kẻ sĩ), trên cơ sở thực thi đúng theo tinh thần dân
chủ của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948) cũng như của Hiến
pháp Việt Nam (2013) về các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và
tự do báo chí. Có thể nói, nếu không có đủ các quyền căn bản này thì
cũng không có quyền tranh luận và văn hóa tranh luận đúng nghĩa.
22/5/2015
T V C
Nguồn: viet-studies