Tết Vườn

 

 

                                 

Vuon cau (Anh tu Internet)

                      

 Sinh quán của tôi là làng Phụng Chánh. Làng tôi tiếp nối với làng quê nội Diêm Trường trên cùng dãi đất cát trắng, nóng bỏng chân vào mùa hè, mưa bạc đất vào mùa đông. Thoai thoải xuống đồng ruộng, gặp con hói hẹp chảy ra đầm phá Cầu Hai, đó là xóm tôi, xóm được bao quanh bỡi những khu vườn trồng cau nên có tên gọi xóm cau.

Vườn cau của mẹ tôi là một trong những vườn nổi tiếng của xóm. Thật ra vườn không phải chỉ trồng cau, nhưng còn trồng chen đủ các loại cây ăn trái, vườn sum xuê rậm rạp đến "con chim sẻ chui cũng không lọt". Thường vườn được chia thành từng vồng (luống). Hai bên vồng trồng cau, ngay hàng thẳng lối, đứng song song, vươn lên giữa trời bao la. Dưới mỗi gốc cau, trồng dây trầu, trầu bám vào thân cau tươi tốt như cái tơi đọt xanh ngắt. Giữa vồng trồng thơm (dứa, khóm), xen kẽ cây mãng cầu, cây vả, cây đu đủ, cây cam, cây quít... Chuối được trồng vào khoảng cách giữa hai cây cau. Cuối mỗi vồng trồng một loại cây lưu niên khác nhau như cây khế ngọt, khế chua, cây ổi, cây mít. Những ngày hè thần tiên của tuổi thơ tôi là được trèo lên trên cây khế, cây ổi, vừa vói tay hái trái vừa đưa vào miệng nhai ngồm ngoàm trái khế vừa chín ngọt lịm, trái ổi thơm lừng... và, oai vệ nhất là  được hò hét ban phát ân huệ cho các chị tôi đang ngửa cổ và khản giọng kêu gào tôi ném trái chín xuống.

Vườn là nguồn lợi tức sinh sống chính của gia đình. Góa chồng, một mình nuôi năm người con, mẹ tôi quanh năm quần quật với vườn cau phía trước và mảnh vườn trồng rau quả phía sau, ngày nắng cũng như ngày mưa, bốn mùa xuân hạ thu đông, năm này qua năm khác, cuộc sống của mẹ tôi xoay vần với mùa cau, đợt hái lá trầu, buồng chuối, rổ đu đủ, thúng mãng cầu...sáng sớm gánh ra chợ Mỹ Lợi bán và mua tôm cá về cho bữa cơm của đàn con. Mùa cau là những ngày rộn rịp vui nhất trong năm.  Cau xóm tôi và cau làng Mỹ Lợi thường được các chủ vựa cau trên Huế ưa chuộng nên đến giữa mùa hè, khi buồng cau vừa tròn trái, đặc ruột, mối lái tìm đến mua tận vườn. Sau khi ngả giá xong xuôi với chủ vườn, con buôn mang theo người trèo cau. Bọn trẻ con trong xóm kéo nhau từ vườn nhà nầy tới vườn nhà khác, ngẩng cổ reo hò xem các thợ trèo cau búng người từ đọt cau nầy để chụp được tàu lá cau của cây kế cận, đu mình từ cây nầy qua cây khác, thoăn thoắt liên tiếp một lần mang ba bốn buồng cau xách vào tay, móc vào vai rồi tuột một mạch từ đọt cây cau cao mấy thước xuống đất trong nháy mắt. Không như cau ở vùng Nam Phổ nổi tiếng  với câu đồng dao "con gái Nam Phổ... trèo cau", cây cau xóm tôi, qua nhiều năm tháng, cao dần, cao dần và chắc đất hết màu mỡ, cây ốm tong, nên bọn trẻ và con gái trong xóm không ai được phép cho trèo hái cau vì sợ nguy hiểm. Nhìn những ổ chim "rột rột" đan bằng lá mạ treo trên ngọn lá cau, đung đưa trong gió, chim mẹ tất tả sà tới sà lui để tha mồi về cho bầy chim con, bọn trẻ thèm thuồng được leo lên để bắt bầy chim con về nuôi. Bọn trẻ không thể làm được. Bọn trẻ chỉ chực chờ cơ hội có mấy thợ leo cau, kèo nài cha mẹ năn nỉ họ thuận tay rựt cho vài ổ chim. Có khi họ đồng ý và có khi họ lắc đầu. Bọn trẻ khi được thì hí hửng, khi không thì tiu nghỉu...Rồi mùa bán và hái cau rộn rã qua mau, vườn chỉ còn lại những thân cau đứng thẳng hàng, song song vươn cao trong trời thu đông, ấp ủ cho những buồng cau khai nở vào mùa xuân năm sau, hương cau thơm tỏa một vùng xa, phấn cau theo mưa xuân rớt vào tóc, vai và áo mẹ lui cui phân bón cho cây vườn...

Mẹ tôi chỉ sống với cau. Xóm cau của tôi có ba người đàn bà góa mang cùng tên Hồng. Mẹ tôi góa chồng vì ba tôi chết trong chiến tranh. Hai người kia có chồng đi tập kết, họ ở nhà chờ chồng, nuôi con dại. Cả ba bà góa nầy, dù mới trên dưới bốn mươi, vẫn được xóm làng nể trọng gọi là "Mụ".  Họ là "Hồng cau", mẹ tôi. "Hồng giá" vì ngoài việc vườn ruộng, thím" Hồng giá" có 3 người con trai, có người cùng tuổi là bạn  học, bạn chơi, bạn trồng hoa của tôi; thím trồng giá sống đem đi bán ở các chợ. Và " Hồng ớt" vì thím Hồng ni, vườn nhỏ nên chuyên trồng ớt và buôn ớt chuyến lên các chợ trên Huế...Mẹ tôi qua đời đã mấy chục năm nay. Hai "Mụ" Hồng còn lại, sau khi thống nhất đất nước, những người chồng tập kết của họ trở về, lòng đợi mong thấm đủ buồn vui như số phận của quê hương...

Mẹ tôi là "Mụ" "Hồng cau" nên mẹ thương cau, quý  vườn, biết ơn hoa trái. Mẹ hiểu từng gốc thơm mới hú trái, từng ngọn trầu héo, từng thân cau bị sâu, còm cõi...Mẹ thường mỗi ngày hốt lá rụng đổ vào chuồng heo để mỗi năm có được lứa phân chuồng tấp vào mỗi gốc cau, cây ăn trái. Mùa hè, mẹ thường sai các chị xuống các thửa ruộng ô vừa ngập nước để nhổ rong. Từng gánh rong tươi đắp thêm vào gốc cây, dằn lên đó một lớp gốc rạ, biến đất cát bạc màu thêm phân hữu cơ nuôi dưỡng cho cây...Mỗi năm một lần, mẹ thường thuê người trong xóm vét đất dưới khe, giữa hai vồng cây, để thêm đất vào cho các gốc cây đã bị mưa xói mòn. Mẹ lui cui việc vườn như không hề biết mệt. Những lần  nghịch ngợm, chạy đuổi bắt nhau, vô tình làm gãy cành cây, ngọn lá, mẹ quệt mồ hôi trán, nghiêm khắc nhắc nhở chị em tôi phải biết thương cây, thương trái vì nhờ cây trái mà cả nhà mới có cơm ăn, áo mặc...

Biết ơn vườn không phải chỉ bằng lời. Lòng biết ơn rõ nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán mỗi năm. Ba ngày Tết, mẹ bận rộn với rất nhiều lễ cúng Tết. Mẹ gọi đó là lễ tạ. Thường vào mồng ba Tết, sau khi cúng đưa Ông Bà Tổ Tiên, mẹ thường bày biện lễ cúng Thổ Thần Đất Đai, cúng Giếng, cúng đống rơm, cúng chuồng heo, những năm còn nuôi trâu thì cúng chuồng trâu. Nhưng đặc biệt nhất là mẹ chuẩn bị chu đáo cho lễ cúng vườn. Trong mấy anh chị em, vì là con út, nên tôi thường quấn quít bên mẹ và lăn xăn được mẹ sai bưng dĩa bánh, chai rượu theo mẹ thiết lập bàn cúng ở vườn. Thường là chiều tối mồng ba hoặc có năm mẹ chọn ngày trong khoảng từ mồng năm đến mồng bảy Tết, mẹ thiết đặt một bàn nhỏ ở vồng cau trung tâm vườn. Mẹ bày lên khay đủ mấy loại mứt tết, bánh in, bánh chưng, bánh tét. Mẹ sắp vàng mã và lên hương đèn. Áo dài nghiêm trang, mẹ lầm thầm khấn vái rất lâu. Tôi nghe mẹ tạ ơn cây cau, cây chuối, cây cam,...Mẹ cầu cây xanh tươi, cho thêm nhiều hoa quả vào năm mới. Mẹ hứa thêm đất, thêm phân cho cây...Tôi đứng vòng tay, mặt mày nghiêm nghị nghe mẹ chuyện trò với cây. Cuối tuần trà, trước khi đốt vàng mã, mẹ sai tôi cùng mẹ nắm một xấp vàng mã màu vàng và bạc, cắt thành hình vuông vừa bằng nửa bàn tay đi dán vào thân các cây cau mỗi vồng. Vì vườn có hơn trăm cây cau, mẹ chỉ chọn những cây cao lâu năm và những cây cau con vừa được trồng để thay thế cho cây cau già, sâu gãy vì đợt gió mưa mùa đông. Mẹ nói mẹ đã xin vái những cây nầy là cây đại diện cho cả vườn cau. Mẹ bưng dĩa hạt ngũ cốc  gồm bắp rang, gạo rang, đậu đen đỏ các loại, nhuộm phẩm xanh đỏ vung vải tứ phương  hô hoán gọi mời chim chóc, sâu bọ, thú hoang  và cả oan hồn ma quỷ về hưởng lộc vườn năm mới và kêu gọi xin đừng phá phách mùa màng hoa quả trong vườn... Cứ đôi ba năm một lần , mẹ kết hợp Tết vườn với tạ Thần vườn. Những năm tạ lớn như thế, mẹ bày cúng mâm cơm nhiều món, thêm xôi chè và đốt vàng mã nhiều hơn lễ Tết vườn. Dĩ nhiên lúc nhỏ, mấy chị em tôi ai cũng nôn nao chờ mong Tết đến vì mẹ cúng tết nhiều nơi, nhiều lần thì chúng tôi có được nhiều mứt bánh hoa quả và những ngày vui Tết cứ kéo dài mãi...Mới vừa hết Tết năm ni lại mong Tết năm tới mau đến!...

Sau 1975, mẹ vẫn còn kéo dài lễ Tết vườn thêm đôi ba năm. Rồi mẹ không cúng nữa vì cả xóm đều phải đưa ruộng đất vào Hợp Tác Xã. Mặc dù vườn cau vẫn còn, nhưng những lề thói cũ bị coi là mê tín, xã viên được học tập để xây dựng nếp sống văn hóa mới. Mẹ không vào Hợp Tác Xã vì nại mình tuổi cao, không đủ sức lao động, nhưng mẹ cũng không còn bỏ công sức để chăm lo vườn tược vì dù cây có cho hoa quả, mẹ cũng không muốn mang ra chợ bán như xưa. Vườn cau từ đó tàn dần. Một trận bão vào năm cuối thế  kỷ hai mươi đã làm gãy gần hết những cây cau trong vườn. Mẹ buồn lắm. Đêm đêm mở cửa vườn để hái vài ngọn lá trầu, trước khi bước vào, như thói quen từ mấy mươi năm qua, mẹ đằng hắng và nói to "Ngừơi nhà vào vườn" để không làm lay động cây lá hoa quả và giữ yên lắng trong đêm cho vườn...

Hai cây cau còn sót lại.(Anh gia dinh)

 

 
Vườn cau của mẹ không còn nữa. Khi mẹ mãn phần, nhà và vườn không còn ai chăm sóc, nên các anh chị tôi phá hết cây cau và cây ăn trái còn sót lại, biến vườn cau thành vườn cây bạch đàn và trồng dây tiêu để bán cho ngành  xuất khẩu như bà con trong xóm làm kinh tế theo chiều gió mới.  Vườn chỉ còn giữ lại một hai cây cau khẳng khiu, tàu lá cau đung đưa trong gió chiều , buồn như hình ảnh mẹ lom khom một đời gắn bó với vườn cau của mẹ. Phần tôi, mỗi lần Tết đến, dù xa xôi muôn trùng, lòng vẫn bồi hồi nhớ về những năm thơ ấu theo mẹ Tết vườn...


 

Trần Đình Sơn Cước

(Chicago tháng 11-2020)


Source: Bai da dang tren tap chi NGON NGU so 11 Xuan Tan Suu 2021