Cư Vân NGUYỄN VĂN PHƯỚC *
Anh Nguyễn Đắc Xuân ở Huế gọi điện vào đề nghị viết bài tưởng niệm nhân ngày giỗ đầu của Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Nhớ hôm anh Mỹ mất ở TP Hổ Chí Minh, tôi kẹt công chuyện ở Đà Nẵng, không vào tiễn anh được, buồn và áy náy vô cùng. Thôi thì cũng nhân cơ hội nầy, ghi lại một vài kỹ niệm về anh như là một cách để bái vọng vậy.
Đà Nẵng: Những ngày biến động (1964-1966)
Nói theo người xưa, anh Mỹ và tôi là bạn vong niên, Anh hơn tôi hơn mười tuổi. Khi tôi còn là học sinh trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, thì anh đã là giáo sư âm nhạc trường Bồ Đề và Phan Thanh Giản. Anh lại là cậu ruột của Vĩnh Kha, một đồng đạo và là bạn chí thân của tôi ở Tổng hội sinh viên Huế và những ngày biến động tại miền Trung từ 1963 đến 1966. Anh vừa là thầy vừa là cậu của bạn, phong cách lại quá nghiêm túc, mô phạm, nên khi gặp anh, tôi chỉ cúi đầu chào thầy mà không dám bắt chuyện.
Mãi đến năm 1964, khi tôi ở Huế vào Đà Nẵng tham gia cuộc tranh đấu chống Hiến chương Vũng Tàu. Từ chùa tỉnh hội, tôi được giao nhiệm vụ hướng dẫn đoàn biểu tình đến tòa Thị chính.. Khi đoàn biểu tình đến ngã ba Ông Ích Khiêm – Quang Trung thì anh Mỹ chạy chiếc vespa đến hỏi tôi:
- “Lộ trình thế nào hả Phước?”
-“Thưa thầy, theo đường Quang Trung về tòa Thị chính” tôi trả lời.
Anh Mỹ nói nhanh có vẻ rốt ruột:
-“Đã chuẩn bị ở tòa Thị chính chưa? Cảnh sát đang dàn chào đông nghẹt ở dưới đó, coi chừng đụng độ”.
Tôi giật mình, suy nghĩ nhanh, rồi hối thúc anh:
-“Thầy và em xuống đó trước”.
Anh không trả lời, quay nhanh đầu xe vespa. Tôi nhảy lên ngồi ở yên sau. Chúng tôi phóng nhanh xuống Tòa thị chính. Đó là lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện với nhau và “cùng nhau hành động”.
Chuyện chỉ đơn giản như vậy, nhưng mãi đến sau nầy, khi đã là bạn của nhau, ở chung với nhau một phòng trong suốt hai năm trời, chuyện nầy cứ ám ảnh chúng tôi mãi… Chuyện là sau khi anh Mỹ và tôi bỏ đoàn biểu tình để xuống Tòa thị chính, thì đoàn biểu tình không đi theo đường Quang Trung như lộ trình đã vạch ra từ đầu, mà rẽ về đường Đống Đa, rồi xẩy ra vụ Thanh Bồ Đức Lợi… Gần đây có một số bài viết về vụ Thanh Bồ-Đức Lợi. Mỗi tác giả có thế đứng, cách nhìn riêng, nên cùng một sự kiện mà không bài nào giống bài nào, lại còn còn đưa ra những sự kiện mâu thuẩn nhau. Có người vỗ ngực xưng tên tự nhận là đạo diễn. Riêng anh Mỹ và tôi không nói và không viết gì về chuyện nầy. Nhưng mỗi lần nhắc lại, chúng tôi cảm thấy xốn xang. Chúng tôi thường dùng chữ “giá mà” trong nỗi xót xa và hối lỗi. Giá mà anh Mỹ không chạy đến báo động cảnh sát đang dàn chào ở tòa Thị chính. Giá mà tôi không bỏ đoàn biểu tình để đi theo anh Mỹ…và nhiều chữ giá mà nữa, …thì chắc là không có chuyện Thanh Bồ - Đức Lợi.
Năm 1966. tôi lại được Tổng hội Sinh viên Huế cử vào Đà Nẵng tham gia phong trào. Khi lực lượng tranh đấu chiếm toàn thành phố, lực lượng quân nhân, đa số là quân nhân Phật tử, lập chiến đoàn Trần Hưng Đạo, ly khai với Sài Gòn, Bác sĩ Thị trưởng Nguyễn Văn Mẫn cũng tham gia. Tôi được cử chiếm Đài phát thanh với đại úy Biệt Động Quân Tôn Thất Trực và phụ trách chương trình có tên dài ngoằng: “Tiếng nói nhân dân tranh thủ cách mạng Đà Nẵng”. Tất cả chương trình đều không thâu băng trước mà phát thanh trực tiếp. Mặc dù có các em học sinh tiếp tay, nhưng vừa viết bài vừa phải xướng ngôn, nên tôi mệt phờ người, nhiều lúc bài không viết kịp, tôi đành phải nói “bộ” (nói không có giấy, kỹ thuật nầy là tôi học được của anh Trần Anh Tuấn khi chúng tôi còn phụ trách chương trình phát thanh của Sinh Viên Huế, nay là Tiến sĩ Trần anh Tuấn, đang dạy các Đại hoc tại TP Hồ Chí Minh).
Phát thanh xong, tôi thường về ngay nhà Vĩnh Kha ở đường Lê Lợi, để ăn cơm và bàn nội dung chương trình phát thanh tiếp theo. Có một lần tôi gặp anh Mỹ ở đó, anh bắt tay tôi và khen chương trình phát thanh hay. Tôi thành thật:
-“Oải quá thầy ơi, viết mãi, đọc hoài rồi cũng cạn đề tài. Nếu được thầy giúp có thêm vài tiết mục văn nghệ thì chương trình sẽ hấp dẫn hơn”.
Anh cười và trả lời gọn:
Cách trả lời quá gọn của anh khiến tôi không mấy tin tưởng. Ấy vậy mà chỉ hai hôm sau, khi tôi đang ở Đài phát thanh, thì anh Mỹ đến cùng với hơn mười học sinh mặc đồng phục trường Bồ Đề. Tôi đoán nhanh sự kiện, mừng rỡ đón anh. Anh bắt tay tôi, đưa tôi năm bản nhạc rồi nói trong reo vui:
- “Xong rồi đó Phước ơi, Khi hôm tập cho mấy em, cũng tàm tạm, có thể cho thu băng rồi đó”.
Không rành phần nhạc, tôi đọc nhanh phần lời, không ngờ anh có thể hòa nhập vào khí thế đấu tranh một cách nhanh chóng như vậy. Tôi dẫn anh và các em học sinh vào giới thiệu với nhân viên kỹ thuật bất đắc dĩ, nhưng rất giỏi, là Sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật (không phải Kỹ thuật) Nguyễn Thế Côn để thâu thanh. Dàn nhạc đơn giản, chỉ một ghi-ta và hai măng-đô-lin. Anh Mỹ đánh nhịp, các em học sinh hát nhiệt tình, vừa hát vừa vung tay, như chưa bao giờ các em được hát sướng như vậy… Đến bây giờ tôi không thể nhớ hết năm bài hát đã được thâu băng hôm đó. Nhưng có hai bài mà tôi nhớ mãi. Một là bài “Tranh đấu tới cùng”: Tranh đấu tới cùng, tranh đấu tới cùng, đồng bào ơi dù cho máu xương rơi. Cương quyết diệt loài khát máu độc tài, đồng bào ơi, đồng bào ơi… Bài nầy viết theo nhịp mạnh và hùng tráng, sau đó trở thành nhạc indicatif của chương trình phát thanh. Hai là bài “ Quê hương đau khổ”: Quê hương còn nhiều khổ đau, vì ai gây bao nổi sầu, đạn bom quê hương cày nát, mẹ già gục bên xác con…” Viết theo làn điệu dân ca, nội dung chống chiến tranh. Nhưng tư tưởng phản chiến của anh không chung chung như Trịnh Công Sơn, mà rõ ràng, dứt khoát, có bạn có thù. Tư tưởng nầy được anh thể hiện rõ nét hơn trong các ca khúc mà anh viết sau nầy như: Lời nguyện pháp trường, Thương quá Việt nam, Ngọn lửa Morison (tự thiêu tại Mỹ ), Đâu phải một người, đâu phải một làng (vụ thảm sát làng Mỹ Lai)…
Lực lương tranh đấu chiếm thành phố hơn một tháng rưởi, thì tướng Kỳ, tướng Loan từ Sài Gòn bay ra phi trường Đà Nẵng trực tiếp điều động Thủy quân lục chiến tấn công Thành phố. Lực lượng tranh đấu sau hai ngày đụng trận đã co về cố thủ ở Chùa Tỉnh hội, nhưng cũng chỉ cầm cự được ba ngày thì Thủy quân lục chiến áp sát và bao vây chùa bằng xe thiết giáp. Nhận thấy tình hình đã đến lúc khó khăn, hai thầy Minh Chiếu và Hành Đạo (Chánh, Phó Đại diện Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng) yêu cầu tôi lên loa phóng thanh kêu mời phóng viên ngoại quốc về chùa tham dự họp báo. Hơn một giờ sau cuộc họp báo mới được tổ chức tại hậu liêu. Quý thầy nói ngắn gọn về tình hình và thông báo quyết định giải tán lực lượng tranh đấu Đà Nẵng của Ấn Quang và Từ Đàm. Sau khi làm thông dịch cho quý thầy, tôi lên loa phong thanh kêu gọi những người tham gia tranh đấu rời khỏi chùa Tỉnh hội, lúc đó vào khoảng 11 giờ đêm, trời đổ mưa lớn. Chùa Tỉnh hội thưa dần.
Tôi vào hậu liêu nói chuyện với quý thầy đến 3 giờ sáng với ý định được bị bắt chung với quý thầy. Bỗng đâu anh Mỹ lại xuất hiện. Anh vẫy tay gọi tôi ra ngoài và nói nhỏ vào tai tôi:
- “Phải rút thôi Phước ơi, ở đây nguy hiểm lắm!”
Tôi hỏi anh:
- “Đi đâu bây giờ. Thà bị bắt chung với quý thầy để khỏi bị thủ tiêu”.
Anh gạt ngang:
- “Đừng có ngây thơ, ra bên ngoài rồi hẳn hay, tôi có chỗ bên quận Ba, hãy theo tôi”.
Không đợi tôi trả lời, anh kéo tay tôi về hướng nhà trù (nhà bếp), ở đó ngổn ngang, súng đạn vất bừa bãi. Anh tìm được hai áo mưa pông-sô, đưa tôi một cái bảo tôi khoác vào, rồi kéo tay tôi lách qua cánh cửa nhỏ phia cuối nhà trù, thông ra môt con hẻm nhỏ ngoằng ngoèo. Chúng tôi vào nhà một đạo hữu, thay quần áo. Tôi hóa trang đơn giản bằng cách cạo sạch râu và mang kính trắng. Anh Mỹ nhìn tôi từ đầu đến chân rồi gật đầu. Anh mượn chiếc xe đạp của chủ nhà, chở tôi từ hẻm ra đường lớn, rồi lại chui vào hẻm khác, rồi lại ra đường lớn…. Anh chạy lòng vòng như vậy không biết bao nhiêu lần, làm tôi mất phương hướng. Vừa đạp xe, anh vừa giải thích:
-“Chạy như vậy để cắt đuôi và tránh các chốt chận của Thủy Quân Lục Chiến.”.
Rạng sáng, chúng tôi đến làng Mân Thái, quận Ba, vào nhà một người bạn cùng dạy với anh ở trường Bồ Đề. Chủ nhà như đã được báo trước, kéo nhanh chúng tôi vào trong rồi đóng cửa lại. Căn nhà dài như toa xe lửa. Chúng tôi được đưa vào căn phòng nhỏ phía sau bếp. Căn phòng tối thui, có lẽ là nhà kho, sặc mùi ẩm mốc.
Anh Mỹ không nói lời nào, cúi xuống dọn dẹp một khoảng trống ở dưới sàn, lấy chổi quét sơ qua, trải áo pông-sô, rồi nói với tôi như ra lệnh:
-“Nằm xuống đây, ngủ đi cho lại sức, chuyện tới sẽ tính tiếp”.
Tôi nằm xuống bên anh mà tâm trạng rối bời. Chỉ một lúc sau, anh bắt đầu ngáy đều, tiếng ngáy lớn dần. Tôi không ngủ được, nghiêng người về anh, đây là lần đầu tiên tôi nhìn rõ khuôn mặt của anh. Mặt anh vuông, mũi thẳng, miệng nhỏ như miệng con gái, tóc đen mượt, rẻ thẳng đường ngôi. Có thể nói anh khá đẹp trai, dáng dấp thư sinh con nhà giàu, Tôi không tìm thấy dáng dấp nghệ sĩ, và cũng không kiếm được “hạt bụi phong trần” nào trên khuôn mặt anh. Mà tôi chỉ thấy hao hao dáng phúc hậu của mẹ anh Vĩnh Kha. Tôi không thể hình dung được đây là tác giả của Nắng lên xóm nghèo, của Trăng tàn trên hè phố , của Sắc lụa trữ la , và nhiều bài hát khác mà tôi đã yêu thich. Tôi hát thầm một bài hát của anh, và ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Tôi giật mình thức dậy thì đã quá trưa, không thấy anh Mỹ ở đâu cả, tôi định ra ngoài để tìm anh thì cửa bị khóa. Tôi gọi tên anh một hồi lâu cũng chẳng thấy trả lời. Tôi hoang mang lo sợ. Anh đã bị bắt? hay anh đi trốn chỗ khác, bỏ lại tôi một mình trong nhà kho nầy? Đến khoảng chạng vạng tối, tôi nghe tiếng mở khóa, theo bản năng tự vệ, tôi lùi vào góc phòng, thủ môt khúc gỗ lớn trên tay. Từ bên ngoài, như thấy được hành động của tôi, anh lên tiếng:
-“Đừng sợ, Mỹ đây”. Tôi yên tâm, nhẹ nhàng bỏ khúc gỗ xuống. Anh lách cửa bước vào, hỏi tôi có ngủ được không, anh đưa tôi ổ bánh mì kẹp thịt và một gói xôi, anh giục:
-“Ăn đi, động ổ rồi, tối nay phải chuyển đi nơi khác”.
Tôi ngạc nhiên chưa kịp hỏi thì anh cho biết, từ sáng đến giờ, anh đã ra ngoài để nghe ngóng tình hình. Thủy Quân Lục Chiến đã kiểm soát toàn thành phố, đang lùng bắt những người lãnh đạo lực lượng tranh đấu. Riêng ở quận Ba, những thành phần lâu nay chống đối phong trào tranh đấu đang trổi dậy để trả thù cuộc “đàn áp” trước đây. Tôi giật mình nhớ lại,…
Trước đây khoảng nửa tháng, khi lực lượng tranh đấu đang chiếm toàn thành phố, thì những người chống đối tranh đấu và ủng hộ chính quyền Thiệu Kỳ đã tổ chức biểu tình phản đối. Được tin, sau khi họp tại chùa Phổ Đà, tôi cùng Đại úy Tôn Thất Trực đưa một Trung đội Biệt động quân đi trên ba chiếc xe jeep, súng ống đầy đủ, qua cầu Đờ- lát, hướng về Sơn Trà. Đến cách đoàn biểu tình khoảng một trăm thước, Trực ra lệnh cho ba xe dàn hàng ngang. Đoàn biểu chỉ lèo tèo vào khoảng năm mươi người, nhưng biểu ngữ thì nhiều, nội dung chủ yếu là: Đả đảo Cộng sản, Đả đảo bọn ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản, Đả đảo Lực lượng tranh đấu v.v. Tôi đứng trên trên mui một chiếc xe jeep, cầm loa phóng thanh giải thích lập trường tranh thủ dân chủ của lực lượng tranh đấu và kêu gọi đoàn biểu tình giải tán. Nhưng đoàn biểu tình lại hô to, đả đảo, đả đảo. Sau nhiều lần giải thích và kêu gọi không có kết quả. Tôi nháy mắt với Trực, ba khẩu đại liên 30 trên xe hướng về đoàn biểu tình đồng loạt bắn chỉ thiên. Đoàn biểu tình vứt biểu ngữ chạy tán loạn. Trực định lái xe rượt theo, nhưng tôi ngăn lại. Chúng tôi thu gom các biểu ngữ rồi kéo quân về….
Khoảng mười một giờ khuya hôm đó, lợi dụng trời mưa to, anh Mỹ chở tôi về chùa Diệu pháp trên đường Hoàng Diệu. Một chú điệu đã ngồi đợi trước cổng để đón chúng tôi, tôi thầm phục sự chu đáo của anh Mỹ. Chú điệu dẫn chúng tôi đến môt phòng rộng với với nhiều bàn ghế, thì ra đây là một lớp học của nhà chùa để dạy miễn phí cho trẻ em nghèo thất học. Chú điệu chỉ ô vuông nhỏ trên trần nhà, phía dưới đã có sẳn môt cái thang tre. Anh Mỹ hiểu ý, leo lên thang, chui qua ô vuông, lên trần nhà. Tôi cũng lên theo. Trần nhà bằng giấy các- tông, nhưng có ai đó đã lót sẳn những tấm ván gác ngang trên hai đòn tay, đủ rộng cho hai người nằm. Phía dưới chú điệu vác thang tre đi nơi khác và bảo chúng tôi khi nào cần xuống thi giả tiếng mèo kêu, chú sẽ mang thang lại. Chúng tôi ở trên trần nhà hai ngày, đến giờ cơm, chú điệu mang cà-mèn lại, chúng tôi thòng dây xuống kéo lên. Bữa nào cũng vậy, trong cà-mèn cơm có thêm hai điếu thuốc lá Ruby, có lẽ đây là món quà của chú điệu dành riêng cho tôi vì anh Mỹ không hút thuốc.
Vào buổi tối ngày thứ ba, theo lệnh của thầy trù trì, chú điệu leo lên trần, báo cho chúng tôi biết tình hình bên ngoài. Lệnh giới nghiêm toàn thành phố, một số quý thầy và huynh trưởng gia đình Phật tử đã bị bắt, thầy trù trì khuyên chúng tôi tìm cách thoát khỏi Đà Nẵng. Đêm hôm đó chúng tôi không ngủ, bàn cách đào thoát. Chúng tôi có cùng ý nghĩ là không thể đi chung với nhau được nữa, rất dễ bị lộ, mà phải phân tán, mỗi người một hướng. Đến bốn giờ sáng, chúng tôi leo xuống, chúng tôi ôm nhau từ biệt như hai người bạn thân thiết, (măc dù cho đến lúc đó tôi chưa dám nhận anh là bạn thân của tôi). Anh nói nhỏ vào tai tôi, giọng đứt quảng:
-“Cẩn thận nghe Phước,.. mình thấy kế hoạch của cậu… nguy hiểm quá…”
Mặc dù biết là nguy hiểm nhưng tôi cũng cố trấn an anh:
- “Không sao đâu thầy, em đã tính hết rồi, không táo bạo, bất ngờ thì không thoát được đâu. Thầy cũng nên cẩn trọng với kế hoạch của thầy”.
Anh Mỹ măc áo mưa, đội nón lá, còng lưng đạp xe đi về hướng Đò Xu để vào Hội An. Tôi nhìn theo anh, những giọt mưa từ trên nón rớt xuống vai anh, bỗng tôi thấy mình lạnh buốt…Tôi vào trong chùa đẩy chiếc xe ba bánh ra ngoài, trên xe chú điệu đã chuẩn bị đầy đủ hai giỏ cần xé lớn, mấy cái chổi và đồ hốt rác, đầu xe treo cây đèn bão, càng xe cột một cái chuông nhỏ rung leng keng. Tôi cũng mặc áo mưa, đội nón lá, nhưng khác với anh Mỹ, tôi làm phu quét đường. Tôi quét từ đường Hoàng Diêu, đến Ngã Năm, rẽ qua đường Phan Châu Trinh, hướng về đường Lê Lợi, rẽ qua đường Nguyễn Hoàng, rồi vào trốn ở nhà thầy Tôn Thất Lan, giáo sư Anh văn trường Phan Châu Trinh, cũng là anh em bạn dì ruột của tôi. Từ nhà thầy Tôn Thất Lan, tôi được gia đình thu xếp để trốn được vào Sài Gòn, bằng một kịch bản khá táo bạo và bất ngờ, nếu kể sơ lược thì khó hiểu, mà nếu kể chi tiết thì sợ dài dòng và lạc điệu trong bài viết về nhạc sĩ tài hoa nầy. Thôi đành để dịp khác vậy.
Vừa vào Saigon, tôi vội vàng đến trụ sở Tổng Vụ Thanh niên Phật Tử ở 294 Công Lý để thăm Thượng tọa Thích Thiện Minh. Tôi lên lầu một, dãy nhà bên trái để thăm thầy. Vừa thấy thầy, tôi nhào tới ôm thầy, nước măt tôi trào dâng, tôi khóc tức tưởi, tôi khóc như để trút đi những gian khổ trong cuộc đào tẩu, tôi khóc như đứa con bại trận trở về. Thầy vỗ lưng tôi rồi dìu tôi ngồi xuống ghế. Tôi thấy mắt thầy cũng đỏ hoe. Tôi kể với thầy về tình hình ở Đà Nẵng, nhưng thầy không chú ý, có lẽ thầy đã biết cả rồi. Thầy thở dài, giọng rưng rưng “Bị bắt hết rồi con ơi…” Thầy cho tôi biết, anh Phạm Thế Mỹ và Vĩnh Kha đã bị bắt tại nhà ở Đà Nẵng, bị áp giải vào Sài Gòn, giam ở Nha An Ninh Quân Đội, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, cùng với những người lãnh đạo Chiến đoàn Trần Hưng Đạo như đại tá Yêu, bác sĩ Mẫn, thiếu tá Trai, đại úy Quế vv… Riêng đại úy Tôn thất Trực dù đã xuống tóc, trốn vào chùa Tam Bảo nhưng cũng bị bắt và còn bị dẫn đi bêu rếu khắp đường phố Đà Nẵng. Cùng bị Thiệu Kỳ giam tại Nha An Ninh Quân Đội còn có những anh em tranh đấu khác ở Huế và Sài Gòn như Giáo sư Bùi Tường Huân, Bác sĩ Lê Khắc Quyến, anh Bửu Tôn, anh Trần Anh Tuấn , chị Trần Thị Tuyết Hoa vv.…Khi tôi kể về cuộc đào thoát của anh Mỹ và tôi, thầy nghe chăm chú, thầy thở dài : “Tội nghiệp anh Mỹ, như vậy mà cũng không thoát được, âu cũng là nghiệp.” Rồi thầy nói với tôi: “Con vào được đây cũng tốt rồi, nhưng ở Sài Gòn không yên đâu con. Chúng nó đang lùng sục dữ lắm, con nên lánh xa một thời gian”
Sáng sớm hôm sau, cầm thư giới thiệu của Thượng tọa Thiện Minh, tôi lên xe đò về Cần Thơ. Chùa tỉnh hội Cần Thơ ở trung tâm thành phố, tôi ngại bị phát hiện nên về ở chùa Kiến Quốc trên lộ 20. Tôi ở đây được hơn ba tháng, thì ở Sài Gòn, vụ biến động Miền Trung được đem ra xử trong Tòa án Quân sự Đặc biệt. Tên của tòa án nghe lạnh người, nhưng có lẽ vì ngại Phật giáo, nên các bản án đều nhẹ hều, tất cả đều mang tính chất hành chánh như: cấm giữ chức vụ chỉ huy, triển hạn lên lon, cấm về địa phương…Như vậy là hòa cả làng. Tôi lại được về Sài Gòn.
CƯ XÁ QUẢNG ĐƯC, NHỮNG BƯỚC THĂNG HOA (1966-1968)
Chỉ sau mấy tháng mà Tổng vụ Thanh niên Phât tử có nhiều đổi khác, trở thành Cư xá Quảng Đức, dành cho sinh viên, nhộn nhịp đông vui. Nhưng điều làm tôi bất ngờ và vui nhất là cuộc quần hùng tụ hội ở đây, hầu như tất cả dân “tranh đấu gộc” của Tổng hội Sinh Viên và Đoàn Sinh viên Phật tử Huế đều có mặt, như các anh Hoàng Văn Giàu, Vĩnh Kha, Bửu Tôn, Vĩnh Tùng, Nguyễn Văn Nhiên, Nguyễn Thế Côn, Trần Toàn, Đặng Sĩ Tịnh… thỉnh thoảng lại xuất hiện thêm Tôn Thất Kỳ, Trần Anh Tuấn, Trần Xuân Kiêm, Bửu Hồ,… khiến cho nơi đây trở thành “hang ổ” của dân tranh đấu. Được lọt vào hang ổ nầy, tôi như cá gặp nước, vui sướng vô cùng. Đã vui lại càng vui hơn khi mấy ngày sau, như ở trên trời rơi xuống, anh Phạm Thế Mỹ bất ngờ xuất hiện. Thì ra sau khi rời trại giam của Nha An ninh Quân đội, vì bị cấm về Đà Nẵng, nên anh đã đến tá túc tại nhà một người thân ở đường Cô Bắc, gần chợ Cầu Muối. Khi biết chúng tôi đang tụ hội ở đây, anh vội từ giả người thân để đến nhập bọn. Chúng tôi chiếm ba phòng trên tầng hai thuộc dẫy nhà dành riêng cho Thượng tọa Thiện Minh. Chúng tôi tổ chức cuộc sống tập thể, lấy hai phòng chen chúc nhau làm phòng ngủ, một phòng làm nơi tiếp khách và nhà bếp. Ngoại trừ anh Giàu và anh Mỹ thuộc bậc thầy (anh Giàu dạy tôi ở Đại học Văn khoa – Huế ) được bãi miễn, số còn lại, chúng tôi chia phiên nhau mỗi người một ngày làm “đầy tớ”. Làm đầy tớ có nghĩa là phải làm tất cả, từ đi chợ nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, rửa chén bát, đến cà phê cà pháo, nấu nước pha trà và…sai vặt. Người nào tới phiên coi như là tới số, một ngày te tua, đầu tắt mặt tối, nhưng không có ai than van. Thấy “trò chơi” nầy cũng vui, anh Mỹ xin được miễn bãi miễn và năn nỉ tham gia, chúng tôi dành phải chấp thuận. Đến phiên của anh, mọi chuyện khá êm xuôi, nhà cửa sạch bong, trà nước đầy đủ, sai đâu chạy đó. Nhưng có điều bất tiện là khả năng chợ búa nấu nướng của anh quá tệ, không sống thì khê, không quá mặn thì quá ngọt, báo hại chúng tôi phải lẻn ra ngoài ăn đở ổ mì hay gói xôi, nhưng không dám cho anh biết vì sợ anh buồn. Có một hôm, cũng vào ngày trực của anh Mỹ, thì thầy Thiện Minh từ tầng dưới đi lên, thấy anh Mỹ đang bò dưới sàn lau nhà trong lúc chúng tôi đang co chân lên giường ngồi tán gẩu, thầy la chúng tôi:
- “Các con làm như vậy mà coi được à, anh Mỹ đã lớn tuổi rồi mà các con bắt anh lau nhà để các con ngồi chơi.”
Chúng tôi sợ quá, lúng túng chưa biết trả lời thế nào, thì anh Mỹ đã đứng dậy giải thích:
-“Bạch thầy, hôm nay tới phiên con làm đầy tớ…một ngày làm đầy tớ cũng vui lắm thầy ạ”.
Anh cố kéo dài tiếng “đầy tớ”, khiến thầy bật cười, chúng tôi cũng cười òa theo. Như vậy là thoát nạn.
Cuộc sống của chúng tôi là như vậy đó, ngày nào cũng như ngày hội, nhưng cũng chỉ kéo dài được hơn hai tháng, thì thượng tọa Thiện Minh tập họp chúng tôi để bàn chuyện quản lý Cư xá Quảng Đức. Kết quả là Trần Toàn và Đặng Sĩ Tịnh được điều qua ở bên Cư xá để lo công việc điều hành. Riêng anh Phạm Thế Mỹ, có lẽ thầy muốn giải thoát anh khỏi kiếp nạn làm đầy tớ, nên thầy “đặc ân” cho anh qua ở Cư xá. Được đàng chân, lân đàng đầu, anh Mỹ xin thầy cho tôi qua ở với anh, với lý do bên Cư xá mỗi phòng có hai giường. Thầy cũng đồng ý. Dĩ nhiên là không như các sinh viên khác, cả hai chúng tôi đều được ở miễn phí.
Như vậy là anh Phạm Thế Mỹ và tôi được ở chung một phòng trên lầu hai cư xá Quảng Đức, Phòng mới xây, sạch sẻ, rộng rãi, thoáng mát, lại có cửa sổ lớn, gió vào lồng lồng lộng. Trong phòng chỉ có hai cái giường đơn bằng sắt và một cái bàn gỗ, nên chúng tôi phải mua sắm thêm những vật dụng cần thiết để chuẩn bị cho cuộc “sống chung”. Nhưng cũng chỉ mua nhưng đồ rẻ tiền, tạm bợ, vì cả hai chúng tôi đều cho rằng, nơi đây cũng chỉ là chốn tạm dung, chờ cho trời yên bể lặng, anh sẽ trở về Đà Nẵng với vợ con và với học trò của anh, tôi sẽ trở về Huế để hoàn tất đời sinh viên và nghiệp gia sư. Nhưng trời chẳng thương người, bên ngoài vẫn mưa to gió lớn, cột chân chúng tôi tại Cư xá nầy trong gần hai năm trời. Mặc dù hai người đàn ông sống với nhau trong một phòng thì không “lắm chuyện” như hai người con gái hoặc một gái một trai. Nhưng giữa anh và tôi cũng có nhiều chuyện vui buồn, mà buồn ít hơn vui, kể sao cho hết…
Trước hết là chuyện xưng hô. Anh cương quyết không cho tôi giọi anh bằng thầy với lý do anh chưa dạy tôi chữ nào, tôi đề nghi gọi anh bằng cậu giống như Vĩnh Kha, anh cũng không chịu, bắt tôi gọi bằng anh. Anh thì gọi tôi bằng tên trống không, chẳng cần thêm nhân vật đại danh từ nào ở đằng trước hoặc đằng sau. Mới đầu tôi thấy ngượng miệng, nhưng dần rồi cũng quen. Anh và tôi trở thành ”bạn bè trang lứa” từ đó.
Anh có đề nghị tổ chức nấu ăn, vừa vệ sinh vừa đỡ tốn kém, nhưng tôi thì làm biếng, lại quá sợ tài nấu nướng của anh, nên tôi lắc đầu quầy quậy. Vì vậy, trong gần hai năm trời chúng tôi giải quyết bao tử bằng cơm hàng cháo chợ, gặp đâu ăn đó. Nhưng thường xuyên nhất là quán cơm bình dân của bà Ba Huế, nằm trên kiệt nhỏ phía sau cư xá, nối từ đường Công Lý qua đường Yên Đỗ. Tôi và anh Mỹ là chuyên gia ăn cơm bình dân, nhưng chưa thấy nơi nào “bình dân siêu hạng” như quán nầy. Quán là một mái nhà tôn ọp ẹp, có hai bàn bằng nhựa và bốn, năm cái chỏng tre. Không ai biết chủ quán tên gì, gia đình chồng con thế nào, chỉ nghe nói giọng Huế, rồi đặt luôn tên là bà Ba Huế. Bà Ba Huế tuổi khoảng bốn lăm, năm mươi, tướng người phốp pháp, ăn nói bổ bả, nhưng lại tốt bụng, bán như cho, coi thực khách như con, vì đa số thực khách là sinh viên Cư xá Quảng Đức, thỉnh thoảng có thêm mấy bác xich lô, mấy cô vé số và mấy em đánh giày. Không biết tại sao mà bà Ba Huế lại có cách đối xử khá đặc biệt với anh Mỹ, làm tôi cũng được hưởng lây. Anh Mỹ thì bao giờ cũng vậy, đi ăn cơm ở quán “siêu bình dân” mà quần áo chỉnh tề, mang giày, áo bỏ vào quần như đi dạy hoc. Anh Mỹ và tôi bước vào quán thì bà Ba Huế cười rất tươi, rồi liếc qua hai cái bàn, nạt lớn: “Bọn bây qua giường mà ngồi, để nhường bàn cho thầy Mỹ”. Mấy sinh viên riu ríu vâng lời. Không như các thực khách khác phải tự bưng đồ ăn, anh Mỹ và tôi được phục vụ tại bàn, còn kèm thêm hai ly trà đá miễn phí và một nụ cười bằng mắt. Thấy anh Mỹ được đặc biệt ưu ái, một sinh viên cắc cớ hỏi bà Ba:
-“Má ơi, Răng má “kết mô đen” anh Mỹ dữ rứa, má có biết anh Mỹ là ai không ?”.
Bà Ba trả lời tỉnh queo:
-“Răng tau không biết, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ chớ ai!”
Sinh viên đó tấn công thêm:
- “Rứa má có thuộc bài hát nào của anh Mỹ không, hát cho bọn con nghe đi” .
Sau một chút lúng túng, bà trả lời ngon ơ :
- “Khi nào rảnh tau hát cho bon bây nghe. Tau sẽ hát bài “Uống nước dừa hay nước mắt quê hương’”. Thực khách trong quán cười òa. Anh Mỹ mặt đỏ như gấc, không biết anh đang sung sướng hay anh mắc cở.
Mặc dù ăn cơm quán bà Ba Huế “bèo” như vậy, nhưng những lúc hai gia đình ở Đà Nẵng tiếp tế không kịp thì chúng tôi cũng “eo” lắm. Chúng tôi thường giải quyết tình trạng “eo” bằng phương pháp mà chúng tôi gọi là “bán con”. Chúng tôi chở nhau đi bán con ở nhà ca sĩ Duy Khánh trên đường Trần Hưng Đạo. Lúc đó ca sĩ Duy Khánh có ban nhạc Trường Sơn trên đài truyền hình và Nhà xuất bản “1001 bài ca hay”. Duy Khánh rất thích nhạc của Phạm Thế Mỹ, vì nhạc của anh thể hiện nhiều cảm xúc, trong sáng, nhẹ nhàng, dễ hiểu, lại có hơi hướng dân ca theo nhịp điêu Boléro và Tango hambanera đang rất thịnh hành. Hơn nữa, có tôi là anh em chú bác với ca sĩ Duy Khanh “bơm” vào, nên bao giờ cũng bán được giá cao và quan trọng nhất là lấy tiền ngay. Lần nào cũng vậy, sau khi bán con là chúng tôi đi kéo ghế ở tiệm phở Tương Lai, trên đường Nguyễn Tri Phương, gọi là để tưởng niệm môt đứa con đã ra đi, vì theo thông lệ lúc đó là phải bán luôn bản quyền. Tôi nhớ mấy đứa con “xóa đói giảm nghèo” trong thời gian nầy là: Bóng mát, Người yêu và con chim sâu nhỏ, Bông hồng cài áo…
Tình trạng bán con được chấm dứt khi anh được mời dạy nhạc tại trường trung học Mạc Đỉnh Chi (Phú Lâm) và một trường tư thục tại Bình Dương. Hơn nữa, sau “Bông hồng cài áo”, khuynh hướng sáng tác của anh đã thay đổi, anh không còn viết những bài bolero, tango hambanera trử tình, ăn khách như ngày trước, nhạc của anh bây giờ mang tính thời sự nhiều hơn, nên có mang bán thì cũng chẳng có nhà xuất bản nào dám mua.
Có thể nói môi trường tập thể của cư xá Quảng Đức đã có tác động đến tình cảm và nếp sống của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Đa số sinh viên cư xá Quảng Đức là dân miền Trung, rất thích những bản nhạc trử tình trước đây của anh. Mỗi buổi chiều, khi nắng không còn chiếu trên bải cỏ trong khuôn viên cư xá, anh cùng một số sinh viên ra ngồi quây quần ở đây để tán gẩu. Nhưng nào có tán gẩu gì đâu, mấy anh chàng sinh viên láu cá, thường đưa ra những câu hỏi gợi ý về âm nhạc. Như được gãi đúng chỗ ngứa, anh say sưa nhiệt tình trả lời. Câu hỏi càng chuyên sâu, anh càng vui vẻ trả lời khúc chiết. Kiến thức âm nhạc của anh khá uyên thâm. Dần dần bải cỏ cư xá biến thành lớp nhạc lý. Rất tiếc là tôi không có thì giờ để tham gia “lớp học” của anh, nhưng tôi cũng học lóm được nhiều điều. Tất cả sinh viên trong cư xá đều mến mộ và kính trọng anh, coi anh như thầy, và chính sự sôi nổi, nhiệt tình và hồn nhiên của họ đã khiến anh như trẻ hẳn ra. Những nhận xét về anh trước đây như chủ quan, khó tính, dường như không còn nữa. Anh sống vui vẻ và hòa đồng với mọi người. Nhưng cũng có lẽ vì ham vui mà trong mấy tháng ” làm bạn “ với đám sinh viên, anh không sáng tác được bản nhạc nào, mãi cho đến khi Đoàn Sinh viên Phật tử Sài gòn “cung thỉnh” anh phụ trách ban văn nghệ của đoàn thì mới có sự đổi khác. Để hiểu thêm chuyện, tưởng cũng nên nói đôi điều về tập thể nầy.
Đoàn Sinh viên Phật tử Sai Gòn có văn phòng đặt tại cư xá Quảng Đức với gần sáu bảy chục đoàn viên, đây là một tập thể năng nổ, nhiệt tình, có đạo tâm. Đã hơn bốn mươi năm rồi, tôi không thể nhớ hết, nhưng tôi cũng không thể nào quên những người đã tạo cho tôi nhiều ấn tượng. Đó là đoàn trưởng Phạm Phi Long, sinh viên năm thứ tư y khoa, dân Nam kỳ chính cống nhưng lại mê bún bò Huế và áo dài nữ sinh Đồng Khánh. Đó là hai cựu đoàn trưởng Tôn thất Chiểu, Nguyễn Văn Bửu gốc Huế, đứng đắn, đạo mạo như thầy giáo. Đó là đoàn phó Nguyễn Xuân Lập năng nổ tháo vát. Đó là Tổng thư ký Tôn Thất Liêm (Li-em) chu đáo cần mẫn. Thêm vào đó còn có các đoàn viên có “trọng lượng” trong đoàn như: Mấy chị em gia đình Phạm thị Lệ Hương, Phạm Thị Lệ Thanh...), Nữ vương hòa bình Trần thị Tuyết Hoa, Hai chị em Trần Thi Lan, Trần Thị Huệ, Cao thị Quế Hương… và cả anh chàng vui tính Đỗ Hữu Ưng nữa. Mỗi người một vẽ, nhưng người nào cũng có cá tính mạnh mẽ. Chính những cá tính nầy đã tạo nên những buổi sinh hoạt bùng nổ, nóng bỏng và cuốn hút.
Bị cuốn hút đầu tiên có lẽ là nhóm sinh viên phật tử Huế chúng tôi đang lưu vong và đang tạm dung tại cư xá. Hai đoàn Sài Gòn và Huế sinh hoạt chung trong tình đồng đạo không một chút ngượng ngập e dè. Tuy không phải là sinh viên Phật tử, nhưng anh Mỹ cũng bị cuốn hút theo và tham gia nhiệt tình. Những cuộc hội thảo về cuộc chiến, những con số thương vong của cả hai bên, vụ thảm sát tại Mỹ Lai, phong trào phản chiến tại Hoa kỳ, Luther King bị ám sát, Morison tự thiêu, đã khiến cho anh xúc động thực sự. Những buổi học tập về Thông điệp Hòa bình của ngài Tăng thống Thích Tịnh Khiết xoay quanh tư tưởng “tâm bình thế giới bình” đã khiến anh “ngộ” được lập trường hòa bình của Phật giáo. Anh không còn mơ màng như Phạm Duy: “ Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai ?” (Tâm ca số 7– PD), mà anh đã có nhận thức rõ ràng hơn về cuộc chiến. Con người đã làm ra chiến tranh thì con người phải tự giải quyết bằng hòa bình. Chinh sự xúc động và “ngộ” của anh đã thôi thúc anh trở lại làm kiếp con tằm rút ruột nhả tơ.
Không như các văn nghệ sĩ khác mà tôi từng quen biết, thường mượn những kích thích tố như trà, rượu, cà phê, thuốc lá, thậm chí còn chơi cả thuốc phiện để khơi nguồn sáng tác. Anh Mỹ thì đến với sáng tác với phong cách mà tôi thường nói đùa với anh là “con chiên ngoan đạo đến với giáo đường âm thanh”. Mỗi khi sáng tác, anh thường “dọn mình” sạch sẽ, áo quần chỉnh tề, ngồi thẳng người trên ghế, mắt mở to nhìn thẳnng phía trước, nhưng tôi biết anh chẳng thấy gì, miệng lẩm bẩm như đang cầu kinh, thỉnh thoảng anh cúi xuống, ghi nhanh ký âm lên khuôn nhạc. Mỗi lần như vậy, nếu là ban ngày thì tôi lảng đi nơi khác, nếu là ban đêm thì tôi lên giường nằm ngủ để cho anh được yên tĩnh. Anh sáng tác khá nhanh, chỉ khoảng một giờ sau, anh chạy đi kiếm tôi hoặc đánh thức tôi dậy. Anh hân hoan nói sơ lược về nội dung bài hát, anh cầm chiếc đàn ghi-ta cũ mèm lên so dây, anh bắt đầu hát. Khác với khi sáng tác, bây giờ anh nhắm mắt lại như để hát bản nhạc vừa được ghi trong đầu của anh. Giọng anh khá hay, tuy thỉnh thoáng vẫn bị chen vào âm sắc Bình Định, quê hương của anh. Anh hát say sưa, anh hát bằng cả trái tim của anh. Hát xong, anh thường hỏi ý kiến của tôi về bài hát mới của anh. Thật khó cho tôi, vì theo tôi bài nào của anh cũng hay, nhưng nếu khen hay mãi thì tự cảm thấy mình đĩ miệng và ngượng mồm, nên tôi thường tránh khen bài hát mới của anh trước mặt anh. Nhưng không nghe tôi khen thì anh lại nghĩ hài hát của anh chưa hay, chưa đạt. Anh yêu cầu tôi góp ý để sửa phần lời. Tôi biết anh rất thành thật khi yêu cầu như vậy, vì anh nghĩ rằng tôi đã viết nhiều, nhất là thời gian ở Huế với tờ báo Sinh viên Huế, hơn nữa tôi lại học văn khoa, chắc là văn chương chữ nghĩa đầy bồ. Nhưng anh có biết đâu, từ trước tới giờ, tôi viết toàn những chuyện tào lao, những bài phiếm luận, để cù léc hay chọc giận người ta mà thôi. Tôi cũng chưa làm được một bài thơ hoặc viết được một chuyện ngắn nào cho ra hồn, thì làm sao tôi dám sửa bài hát của một nhạc sĩ nổi tiếng như anh. Nhưng anh cứ nói mãi, tôi đành phải vắt óc sửa một vài từ. Không ngờ anh lại rất thích thú với những từ đó. Anh gật gù khen ngợi, rồi ngạc nhiên nhìn tôi như vừa tìm được người đồng điệu. Có những lúc quá thích thú, anh đề nghị ghi tên tôi vào bản nhạc để trở thành “đồng tác giả” với anh. Tôi vừa ngạc nhiên vừa xấu hổ nên đã phản ứng mạnh, dọa nghĩ chơi với anh, anh mới buông tha cho tôi. Bây giờ nhớ lại chuyện nầy, tôi thấy tiếc hùi hụi. Giá như lúc đó tôi không vì tự ái hay liêm sỉ, mà cứ gật đầu nhận đại, thì bây giờ cũng có một, hai bản nhạc của anh có tên tôi là đồng tác giả, và tôi cũng đã trở thành nhạc sĩ như ai. Tiếc quá, có phúc mà không biết hưởng.
Tháng 5 năm 1967, Hai đoàn SVPT Huế và Sài-Gòn phối hợp tổ chức trinh diễn văn nghệ mừng Phật đản. Anh Mỹ và tôi xăn tay áo nhào vô. Anh phụ trách phần ca nhạc, tôi lo phần kịch. Mới đầu tôi định dựng lại vỡ kịch “Mùa gặt ác” của anh Võ đình Cường, nội dung nói về luật nhân quả của Phật giáo. Nhưng sau đó anh Bửu Hồ (nay là thượng tọa Phụng Sơn, đạo cao đức trọng ở Hoa kỳ) đưa cho tôi vỡ kịch “Tình yêu và Bạo lực” mà anh vừa mới viết xong. Đó là một vỡ kịch có nội dung phản chiến khá rõ nét, với tư tưởng xuyên suốt là chỉ có tình yêu mới thắng được bạo lực. Anh Bửu Hồ đã tái hiện cuộc tranh chấp quyền lực giữa Lưu Bang và Hạng Võ, rồi anh hư cấu thêm nhân vật Mưu sĩ là cha ruột của Mỵ Cơ, cha nuôi của Ngu Cơ. Anh cũng dựng thêm nhân vật Nho sĩ, người yêu của Mỵ Cơ để tạo nên sự mâu thuẩn giữa tinh yêu và bạo lực. Cuối cùng, Cái chết của ba nhân vật Hạng Võ, Ngu Cơ, Mưu sĩ và sư đơm bông kết trái trong tình yêu của Mỵ Cơ và Nho sĩ là luận đề chính của anh. Có lẽ đây là kịch phẩm đầu tay (và cuối cùng?) của anh Bửu Hồ, mà anh lại không rành về kỹ thuât sân khấu, nên diễn biến của kịch bản có nhiều đoạn bị gượng ép, rất khó diễn. Nhưng lời thoại thì rất hay, tôi rất thích, thích đến nỗi cho đến bây giờ, kịch bản đã thất lạc từ lâu, mà tôi vẫn còn nhớ được vài đoạn, thí dụ như đoạn đối thoại giữa Mưu sĩ vã Ngu Cơ:
Mưu sĩ: Con người sinh ra có kẻ hơn, người kém. Giàu sang thì xe ngựa hầu thiếp, Nghèo hèn thì cơm hẩm áo rách cũng qua ngày. Sau lớp áo dát vàng kết ngọc kia cũng là con người, mà dưới lần áo rách vá tả tơi cũng là con người. Nhưng nếu người giàu sang ỷ thế cậy quyền mà áp bức kẻ nghèo hèn, thì rõ ràng giàu sang đã tuyên chiến với nghèo hèn. Kẻ cô thế buộc lòng phải thể hiện giá trị và sức mạnh của mình.
Ngu Cơ: Thưa dưỡng phụ. Phải chăng dưỡng phụ muốn bọn cùng đinh nghèo hèn nổi loạn chống lại triều đình ?
Mưu sĩ: Tâu hoàng hâu, Đó không phải là ước muốn của hạ thần. Hạ thần cũng như Hoàng hậu đều muốn vương triều ta đời đời bền vững. Nhưng thưa Hoàng hậu, Tinh tú trên trời còn phải đổi ngôi, huống hồ dưới trần gian ô trược nầy, làm sao có thể giữ được bền vững đời đời.?
Sau khi chọn vở kịch “Tình yêu và Bạo Lực” của anh Bửu Hồ, chúng tôi họp những “liền anh”, “liền chị” thích đội mão mang râu của hai đoàn sinh viên Phật tử để phân vai dựng vở. Anh Hùng (không nhớ họ, đoàn Saigon) nhận vai Lưu Bang, anh Vĩnh Tùng (Huế) đóng vai Hạng Võ, chị Trần Thị Lan (Saigon) là Ngu Cơ, còn hai vai Mỵ Cơ và Nho sĩ, tôi đã cố gắng moi óc mà vẫn không nhớ tên. Tôi thì nhận vai Mưu sĩ, một nhân vật đắc ý của anh Bửu Hồ, nhân vật đã tạo nguyên nhân và nhận hậu quả của sự mâu thuẩn giữa tình yêu và bạo lực.
Anh Phạm Thế Mỹ thì vất vả hơn. Anh vừa lo ban nhạc, vừa lo hợp xướng, hoạt cảnh, hợp ca, đơn ca. Anh là người cầu toàn, khi chủ đề của đêm văn nghệ là Phật giáo và Tranh thủ Hòa bình, thì anh đã cố gắng xây dựng chương trình ca nhạc xoay quanh chủ đề đó. Ngoài một số bài hát cũ như Bóng mát, Bông hồng cài áo, Em là vì sao sáng, anh đã sáng tác thêm nhiều bài hát mới như Lữa thiêng, Lời nguyện pháp trường…Anh đã làm việc không biết mệt mỏi, ban đêm thì sáng tác, ban ngày thì tập ca. Anh đã tập họp được hơn ba mươi giọng ca hay của đoàn sinh viên Phật tử và cư xá Quảng Đức. Những giọng ca mà sau nầy trở nên nổi tiếng trong làng âm nhạc như Đăng Lan, Mai Hoa, Phi Huệ, Nguyễn Xuân An, Miên đức Thắng, Vũ Đức Sao Biển, Quốc Vọng, Đặng Sĩ Tịnh…
Đêm văn nghệ được tổ chức tại hội trường cư xá Quảng Đức. Mặc dù trời mưa, nhưng khán giả vẫn đến chật kín hội trường, đa số là thanh niên và sinh viên, tạo nên không khí sôi động ngay từ đầu. Đêm văn nghệ đã thành công nhiều hơn mong đợi. Khi chương trinh đã kết thúc, hạ màn, nhưng khán giả còn ngồi nán lại chưa chịu về, như còn tiếc nuối vì ăn chưa no, diễn viên thì cảm thấy như bị hụt hẩng vì diễn chưa đã, nên đã cùng nhau quyết định tổ chức một đêm trình diễn thứ hai tại rạp Quốc Thanh. Rạp Quốc Thanh vào thời đó cũng thuộc loại khá, có hơn năm trăm chỗ ngồi, nhưng đêm đó chật cứng, rất nhiều người phải đứng trong suốt buổi trình diễn. Có lẽ do khán giả quá đông lại ủng hộ và cổ vũ quá nhiệt tình, nên “ca sĩ” nào ca cũng hay, “diễn viên” nào diễn cũng giỏi. Khán giả khi thì nín lặng như để nuốt từng lời, khi thì vỡ òa với những tràng pháo tay không dứt. Lại một thành công nối tiếp thành công.
Sau hai đêm văn nghệ thành công, nhạc sĩ Phạm thế Mỹ quá nổi tiếng, anh được giới thanh niên, sinh viên, học sinh Sài Gòn mến mộ và tin tưởng tài năng. Đầu tháng bảy, 1967, Thượng tọa Minh Châu mời anh làm Trưởng ban văn nghệ trường Đại học Vạn Hạnh. Như cá gặp nước, anh rất thích thú công việc nầy. Tập thể đông vui và tài năng của sinh viên Vạn Hạnh đã chấp cánh cho anh bay cao hơn và xa hơn. Rất tiếc là trong thời gian nầy, tuy vẫn ở chung phòng với anh tại cư xá Quảng Đức, nhưng tôi không có dịp tham gia văn nghệ với anh, vì tôi không phải là sinh viên Vạn Hạnh, hơn nữa tôi lại bận lo một số công việc xã hội của Tổng vụ Thanh niên.
Giữa năm 1968, tôi bị gọi động viên khóa sĩ quan Thủ Đức, Anh chở tôi bằng xe gắn máy đến trình diện tại Quân vụ thị trấn. Trên đường đi anh không nói với tôi lời nào, không khuyến khích tôi nhập ngũ, cũng không khuyên tôi trốn lính. Khi tôi xuống xe, anh nắm chặt tay tôi, anh cũng không nói lời nào, chỉ thấy mắt anh đỏ hoe. Như vậy là chấm dứt thời gian chúng tôi ở chung với nhau tại cư xá Quảng Đức. Sau này chúng tôi có nhiều cơ hội gặp nhau, nhưng cũng chỉ để tay bắt mặt mừng, để hỏi thăm sức khỏe, chứ không tâm sự gì nhiều, vì cả hai đều bị cuốn hút vào công viêc riêng của mình.
Không hiểu tại sao mỗi khi nói hoặc viết về nhạc sĩ tài hoa Phạm Thế Mỹ, tôi thường bị sa đà, kỷ niệm nối tiếp kỷ niệm đến hoài không dứt. Tôi còn định viết về cuộc hội ngộ cuối cùng của anh và tôi tại Trung tâm văn hóa Quận tư vào năm 1986. Số là sau khi phải xa Sai Gòn gần mười một năm, tôi được trở về. Trong cảm giác chênh vênh và tâm trạng cố gắng hòa nhập vào thành phố cũ nhưng đã cách xa quá lâu, tôi nghĩ đến anh Phạm Thế Mỹ và tìm đến nhà anh, tôi đến thăm anh. Tôi muốn viết thật nhiều về cuôc hội ngộ nhiều cảm xúc và ấn tượng ấy. Tôi đã gọi điện thoại vào Sài-Gòn cho chị Diệu Lý, người vợ trẻ, đảm đang, dễ thương và hát rất hay của anh, để hỏi thêm một số chi tiết mà tôi không thể nhớ hết, như về những bài hát mà anh Mỹ đã đánh đàn, chị Diệu Lý đã hát cho tôi nghe đêm đó. Chị có trí nhớ khá tốt, nào là Lê na Bê li cơ va, nào là Em bé Hiroshima… Chị còn nhắc tôi về nồi cháo gà đêm đó và cảnh anh Mỹ và tôi ôm nhau khi chia tay vào sáng hôm sau. Nhờ chị nhắc mà tôi còn nhớ thêm nhiều chi tiết khác. Nhưng khi tôi đang sắp xếp trong đầu để viết cho mạch lạc thì anh Nguyễn Đắc Xuân ở Huế gọi vào bảo tôi viết nhanh, gửi bài ra gấp để con phải xin giấy phép xuất bản. Tôi như bi khựng lại, mất hứng, không muốn viết nữa. Hơn nữa, biết đâu bớt đi một chuyện lại là điều hay.
Tôi chỉ muốn nói thêm một câu, ngắn thôi: Thời gian được làm bạn với nhạc sĩ Phạm thế Mỹ là thời gian hạnh phúc của tôi. Tôi học được ở anh rất nhiều điều, nhưng có một điều mà suốt đời tôi không bao giờ học được, đó là tài hoa của anh.
Đà Nẵng, Ngày 30 tháng 10 năm 2009
Thưa thêm: Tuổi đà bảy mươi, trí nhớ của tôi đôi lúc cũng có vấn đề, nên một số chi tiết của bài nầy đã được bạn tôi, TS Trần anh Tuấn hiệu đính và bổ sung.
