Nhìn lại âm nhạc miền Nam 1954-1975 (kỳ 11) PHẠM DUY: TÂM CA & ĐẠO CA ( phần tiếp theo)

 Nguyễn Phú Yên



MƯỜI BÀI ĐẠO CA 

Tâm ca là cái nhìn về ngoại giới. Đạo ca là cái nhìn về nội tâm, nói cách khác là cái nhìn về thế giới tâm linh, soi xét về bản ngã. Mười bài đạo ca chính là hát về mình để tìm con đường đi về sau. Mười bài đạo ca còn mang tên Tiếng ca giữa thành vách sương mù. Nói về sự hình thành 10 bài ca này, NS Phạm Duy cho biết: “Ðầu thập niên 70, có sự gặp gỡ giữa tôi và nhà thơ Phạm Thiên Thư - tức thiền sư Tuệ Không - khiến cho nhạc của tôi bây giờ thiên hẳn về nhạc tâm linh mà trước đây tôi chỉ đem thoáng vào tâm ca hay vào những đoản khúc như Lữ hành, Xuân hành... Cách đây ít lâu, Phạm Thiên Thư đã cho tôi những lời thơ đẹp để soạn thành những ca khúc thoát tục và bây giờ thì anh cho tôi những lời thơ đạo để tôi soạn thành Mười Bài Ðạo Ca”. (1)


Trong danh từ “đạo ca”, chữ đạo không có nghĩa là tôn giáo mà là con đường. Con đường dẫn người nghe đi tìm sự an lạc của tâm hồn, theo như Phạm Duy nói. Còn nhà thơ Phạm Thiên Thư giải thích thêm: “Như vậy, chỉ có một bài thứ nhất là thơ đã có sẵn, còn tám bài sau tôi rút từ tinh túy những bộ kinh Phật, bộ Đạo Đức Kinh, Thánh kinh Cựu ước, và Nam Hoa kinh, kể cả một số tư tưởng Kinh Thi và Trung Dung của Khổng học, nhưng tư tưởng cốt tủy trong mười bài vẫn là Thiền Đạo và con đường Bát Thức của Pháp Tướng Tông Phật giáo, dù vậy tất cả nội dung trên đều được nhìn bằng chiều kích riêng biệt của người Việt Nam khiến trở thành những ý nghĩa và biểu tượng thiết yếu cho đời sống cá nhân...”. (2)

Trước 10 bài ca này, hai tác giả Phạm Thiên Thư và Phạm Duy đều có viết đề dẫn cho mỗi bài để người nghe hiểu qua nội dung hàm chứa trong mỗi ca khúc. Với Đạo ca 1 hai tác giả viết: “Đạo ca 1 Pháp Thân khởi đầu cuộc đi tìm chân lý. Vũ trụ được hiện bày như một toàn thể sinh hóa, một tương duyên mật thiết không còn bờ vực hữu hạn, xóa bỏ tất cả ý thức về ngã và phi ngã, xóa bỏ mọi dấu chân đi tìm ngoại vật. Một là tất cả. Tất cả là một. Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai (Tản Đà)”. Vạn pháp nhất thể thì gọi là Pháp thân. Pháp thân là tánh không, nó trùm khắp, nó bao hàm như không gian để cho vạn vật sinh sôi. Với lời thơ đầy hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ, dòng nhạc của Phạm Duy như đươc biến hóa sâu hơn trong kỹ thuật tựa như bàn tay của một phù thủy: từ một môtip chạy trên cung Sol trưởng và tạm nghỉ ở cung Mi giáng trưởng. Giữa hai phiên khúc và kết thúc bài hát, tác giả dùng hai câu thơ của Tản Đà để làm rõ ý nghĩa vũ trụ chỉ là một của Đạo ca 1:

Xưa em là kiếp chim, 

Chết mục trên đường nhỏ  
Anh làm cội băng mai, 

Để tang em, chờ mấy thuở.  
Xưa em làm kiếp lá, 

Rụng xuống lòng suối thu  
Anh làm mưa tháng bẩy, 

Dôi hàng lệ ướt tương tư.  
Xưa em làm kiếp hoa, 

Chết rũ trong nội cỏ  
Anh làm giọt sương sa, 

Sầu thương em, lệ anh nhỏ.  
Xưa em làm kiếp gió 

Hay có làm kiếp mây  
Anh làm chim chích chòe, 

Trên đầu gậy, anh hát ca  
A ha, ta tuy hai mà một! 

A ha, ta tuy một mà hai!  
A ha, ta tuy hai mà một! 

A ha, ta tuy một mà hai!...  
(Pháp thân) 

“Đạo ca 2 Đại nguyện đi từ quan điểm toàn thể đã phát biểu qua Đạo ca 1, dẫn đến một tâm linh bao la, diệu vợi. Đó là lòng từ bi, là ý lực cứu độ muôn loài như cứu chính mình. Thương người như thể thương thân (Gia huấn ca)” (PD, PTT). Chủ đề chính của Đạo ca 2 chính là muốn nói đến lòng thương người, mà thương người cũng chính là thương mình. Tác giả rời bỏ giai điệu rộn ràng của Đạo ca 1 để chuyển sang giai điệu nhẹ nhàng, trong sáng dịu vợi của điệu luân vũ ở cung Do trưởng, nhịp vừa phải và ít chuyển cung: 

Muôn loài như sương rơi, 

Xin làm hoa trắng đỡ  
Hoa yêu sương chẳng rời, 

Hoa yêu sương tuyệt vời  
Muôn loài như cát trắng, 

Xin làm dòng nước trong  
Ra trùng dương tím mát, 

Cát sông vẫn nguyện lòng.  
Muôn loài như mây lam, 

Xin làm trời bát ngát  
Cho mây trôi bạt ngàn, 

Như sương trong rừng trầm  
Muôn loài như hoa thắm, 

Xin làm một ánh dương  
Cây cỏ mừng ánh nắng, 

Tiếng chim hót dị thường.  
Thương người như thương thân! 

Thương người như thương mình!  
Thương người như thương thân! 

Thương người như thương mình!  
Thương người như thương thân!...  
(Đại nguyện)

“Đạo ca 3 Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng hay là Ảo hóa đưa ra hình ảnh một dũng sĩ cưỡi ngựa vàng đi tìm người yêu muôn thuở. Đi hết năm tháng, đi khắp mọi nơi, đi cho tới khi áo bào đã sờn rách, ngựa vàng đã đổi lông mà vẫn không tìm ra người yêu lý tưởng! Thế rồi một ngày kia dũng sĩ dừng chân, xuống ngựa trên cái cầu bắc qua con sông đang gầm sóng, ngựa vàng bỗng hóa thành người đẹp mà dũng sĩ ra công đi tìm. Thì ra đã từ lâu, dũng sĩ ngồi lên sự thật mà không biết” (PD, PTT). Đao ca 3 dài hơi hơn, tựa như một truyện ca với âm nhạc thật phong phú. Mở đầu là dòng nhạc trôi miên man tưởng như là nhịp vó câu đều đặn đưa chàng dũng sĩ đi tìm người yêu. Giai điệu dịu dàng nhưng dồn dập ở cung re thứ, sau đó chuyển cung nhiều hơn, sang fa trưởng, si giáng trưởng rồi về lại re thứ, chấm dứt phần đầu câu chuyện. Khi bước ngoặt câu chuyện bắt đầu bằng ca từ Rồi một hôm chàng trở lại thì giai điệu sáng lên, tác giả chuyển sang re trưởng, si thứ rồi về lại re thứ với môtip ban đầu. Kết thúc câu chuyện có hậu tức là đã “viên thành đạo ca”, giai điệu câu cuối là ánh sáng tươi đẹp nên tác giả kết thúc bằng cung re trưởng. 

Một chàng dũng sĩ trên thớt ngựa vàng 

Rong ruổi sa trường  
Một chàng dũng sĩ trên thớt ngựa vàng 

Rong suốt thời gian  
Một chàng dũng sĩ đôi mắt u buồn 

Như ánh trăng vàng  
Lòng chàng nung nấu một mối u sầu 

Tìm dấu người yêu.  
Một sớm mai chàng dừng nơi đỉnh núi  
Mai trắng đôi hàng... 

Mai trắng đôi hàng rơi rơi  
Như mường tượng áo tơ người  
Một chiều dừng cương nơi bờ sông vắng  
Lớp lớp xuôi dòng, sóng biếc mơ mòng  
Như những nỗi buồn mênh mông!  
Rồi một đêm chàng ngừng nơi bãi núi  
Chiến trường thoảng tiếng mưa rơi  
Như vẳng gót hài xa xôi.  
Rồi một ngày nao dừng ngay bờ suối  
Ngỡ tóc người xưa, 

Mái tóc cài hoa, những làn tơ.  
Chàng tìm khắp cõi không thấy bóng người  
Không thấy bóng người  
Ðường dài soãi bóng, trong gió ngựa vàng 

Thay sắc đổi lông  
Chàng còn đi mãi, đi mãi, 

Đi hoài, đi mãi, đi hoài  
Vào làn sương khói, chiếc áo tươi mầu 

Nay đã nhạt phai…  
(Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng 
hay là Ảo hóa)

“Đạo ca 4 Quán Thế Âm hay là Hóa thân biểu tượng cá nhân bước vào đại thể. Người mẹ đi tìm con với niềm đau khổ riêng của mình đã nghe thấy tiếng khổ chung của nhân loại” (PD, PTT). Khúc ca này đem đến cho chúng ta hình ảnh một bà mẹ mòn mỏi đi tìm con trong nỗi buồn thấm đẫm. Mẹ tìm con trên đỉnh đồi, trong hang sâu, bên bờ sông, trong thung lũng… Nghĩa là một mình mẹ lang thang khắp mọi nơi vì tình thương vô bờ của mẹ, đi cho đến lúc mắt đã lòa, lệ đã cạn, lời đã khan, tóc đã bạc và hồn đã tan. Thương con, nhớ con, đợi con, tìm con suốt một đời, một kiếp đến một lúc mẹ lặng lẽ qua đời. Giờ mẹ đã ở trong trời đất, mẹ đã là trùng dương, mẹ ôm cả trần gian trong lòng, mẹ là hiện thân là mẹ chúng sinh mất rồi! Giai điệu của Phạm Duy trong bài này là một khúc ca buồn nặng nề và sầu thảm, chỉ có một lúc le lói mấy nốt nhạc như ánh từ quang. Cả bài hát chỉ một cung mi thứ buồn bã tựa như giọng ru muôn đời của mẹ: 
Có bà mẹ đi tìm con 

Trên đỉnh đồi lan trắng  
Có bà mẹ đi tìm con 

Trong động hang lan vàng  
Có bà mẹ đi tìm con 

Bên bờ sông lam tím  
Có bà mẹ đi tìm con 

Trong thung lũng cỏ hoang.  
Trên đỉnh mùa Xuân, 

Mẹ ta thương cả rừng hoa lá  
Trong mùa hạ, bên bờ lau, 

Mẹ yêu tiếng ve rầu rầu.  
Thu về nằm trong bụi cây, 

Nhớ mây trời xanh ngát  
Nuôi một đàn chim mồ côi, 

Khi Ðông tuyết lạnh rơi.  
Bốn mùa hoa đua nở, 

Bốn mùa Mẹ lang thang  
Tìm con, lòa đôi mắt, 

Gọi con, lời đã khan  
Khóc con, lệ đã cạn, 

Thương con, lòng vắng hoang  
Nhớ con, sầu đã ngất, 

Đợi con, hồn đã tan.  
Tay Mẹ đang quờ quạng, 

Như một cành khô khan  
Nhớ con tìm khắp chốn, 

Rời rã cả thời gian  
Khi còn là thiếu phụ, 

Thơm như nhành ngọc lan  
Ðến nay, già tóc trắng, 

Tìm con đà mấy trăng…  
(Quán Thế Âm 
hay Hóa thân)  
“Đạo ca 5 Một cành mai nói về sự vượt thắng mối lo sợ về cái chết. Vì sinh tử chỉ là sự đắp đổi, thăng hoa trong một miên viễn là cuộc đời. Bài này còn muốn tưởng niệm nữ sinh viên Nhất Chi Mai đã tự thiêu để cầu nguyện cho hòa bình” (PD, PTT). Bài hát này là suy nghĩ về cái chết có thật của cô sinh viên đã hy sinh thân mình để cầu nguyện cho hòa bình vì cô nhìn thấy hiện thực chiến tranh chỉ toàn là máu sông xương núi. Cô chọn cái chết để mọi người được sống. Một cành mai rụng xuống để cho mùa xuân hòa bình đến với quê hương và đến với cả nhân loại. Giai điệu chạy trên cung fa trưởng rồi chuyển sang la trưởng, cuối cùng lại trở về fa trưởng. Để xưng tụng một cành mai tươi đẹp, tác giả kết thúc bằng những hợp âm cuối cùng rất 

sáng láng của cung la trưởng:  
Em bé khóc đòi cha, như mẹ khóc đòi con  
Người chồng khóc người vợ, 

Người yêu khóc người yêu  
Nước mắt vẫn đầy vơi, 

Sinh tử vẫn còn đây  
Ðời này qua đời nọ, 

Tử sinh vẫn còn kia.  
U ù u U u u u U u u U u.  
Ôi máu đã thành sông, 

Xương người đã thành non  
Hận thù như trời bể, 

Hờn căm vẫn còn nghe  
Cái chết vẫn còn kia, 

Sao cuộc sống còn mê  
Ðòi thù, thì oán đời đời  
Ðền nhau chỉ có chút lệ thôi  
U ù u U u u u U u u U u.  
Nước mắt bỗng ngừng trôi, 

Khi người đã nguyện dâng  
Thân mình làm đuốc hồng, 

Cho đòng lúa trổ bông  
Cuộc sống chết nào đây? 

Ðau buồn sẽ đổi thay  
Ðem mình vào kiếp người, 

Thoát khỏi nỗi tử sinh.  
Cành mai đã rụng rơi, 

Rơi rụng xuống cuộc đời  
Một cành mai rụng rời, 

Làn hương vẫn chẳng phai  
Người không riêng của ai, 

Nhân loại vẫn của người  
Ðặt mình trong dòng đời, 

Tử sinh cũng là vui  
Một cành mai, mai mãi, mãi mãi  
Một cành mai, mai mãi, mãi mãi  
Mãi mãi...  
(Một cành mai) 

“Đạo ca 6 Lời ru bú mớm nâng niu nói vể hiện thể tạo hóa của người mẹ đã khiến cho đứa con có một nền tảng tâm linh, hiền hòa giữa tạo vật, nhân sinh không còn là tù ngục giữa con người” (PD, PTT). Con người chào đời và lớn lên bằng lời ru của mẹ, bằng thực phẩm trần gian được mẹ bú mớm cho trong tình thương bao la của mẹ - những yếu tố cơ bản để nuôi dưỡng tâm hồn đứa con. Bài hát cho ta nghĩ đến và yêu thương người mẹ Việt Nam có dòng máu Đông phương chảy dài trong huyết quản, từ đời này sang đời nọ trên quê hương đất nước đẹp như một bức tranh thủy mặc. Bài hát ngắn với giai điệu êm ái vì chỉ chạy trên một cung la giáng trưởng 

thuần nhất từ đầu đến cuối:  
Ru con bằng vòng tay ấm, 

Cho con yêu tiếng dịu dàng  
Ru con bằng bầu sữa nóng, 

Cho con ơn mãi tình nồng  
Ru con bằng bài ca ngắn,

Cho con mến Nhạc và Thơ  
Ru con còn nhờ mây gió, 

Tim con chẳng có vực bờ  
Ru con bằng rừng trên núi, 

Con ơi, mưa nắng còn dài  
Ru con bằng đồi ven suối, 

Cho con không oán thù người  
Ru con bằng cỏ hoa mới, 

Trăng sao kết lại thành đôi  
Yêu muôn loại và muôn tánh, 

Mai sau chẳng sống một mình.  
Ù ơ Mẹ ru con biết:  
Yêu thương như câu đầu lòng  
Nghìn năm còn đây thắm thiết  
Câu ru mạch máu Ðông phương…  
(Lời ru, Bú mớm, Nâng niu)

“Đạo ca 7 Qua suối mây hồng hay Vô ngôn diễn tả cuộc chiến tranh thầm lặng giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, tranh nhau trái tim Mỵ Nương tượng trưng cho ý thức sáng tạo. Sơn Tinh là sự vắng lặng của ý niệm ngôn ngữ, cùng người đẹp biến vào Đại thể, còn lưu lại trên đỉnh núi cuốn thiên thư không chữ và cây sáo thần không lỗ, thúc giục loài người vượt thoát ý niệm ngôn ngữ để thể nhập vào cõi yên” (PD, PTT). Đây cũng là một truyện ca khác kể về cuộc chiến đấu từ trong truyền thuyết. Chính trong truyện ca bằng âm nhạc này, Phạm Duy đã bày tỏ sức sáng tạo kỳ diệu của một tài năng với việc xây dựng nhạc đề và nghệ thuật chuyển cung cho từng đoạn nhạc được kết hợp nhuần nhuyễn để thể hiện từng trạng thái tình cảm của từng nhân vật trong câu chuyện. 

Mở đầu là một khúc luân vũ nhẹ nhàng tựa lối hát bel canto dẫn đưa người nghe vào một huyền thoại thể hiện rõ sức tưởng tượng của người Việt. Mỵ Nương đã về trên đỉnh núi trong cảnh thần tiên với hạc vàng múa lượn, trời xanh quấn lụa trên núi cao cùng với hương hoa thơm lừng khắp chốn. Cuộc chiến của Sơn Vương như thế tưởng đã hoàn thành. 

Một sớm mai tuyệt vời  
Mỵ Nương về đỉnh núi  
Làn suối mây lưng trời  
Ðưa Nàng lên chơi vơi  
Bầy hạc vàng lượn múa  
Hòa sáo trúc vô thanh  
Núi quấn lụa trời xanh  
Hoa dâng hương trên cành…

Nhưng cuộc sống thần tiên của Mỵ Nương không được yên bình. Một ngày mưa Thủy Vương giật mình vì người yêu đã đi mất. Trong cơn tức giận Thủy Vương thét vang gọi quan quân lên đường chinh chiến, quyết chiếm lại Mỵ Nương. Giai điệu đang trầm buồn bỗng sáng lên bởi một nốt nhạc si bécarre đột ngột, diễn tả sự tức giận, nhưng rồi tiếp đó là lại giọng kể lể:

Sáo tơ làm mưa nhẹ  
Nghiêng lầu các Thủy Vương  
Giật mình trên nệm ngọc  
Thét quan quân lên đường.  
Người yêu đà mất rồi!  
Suối mây hồng phơi phới  
Ðem Nàng lên đỉnh núi  
Thành cũ hoa còn rơi.  
Này hồng ngọc lưu ly  
Không được gì đôi mắt  
Này bốn bể quyền uy  
Không nghiêng được lòng người…

Đến đây là một nhạc đề mới, âm nhạc chuyển qua tiết tấu mạnh mẽ, hùng tráng đầy thôi thúc của trận chiến quyết liệt giữa hai vị thần núi và biển:  
Thề quyết không một trời

Thủy Vương vung kiếm thét…  
Sóng ầm ầm, sóng ầm ầm nổi dậy  
Gió ào, gió ào ào nghiêng trời  
Mây ùn ùn, mây ùn ùn kéo tới  
Sét ầm ỳ, sét ầm ỳ ra oai.  
Nước bừng bừng, 

Nước bừng bừng tràn ngập  
Ðất dồn dập, đất dồn dập lên trời  
Mây dần dà, mây dần dà ra nước  
Núi vùn vụt, núi vùn vụt lên cao!  
Tiếp đó tiết tấu chậm rãi, kết thúc một nhạc đề:

Cuộc chiến tranh thầm lặng, 

Cuộc chiến tranh thầm lặng  
Cuộc chiến tranh thầm lặng, 

Cuộc chiến tranh thầm lặng...  
Tác giả lại chuyển cung để giới thiệu một nhạc đề mới, giai điệu lại khoan thai và đài các hơn:

Thủy Vương vung kiếm hét  
Núi tịch liêu không lời  
Thủy Vương xua sóng tới  
Sóng tan nhành hoa xuôi  
Thủy Vương kêu thét mãi  
Núi mù khơi thêm mù  
Thủy Vương hộc thêm máu  
Lui quân về biển khơi.  
Kết thúc bài hát, tác giả trở về môtip chính, giai điệu lập lại như lúc khởi đầu nhưng nốt nhạc cuối cùng dừng lại ở bậc 5 tạo cảm giác chơi vơi không muốn dứt, một vẻ đẹp hoàn hảo của một ca khúc đầy chất tâm linh:

Một sớm, hoa rụng nhài  
Mỵ Nương và Thần Núi  
Làn suối mây lưng trời  
Ðưa về nơi mãi mãi  
Còn lại siêu hùng ca  
Thiên Thư không cần chữ  
Sáo Thần không cần lỗ  
Vi vu trong lòng người  
Một khúc ca giục người  
Vượt muôn trùng ảo huyễn  
Về chốn không lụy phiền  
Suối mây này dẫn đến...  
(Qua suối mây hồng 
hay Vô ngôn)

“Đạo ca 8 Giọt chuông Cam Lộ là bình minh của tâm thức trong ba động của tiếng chuông chùa. Tiếng đại hồng như giọt nước làm tràn mạch suối tâm linh, với hình ảnh Thiền sư Vạn Hạnh chống gậy trúc xuống núi, cưu mang cả mùa đông trong lòng tay ngọc” (PD, PTT). Bài hát là một khúc luân vũ nhẹ nhàng, êm đềm tựa như tiếng gậy trúc gõ xuống con đường nhỏ xuống núi của thiền sư Vạn Hạnh. Mở đầu là tiếng chuông chùa âm vang từng giọt ngọt lành cho không gian tươi mát cùng ánh bình minh, ở đó có cỏ nội hoa ngàn, có tiếng suối róc rách cùng lời kinh ngân nga trong tĩnh lặng của tâm linh. Rồi từ ngôi chùa rêu phong lưng chừng núi, tiếng đại hồng chung lan ra không gian, lay từng giấc ngủ cho con người tỉnh thức để trầm tư về cuộc đời, biết nhận ra cần xóa hết mọi ưu tư vì thiền sư đã xuống núi cứu nguy cho đời. Giai điệu theo lối mô phỏng đều đặn, thuần nhất từ đầu đến cuối bài, dường như tác giả không muốn lay động cả thời gian và không gian trong cái nhất thể giữa con người và vũ trụ. Bài hát vẫn là 

cái kết thúc chơi vơi không trọn:  
Bóng đêm qua rồi, 

Bóng đêm qua rồi  
Tiếng chuông vang hồi, 

Tiếng chuông vang hồi  
Thấy trong nhân loại 

Tiếng chuông vang hồi  
Ngọt lành thơm mát, 

Từng giọt chuông rơi.  
Nụ hoa đang ngủ, giấc êm giữa nội  
Giọt sương trên lá đón đưa ánh trời  
Ðể cho con suối vươn vai trở mình  
Chùa rêu lơ lửng giữa lưng núi mờ  
Ðại hồng chuông lớn đã khua tiếng ròn  
Nụ cười yên tĩnh ngát hương khói trầm  
Lời kinh cao ngất A Di Ðà Phật  
Ngọt lành thơm mát, 

Từng giọt chuông vang...  
Tiếng chuông đầu ngày 

Cho bừng giấc ngủ  
Tiếng chuông mơ hồ 

Cho Thái Dương hồng  
Tiếng chuông lẫy lừng 

Cho cội đá mừng  
Xóm thôn tưng bừng, chim chóc xôn xao  
Tiếng chuông lên núi, làm trái mật say  
Xuống trên luống cầy, cho đòng lúa trổ  
Tiếng chuông Cam Lộ cho biển trầm tư  
Cho đời người hết ưu tư...  
Một nụ mai nở giữa cơn gió rừng  
Thiền Sư lững thững xuống non, chống gậy  
Lòng tay nắm lấy tiết Ðông giá lạnh  
Giọt mưa lóng lánh, lắng trên gậy vàng  
Gậy Thiền đưa xuống không gian vô tận  
Gậy Thiền đưa xuống thế gian cõi thường  
Thời gian mãi mãi, tiếng chuông sáng ngời  
Thiền Sư xuống núi, cứu nguy cho đời  
Ngọt lành thơm mát, từng giọt chuông vang...  
(Giọt chuông Cam Lộ)

“Đạo ca 9 Chắp tay hoa hay Quy y diễn tả thái độ cung kính yêu thương vạn vật quanh ta vì tất cả đều hiện bày một bản thể mầu nhiệm như nhau. Bài này xô đẩy mọi nấc thang giá trị” (PD, PTT). Bài hát là một lời yêu thương và hàm ơn trước đất trời, con người, trước vạn vật, thiên nhiên bởi dưới mắt con người tất cả đều thiêng liêng, mầu nhiệm. Mọi giá trị chỉ có tính chất giả tạo, phù phiếm vì do con người tạo ra. Hãy trở về với bản ngã chân như thì tất cả có thể tan hòa vào nhau trước cái đại thể vô lượng. Mỗi cái lạy đều đẹp như một nụ hoa, do đó tác giả thể hiện cái chắp tay cung kính bằng những giai điệu nhẹ nhàng với cung do thứ đều đặn, không 

có nhiều dấu hóa, nhiều chuyển cung dữ dội như trong bài hát kiểu truyện ca:  
Chắp tay lạy Người, cho xin nụ cười  
Chắp tay lạy Trời, cho đám mưa rơi  
Chắp tay lạy Ðất, cho mầm cây tươi  
Chắp tay lạy Nước, cho mát cõi đời  
Chắp tay lạy rồi, lạy mãi không thôi  
Chắp tay lạy nữa...  
Chắp tay lạy Người, xin cho nụ cười  
Chắp tay lạy Trời, cho đám mưa rơi  
Chắp tay lạy Ðất, cho mầm cây tươi  
Chắp tay lạy Nước, cho mát cõi đời  
Chắp tay lạy Người, chắp tay lạy Trời  
Chắp tay lạy rồi, lạy mãi không thôi  
Lạy mãi không thôi!  
Lạy mãi không thôi!  
(Chắp tay hoa 
hay Quy y)

“Đạo ca 10 Tâm xuân hay Tam giáo đồng nguyên là con đường trở về thiên nhiên, gia đình, xã hội và siêu nhiên, khiến cho cá nhân được quân bình giữa cảm xúc, trí thức và hành động. Đó là nền đạo lý tổng hợp tối diệu ba nguồn tư tưởng Phật-Lão-Khổng của Việt tộc. Mùa hồi sinh của tạo vật cũng là sự bừng sống mãnh liệt của tâm tư” (PD, PTT). Tựa như Beethoven kết thúc 9 bản giao hưởng của mình bằng một khúc hoan ca, Phạm Duy cũng kết thúc hành trình đi tìm đạo sống bằng một ca khúc vui tươi viên mãn vì tâm hồn đã tìm ra chân lý cuộc sống. Con người an vui trong triết lý ‘thiên nhân tương dữ’ cùng quan niệm ‘tu là cõi phúc’ của người Việt, đó là ánh sáng mà bài đạo ca cuối cùng muốn gửi đến người nghe. Chính vì sự viên mãn đó khiến Phạm Duy đã chọn một tiết tấu nhẹ nhàng, giai điệu có vài chuyển cung gần để rồi kết thúc với chủ âm trọn vẹn của cung sol trưởng, cũng là kết thúc Mười bài Đạo ca trong ánh sáng 

mầu nhiệm của tâm linh:

Xuân về trong gió, hoa lay lững lờ  
Xuân về đám mây, bướm vàng nhụy bay  
Xuân về lòng đất, mầm tươi nhựa trào  
Xuân về non cao, chim mừng suối reo...  
Xuân về biển mát, xuôi nhanh cánh buồm  
Xuân về suối xanh, cá hồng lượn quanh  
Xuân về trầm ngát, Di Lạc hiền lành  
Em về thiên nhiên, ngâm mình suối tiên.

Mùa Xuân có không? Hay là cõi Tâm?  
Mùa Xuân có không? Hay là cõi không?  
Về nguồn về cội! Về nguồn về cội!  
Ðể rồi vươn tới, với lòng mênh mông...  
(Tâm xuân 
hay Tam giáo đồng nguyên)

Như vậy mỗi bài đạo ca đều là một vì sao đánh dấu trên chặng đường dẫn dắt con người ra đi từ nhất thể để trở về đại thể. Có thể khái quát tư tưởng của Đạo ca trong một tiến trình gọn nhẹ tóm tắt những điều chính yếu mà tác giả muốn giãi bày:

Pháp thân –> Đại nguyện –> Ảo hóa –> Hóa thân –> Vạn pháp nhất thể –> Từ bi, cứu độ –> Tiếp cận sự thật –> Mẹ của chúng sinh –> Nhất chi mai –> Lời ru –> Vô ngôn  –> Cam lộ –> Nguyện cầu hòa bình –> Lòng mẹ Việt  –> Thể nhập cõi yên –> Cứu rỗi cuộc đời –> Chắp tay hoa –> Tâm xuân –> Hàm ơn đất trời –> Trở về đại thể.

oOo

Tâm ca là khúc ca dấn thân, hướng ra cuộc đời, bày tỏ tâm thế của người nghệ sĩ trong hoàn cảnh chiến tranh. Đạo ca là khúc ca trở về tâm linh, thoát ly bản ngã để tìm chân trời giải thoát tan hòa vào đại ngã. Chính ở những loạt mười bài ca, nhất là Mười bài Tâm ca và Mười bài Đạo ca, tư tưởng nghệ thuật của Phạm Duy mới sáng rõ hơn, bên cạnh nghệ thuật âm nhạc của ông phong phú và đa dạng hơn. 

________

CHÚ THÍCH:

(1) Phạm Duy, Ðạo Ca Giữa Thành Vách Sương Mù, phamduy.com.

(2) Phạm Thiên Thư, Đạo ca và Kinh Ngọc, trả lời phỏng vấn của Bách Khoa, số 349, ngày 15-5-1971.