NGUYỄN PHÚ YÊN
CHƯƠNG X
PHẠM DUY: TÂM CA & ĐẠO CA
Năm 1953, sau việc “dinh tê” (về thành), Phạm Duy quyết định di cư vào Nam, chọn cuộc sống tự do để theo đuổi con đường nghệ thuật. Ông lại tiếp tục sáng tác, đã góp phần trong việc làm giàu cho kho tàng tân nhạc trong hoàn cảnh mới sau ngày chia cắt đất nước. Thời gian ở miền Nam đã cho Phạm Duy hoàn thành những công trình về sáng tác và nghiên cứu có giá trị.
Giữa thập niên 1960, Phạm Duy bị cuốn hút vào những sinh hoạt của thanh niên, sinh viên, và bắt đầu có những sáng tác dài hơi, thể loại 10 bài rất mới mẻ và độc sáng của riêng ông. Có lẽ cuộc chiến tranh đến hồi khốc liệt buộc mỗi người dân, mỗi thanh niên và cả người nghệ sĩ tự phản tỉnh và nhìn lại chỗ đứng của mình trong hoàn cảnh lịch sử ấy. Phạm Duy cũng vậy và ông đã có một loạt sáng tác dạng 10 bài như Bé ca, Nữ ca, Bình ca, Tâm phẫn ca, Vỉa hè ca, Tục ca, Tâm ca, Đạo ca. Đây là bước ngoặt của một giai đoạn sáng tác của Phạm Duy với loại sáng tác dài hơi này. Trong số các sáng tác này chỉ có Mười bài tâm ca và Mười bài đạo ca được phổ biến nhiều hơn và để lại dấu ấn sâu sắc hơn trong lòng người nghe, đặc biệt với tầng lớp thanh niên đô thị. Ông thường đi hát cùng các bạn trẻ du ca, đến các giảng đường đại học phổ biến những bài hát của mình, bắt đầu bằng Mười bài Tâm ca.
MƯỜI BÀI TÂM CA
Những bài tâm ca ra đời như là cảm xúc của con người thực sự đối diện với thực tế chiến tranh. Đó là những cảm xúc chân thật của những tâm hồn biết xót xa, biết đau xót cho cuộc sống người dân trong cuộc chiến tranh triền miên trên quê hương. Tâm ca phủ nhận chiến tranh nhưng người hát tâm ca lại không làm gì được để thay đổi thực tế chiến tranh. Nói khác đi, tâm ca cũng thể hiện tình cảm phẫn nộ trong sự bất lực của chính mình không làm gì được trước khói lửa cuộc chiến. Do đó hát tâm ca cũng là một lối giải thoát để ru ngủ mình, ru ngủ người khác. Trong lời giới thiệu tập Mười bài tâm ca của Phạm Duy, Nhà xuất bản Lá Bối có viết: “Những bài tâm ca được trình bày trong đây, tuy cũng phát xuất từ trái tim, tuy cũng là ngôn ngữ khóc cười theo mệnh nước, vẫn còn mang một sắc thái đặc biệt: đó là tính cách tâm linh, nội hướng và ý hướng điều hợp...”. Cái tính cách tâm linh mang triết lý nhà Phật nói đến ở đây phải được hiểu là sự trở về với cái ta, tức là cuộc truy tìm bản ngã, nhưng những bài tâm ca không mang ý nghĩa cao siêu ấy mà chỉ cho ta thấy một cái ta bất lực. Cái “ý hướng điều hợp” ở đây chẳng qua là sự điều chỉnh thái độ, hành động sau những bài hát mang lời lẽ phản chiến. Chúng ta thử tìm hiểu nội dung trong các bài tâm ca của Phạm Duy.
Tuy trở về với chính mình nhưng làm sao tác giả không nhìn thấy cái thực tại chiến tranh? Hằng ngày hiện thực ấy vẫn đập vào mắt ông mà ông không thể lảng tránh:
- Tôi sẽ khóc to hơn đứa nhỏ đang ngồi vỉa hè
Trẻ bơ vơ, trẻ bơ vơ đi giữa vườn hoa
Hỏi thăm em em có mẹ cha
Hỏi thăm em em có ông bà
Hỏi thăm em em có cửa nhà
Một ngày qua em mất cả ba.
- Tôi sẽ khóc to hơn đứa nhỏ đang tìm nụ cười
Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi, xin đến gần tôi
Cùng em côi tôi có bàn tay
Và đôi môi tôi hát ăn mày
Chia hạt cơm rơi hay bát gạo đầy
Cùng ngủ ven sông hay gối bụi cây.
- Tôi sẽ khóc cho em gái nhỏ theo mụ chủ nhà
Một chiều mưa
Một chiều mưa đi trong ngõ bùn nhơ
- Tôi sẽ hát to hơn
Tiếng nhạc mơ hồ phòng trà
Nàng danh ca
Nàng danh ca không có giọng ca
- Tôi muốn hát thay
Cho gánh cải lương gầy một ngày
Về chợ quê về chợ quê rung trống cầu may.
(Tâm ca số 2, Tiếng hát to)
Vâng, đó là cái đời thường trong một xã hội mà chiến tranh đã đẩy nhiều hạng người đến đường cùng: em bé bơ vơ bên vỉa hè, người ăn xin bên gốc cây, em gái bán thân, kẻ mưu sinh bằng giọng hát, gánh hát nghèo miền quê... Song cái bi kịch trầm thống không phải ở cái đời thường đó mà lại ở chính con người nghệ sĩ, dường như muốn ở ngoài cuộc và lãnh đạm:
- Sáng nay vừa thức dậy
Nghe tin em gục ngã nơi chiến trường.
Nhưng trong vườn tôi
Vô tình khóm tường vi
Vẫn nở thêm một đóa.
Tôi vẫn sống, tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở!...
(Tâm ca số 1, Tôi ước mơ, thơ Nhất Hạnh)
Lời hát như một lời tự nhủ mình: cái chết ở bên ngoài tôi, không liên quan đến tôi, tôi không phải chịu trách nhiệm, tôi phải tự lo liệu bản thân tôi và tôi phải sống hằng ngày! Em chết ngoài chiến trường, còn ở đây tôi vẫn sống như không có gì xảy ra với tôi. Rõ ràng người nghệ sĩ ở đây tự chọn cho mình thái độ buông xuôi và bất lực.
Trong số các bài tâm ca, có thể xem Tâm ca số 4 như một tình khúc. Nhưng từ tình yêu đôi lứa, tác giả muốn dẫn dắt người nghe đến những tình cảm lớn lao hơn (bóng dáng Phật về, Chúa vào đời) song vẫn không quên được hiện thực chiến tranh. Nói đúng hơn, hiện thực đó vẫn đeo đẳng tâm linh, dẫu là tâm linh đã hướng nội:
Giọt mưa trên lá nước mắt mẹ già
Lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá…
Giọt mưa trên lá tiếng khóc chơi vơi
Thế giới lạc loài chưa thoát ra phận người
Giọt mưa trên lá cố gắng nguôi ngoai
Nói với loài người: xin cứ nuôi mộng dài…
(Tâm ca số 4, Giọt mưa trên lá)
Không, hướng nội chỉ là một định hướng, một nỗ lực tự thân nhưng hơn ai hết, chính tác giả mới là kẻ nhìn rõ thực tại, nhìn rõ cuộc đời muôn mặt:
- Để lại cho em cuộc sống mệt nhoài
Để lại cho em hồn nước tả tơi
- Để lại cho em một nước phân lìa
Để lại cho em một giống nòi chia
- Để lại cho em giọt máu dân lành
Để lại cho em từng nấm mồ xanh
- Để lại cho em thành phố lên đèn
Bọn người tranh nhau một đám bụi đen
Lệ buồn rơi trong tửu điếm
Gửi người gian nan tiền tuyến
Để lại cho em giả dối đê hèn…
Tác giả nhìn rõ đời nhưng cũng nhìn rõ người: “hèn kém của anh, tội lỗi qua rồi, bạo tàn vênh vang, một tấm lòng tham”... Trong bối cảnh đó, người nghệ sĩ sẽ làm gì?
- Nhưng em thương anh thương anh
Cho súng phải thở dài
Nhưng em thương anh thương anh
Cho tàu bay khóc với
Nhưng em thương anh thương anh
Cho lựu đạn im tiếng...
- Nhưng em thương anh thương anh
Xin nhận lời tranh đấu
Nhưng em thương anh thương anh
Đi tìm lối thoát cho nhau.
(Tâm ca số 5, Để lại cho em, thơ Nguyễn Đắc Xuân)
Như thế đấy, tác giả đã tìm ra được một thứ vũ khí để chống chọi với cuộc đời: tình thương! Trong một đất nước đầy đạn bom, máu dân lành còn đổ, bao nấm mồ xanh, con người tham lam, giả dối..., chỉ có tình thương mới làm cho “súng phải thở dài, lựu đạn im tiếng”, tình thương sẽ hóa giải tất cả, chỉ có tình thương là lối thoát cho mọi người. Đó là lời biện hộ cho một giải pháp thoát ly thực tại.
Tình thương còn là một cách tiếp cận cuộc đời. Với Phạm Duy, chỉ cần tình thương là có thể ở bên mọi người, ai cũng là bạn, không ai là kẻ thù:
- Ngồi vào đời nhỏ nhoi
Trong kiếp sống đầy vơi
Ngồi gần người từ bi
Hay lũ giết người kia
Ngồi gần loài giun dế
Hay ác thú hùm beo
Mình vào ngồi đây với nhau...
Ngồi gần loài ma quái
Nghe tiếng nói lả lơi
Ngồi gần tình thương yêu
Nghe rõ tiếng bụt kêu
Gần người hùng trong trắng
Bên lũ cướp của công
Ngồi thở dài hay ước mong…
Ước mong ở đây chẳng phải là ước mong đại đồng mà chỉ là cách đánh đồng đủ hạng người, lẫn lộn yêu thương-thù ghét, lẫn lộn mới-cũ, xấu-tốt, xưa-sau:
- Ngồi gần ngồi gần nhau
Đây đó chung quanh địa cầu
Ngồi gần ngồi gần nhau
Trong kiếp xưa trong đời sau
Ngồi vào một thế giới
Không xấu tốt buồn vui
Ngồi vào đời không mới
Không rách nát tả tơi...
Sự đánh đồng đó có ý nghĩa như một sự cào bằng nhưng cũng không có ích lợi gì hết thảy, bởi vì sau đó chính tác giả cũng chỉ trở về với cái tháp ngà của mình, quên mọi thế sự:
Một mình ngồi trong cái “ta”
Một mình ngồi trong cái “ta”
(Tâm ca số 3, Ngồi gần nhau)
Phạm Duy đã tự mâu thuẫn với chính mình: ông đã “xin nhận lời tranh đấu”, nhưng đồng thời lại “một mình ngồi trong cái ta”. Ông chấp nhận thực tại nhưng lại chối bỏ thực tại, ông muốn “ngồi gần ngồi gần nhau cho nhiều” nhưng lại bỏ đồng loại để quay về với chính mình.
Chính vì sự đánh đồng trên mà Phạm Duy đã có câu hát tiêu biểu như một tuyên ngôn:
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai.
Đặt câu tuyên ngôn này vào trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ chẳng khác nào kêu gọi mọi người ngưng mọi cuộc chiến đấu chống kẻ thù, dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến. Kẻ thù, dưới mắt Phạm Duy, không phải là con người cụ thể mà chỉ là một danh từ trừu tượng:
- Kẻ thù ta tên nó là gian ác
Kẻ thù ta tên nó là vô lương
Tên nó là hờn căm
Tên nó là hận thù
Tên nó là một lũ ma.
- Kẻ thù ta mang áo màu chủ nghĩa
Kẻ thù ta mang lá bài tự do
Mang cái vỏ thật to
Mang cái rổ danh từ
Mang cái mầm chia rẽ chúng ta.
- Kẻ thù ta tên nó là vu khống
Kẻ thù ta tên nó là vô minh
Tên nó là lòng tham
Tên nó là tị hiềm
Tên nó là sự ghét ghen...
Những gì Phạm Duy định danh như thế thì như ông khẳng định, nó không ở đâu xa mà chính là ở trong mỗi con người chúng ta. Vì vậy ông kết luận:
Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai.
Cứ theo luận cứ ấy thì chẳng có kẻ thù hoặc là kẻ thù ấy chính là bản thân mình. Mà không có kẻ thù thì không có đấu tranh. Vậy thì chỉ trở lại giải pháp mà ông đã nêu trên đây: tình thương.
Người người ơi yêu mến người mãi mãi
Người người ơi yêu mến người không nguôi
Yêu mến người đầy vơi
Yêu mến người đêm ngày
Yêu mến người tay nắm tay.
(Tâm ca số 7, Kẻ thù ta)
Với ông, tình thương dành cho cả mọi người, trong đó có kẻ thù. Ông kêu gọi tình thương, rao giảng tình thương giữa lúc mà đạn bom vẫn gầm réo. Và giữa muôn khổ đau của xã hội miền Nam, ông chỉ còn biết cất lên lời ru như thế này:
Ru người hấp hối
Bằng chiều lam tỏa khói
Ru người phơi phới
Bằng nắng vói lưng đồi...
Ru người thiêm thiếp
Nằm im gương mặt sáng
Ru hồn trong trắng
Như bé lúc sơ sinh
Ru lòng êm ấm
Ru tấm thân yên lành
Ru người đang chết
Trong hòa bình hay chiến tranh.
Ông thở than cho kiếp sống để rồi vinh danh cái chết, dẫu là một cái chết không rõ nguyên do, không rõ mục đích, một cái chết vô nghĩa:
Ôi kiếp sống bộn bề
Kiếp sống tràn trề
Thấm thía hiền hòa
Chất chứa lọc lừa tỉnh và mê.
Ôi kiếp sống bềnh bồng
Ấm áp lạnh lùng
Kiếp sống dài dòng
Mọi sầu thương.
Ôi cái chết tuyệt vời
Đến với đời người
Giữ vững một lời
Cái chết nghìn đời
Chẳng hề phai
Ôi cái chết thật thà
Cái chết mặn mà
Đến đúng ngày giờ
Cái chết hẹn hò tự ngàn xưa.
(Tâm ca số 8, Ru người hấp hối)
Giữa lúc người dân Việt phải bỏ thây trong cuộc chiến khốc liệt thì Phạm Duy lại triết lý một cách siêu hình về cái chết. Thay vì xót thương thì ông ta ngợi ca, thay vì lên án thì ông ta cất lời ru cho siêu thoát. Ông kêu than cho phận người nhưng lại quay lưng với mọi cái chết.
Đó là cách thế biện hộ cho việc thu mình vào cái tôi để che giấu thái độ đào thoát của chính mình. Nếu có ai lên án, ông sẽ tìm mọi cách để biện minh:
Đời sinh tôi ra tôi ra như thế
Đời sinh tôi ra tôi ra như thế
Thương tôi thương tôi cho sống say mê
Không thương không thương xin giết tôi đi.
Ông không ngần ngại vẽ lên diện mạo và nhân cách của chính mình:
Tôi bảo tôi mãi mà
Tôi không nghe không nghe
Nhất quyết yêu người
Cả người thật thà, gian dối
Tôi bảo tôi mãi mà
Tôi không nghe không nghe
Cứ cố yêu người dù rằng
Người đang lừa người.
Tôi bảo tôi mãi mà
Tôi không nghe không nghe
Đứng giữa hận thù
Chỉ ngờ mình là Horace
Tôi bảo tôi mãi mà
Tôi không nghe không nghe
Chiến đấu quân thù
Mà tìm chưa ra thù ghét.
(Tâm ca số 9, Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe)
Đây không phải là khúc tự trào mà chính là bản thân cái tôi của Phạm Duy và của nhiều người quay mặt với thực tại: một con rối bơ vơ trước cuộc đời máu lửa. Ông chỉ còn vin vào tiếng hát của mình để kêu gọi mọi người trên con đường đi tìm sự hóa giải:
Hát với tôi trong nỗi vui hay trong cơn buồn
Hát với tôi qua tiếng reo hay bằng lời than...
Đời còn cần ta hát nhặt khoan
Một nghìn đời sau ta còn hát ầm vang...
Đừng thèm nhờ ai hát hộ ai
Để lòng mình dâng lên miệng hát đầy vơi
Hát với tôi nào, hát với tôi nào
Hát với nhau những lời của người Việt Nam.
(Tâm ca số 10, Hát với tôi)
Và con đường đó chính là lối đi mịt mờ trong khói lửa chiến tranh để rồi mất dấu và chìm khuất trong lòng người. Mười bài tâm ca của Phạm Duy có thể diễn dịch theo một tiến trình sau đây:
Hiện thực chiến tranh à Con người bất lực, buông xuôi à Không có hận thù: thế giới không xấu tốt, kẻ thù ở trong ta à Thở than về kiếp sống: lọc lừa, tỉnh mê, sầu thương à Ca ngợi cái chết: tuyệt vời, không phai, mặn mà à Kêu gọi tình thương: ngồi gần bên nhau, đi tìm lối thoát cho nhau, hát với nhau à Trở về cái tôi: một mình ngồi trong cái ta.
Đó là toàn bộ nội dung tư tưởng, khuynh hướng tâm ca của Phạm Duy. Điều đó cho thấy tác giả qua mười ca khúc chỉ dừng lại ở tư tưởng phản kháng tiêu cực, bởi văn nghệ nói chung theo ông không thể là sức mạnh vật chất để dập tắt chiến tranh. Dù sao trong thời điểm ấy, không thể phủ nhận tâm ca vì tâm ca vẫn là tiếng nói cần thiết của một thế hệ biết thao thức trước vận nước. Tâm ca bày ra một thái độ để những người trách nhiệm về cuộc chiến suy nghĩ hướng đến một tư tưởng và hành động chính trị để thực hiện ước mơ của người dân. Tâm ca vẫn như một khởi điểm cho việc tìm kiếm một lối thoát đích thực cho cuộc chiến tranh trên quê hương.( còn tiếp)