Nguyễn
Quang Dy
Người ta hay nói dân trí là
yếu tố sống còn đối với vận mệnh của một quốc gia. Nhưng hiểu về dân
trí như thế nào thì chắc vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng dân
trí ở Viêt Nam cao, trong khi “quan trí” lại thấp, cần phải nâng
cao. Nhưng từ xưa đến nay (từ thời cụ Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh), tại sao người ta thường kêu gọi “nâng cao dân trí”? Có lẽ
người ta muốn đề cập đến cùng một vấn đề. Hay nói cách khác, “dân
nào thì quan nấy”.
Sau 40 năm, hãy điểm lại 10
hình ảnh hài hước và độc đáo “chỉ có tại Việt Nam” để xem dân trí
đang ở đâu, và vì sao có thể (hay không thể) thay đổi được. (Tất
nhiên các bạn có thể bổ sung thêm). Tuy hình ảnh chỉ là bề nổi của
tảng băng chìm, nhưng nó là một tiêu chí quan trọng. Những người cầm
quyền hay nói “lấy dân làm gốc”, vậy làm thế nào thay đổi được cái
ngọn bị sâu bệnh, nếu cái gốc cũng yếu kém và khó thay đổi?
1. Cái cột điện
Bill Gates hay khách quốc
tế nào đến Việt Nan đều ấn tượng bởi “cái cột điện” như một hình ảnh
độc đáo khó quên. Đó là một đống dây điện lằng nhằng cuộn vào nhau
như cái mạng nhện khổng lồ, tạo thành một tác phẩm nghệ thuật đường
phố mà không một nghệ sĩ sắp đặt nào có thể làm nổi. Tác phẩm này có
mặt khắp nơi, từ các đường phố lớn sang trọng đến các ngõ hẻm tồi
tàn. Không biết nó xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã tồn tại qua thời
gian như một phần của nền văn minh đô thị (theo “định hướng XHCN”).
Chắc không thể cải tạo được nó, mà chỉ có thể bỏ đi và thay bằng một
hệ thống khác. Có người nói đó là hình ảnh của Hà Nội, những người
khác thì cho rằng đó là hình ảnh của EVN (tập đoàn điện lực VN). EVN
vừa được hưởng ngân sách, vừa có quyền tăng giá điện tùy ý, mà chẳng
cần phải đầu tư đổi mới hạ tầng (như một nhóm lợi ích). Vậy tiền
chạy đi đâu? Dù sao, cái tác phẩm nghệ thuật này (biểu tượng cho dân
trí VN) đáng được đưa vào “Guinness Book” về những kỷ lục tồi tệ
nhất.
2. Cái loa phường
Có lẽ Bill Gates chưa có
dịp thưởng thức cái loa phường để đánh giá. Nó dễ dàng đánh bại cái
cột điện để chiếm vị trí số một nếu xếp hạng. Nó cũng hiện diện khắp
nơi, nhưng không câm lặng như cái cột điện. Từ sáng sớm đến tối, nó
oang oang lặp đi lặp lại mấy nội dung nhàm chán. Ngay cả khi ta ngủ,
hay sang tận Paris hoặc London, trong tai vẫn văng vẳng tiếng loa
phường. Thật khó lòng thoát khỏi nó, ngay cả trong tâm thức. Tại sao
người ta bỏ được sổ gạo và tem phiếu, mà lại không bỏ được cái loa
phường điên khùng này? Có lẽ vì nó là công cụ kiểm soát văn hóa tư
tưởng, nên tồn tại cùng với chế độ. Chúng ta lớn lên với nó, quen
thuộc và chấp nhận nó, nên nó đã đi vào tiềm thức và dân trí, ngay
cả khi ta sống cũng như chết. Có lẽ nhạc sỹ Văn Cao, dù đã ở thế
giới bên kia, cũng không thể quên được cái thứ “khủng bố mềm bằng âm
thanh” này (như có người đặt tên). Tác giả của bài Quốc Ca đã phải
chịu đựng cái loa phường chõ vào căn phòng mình như để tra tấn trong
suốt cuộc đời còn lại, cho đến khi nhắm mắt.
3. Giao thông nguy hiểm
Đối với những người nước
ngoài nào mới đến Việt Nam lần đầu thì có lẽ điều đáng sợ nhất trong
đời là phải vượt qua đường phố, nơi xe cộ đi lại hỗn loạn, không ai
tránh ai. Nó còn nguy hiểm hơn cả cái cột điện và cái loa phường. Nó
giống như cảnh tượng bạo lực chỉ thấy trong phim hành động. Nó phản
ánh một não trạng bất an và ám ảnh bạo lực của nhiều người Việt, như
một di chứng của chiến tranh, làm cho con người dễ vô cảm. Nó lý
giải tại sao Việt Nam lại được xếp thứ 13 (gồm những nước vô cảm
nhất) trong 150 quốc gia được viện Gallup khảo sát năm 2012.
Huffington Post coi giao thông ở Việt Nam là “nơi nguy hiểm nhất”,
còn CBS News thì ví giao thông ở đây như “địa ngục”, và BBC cho rằng
nó còn nguy hiểm hơn cả đại dịch AIDS. Bộ Y tế VN thông báo trong 7
ngày nghỉ Tết năm 2015 có 246 người chết do tai nạn giao thông. Còn
bộ trưởng Giao thông VN gọi đó là “quốc nạn” vì mỗi năm có gần
12.000 người chết và 9.300 người bị thương, có thể so sánh với con
số thương vong do thảm họa sóng thần ở Nhật Bản. Nhưng đối với những
người Việt đã quen với chiến tranh và bạo lực thì giao thông hỗn
loạn và tắc đường là một phần của đời thường và dân trí. Người ta
hay đùa “Hà Nội không vội được đâu!” Hình như người Việt có khiếu
hài hước đặc biệt, thích đùa ngay cả với tính mạng của mình. Có
người còn lập luận là tại sao lại sợ chết khi hàng ngày vẫn “sống
trong sợ hãi” như trong phim “thập diện mai phục”.
4. Đường phố ngập lụt
Khi mùa mưa đến, những
đường phố lớn ở Hà Nội có thể biến thành những dòng sông nhỏ. Bạn
không cần mất công đến tận Venice để thưởng ngoạn cảnh này. Chỉ cần
sắm cho mình một cái thuyền nhỏ, thay vì cái xe máy vô tích sự trong
nước lụt. Năm này qua năm khác, người Hà Nội nơm nớp vừa lo “mất
nước” vừa lo “ngập lụt’, mà cả hai đều cùng một nguyên nhân. Nghe
nói đã có những khoản kinh phí lớn của các nhà tài trợ quốc tế và
ngân sách quốc gia đầu tư để cải tạo hệ thống cấp thoát nước Hà Nội.
Nhưng các khoản tiền này đã trôi theo dòng nước cống ra sông ra biển
(hoặc chui vào túi ai đó). Ách tắc không phải chỉ có giao thông, cấp
thoát nước, hay hệ thống hành hành chính công, mà trước hết là ý
thức hệ và dân trí. Vì vậy, muốn tháo gỡ ách tắc ngoài đường, phải
tháo gỡ ách tắc trong đầu con người trước.
5. Đái đường và vứt rác
Tuy nhiên, chúng ta có một
thói quen rất thông thoáng, đó là đái đường và vứt rác. Bạn có thể
thấy cái biển “cấm đái bậy” khắp mọi nơi, nhưng nó không ngăn được
người dân đái bậy. Người ta đái bậy và vứt rác khắp nơi, từ những
góc phố cổ quanh Hồ Hoàn Kiếm, đến con đường đê dọc sông Hồng nơi có
những bức tranh gốm hiện đại. Phải chăng dân ta uống nhiều bia hơi,
nên đái nhiều hơn người khác? Phải chăng họ lâu nay “sống trong sợ
hãi” nên hay vãi đái? Phải chăng đái bậy đã trở thành một phong cách
sống? Hay chỉ vì họ không có đủ toilet? Dù đây có phải là một vấn đề
quan trọng cần “tái cấu trúc” hay không, dù các “sở ban ngành” (như
giao thông công chính hay văn hóa tư tưởng) đã làm được những gì,
thì đái bậy và vứt rác vẫn đang hiện hữu như một hình ảnh “đặc thù”
của văn hóa và dân trí VN.
6. Ném đá và chửi đổng
Không phải chỉ có đái bậy,
mà hình như người Việt còn thích văn hóa ném đá và chửi đổng, đặc
biệt là gần đây trên internet và thế giới mạng. Nhiều người cũng rất
mê internet và truyền thông kỹ thuật số nhưng rất ngại tham gia thế
giới mạng, chỉ vì vấn đề này. Trên đó hoàn toàn tự do, kể cả ném đá
vô tội vạ. Không có luật lệ nào cả, giống như vô chính phủ, chỉ có
dân trí điều tiết. Đó là bản chất của thế giới mạng, nơi cả hai mặt
tích cực và tiêu cực cùng tồn tại. Có lẽ vì vậy mà tốc độ phát triển
internet và Facebook ở Viet Nam vào loại nhanh nhất thế giới, dù
không tỉ lệ thuận với dân trí. Có mấy nguyên nhân. Người Việt vốn có
truyền thống hay chửi nhau và cãi nhau (chẳng cần lý do cụ thể). Do
bị kiểm duyệt quá nhiều và quá lâu nên họ không có thói quen tranh
luận một cách có văn hóa. Nay internet và truyền thông kỹ thuật số
đã mở ra một xa lộ thông tin mới cho tự do ngôn luận (mà không bị
kiểm duyệt). Nó giống như “tháo cống” cho mọi thứ, kể cả gia bảo và
rác rưởi trong nhà đều được phơi bày.
7. Học vẹt
Không có vấn đề nào bị công
chúng phê phán nhiều như giáo dục. Và lúc này không có vấn đề nào
quan trọng hơn giáo dục, để nâng cao dân trí và chấn hưng đất nước.
Nhưng tại sao càng cải cách, chất lượng giáo dục càng tụt hậu? Các
chuyên gia giáo dục cho rằng học vẹt và chế độ thi cử chạy theo
thành tích và bằng cấp làm triệt tiêu năng lực sáng tạo và tư duy
độc lập của học sinh. Human Development Indicators xếp Việt Nam đứng
thứ 121/187 (dưới trung bình). Không có một trường đại học nào của
VN lọt được vào danh sách các trường đại học có danh tiếng và chất
lượng (trong khu vực). International Property Rights Index xếp Việt
Nam thứ 108/130 (gần đội sổ), tính theo giá trị trí tuệ. Giáo dục bị
tụt hậu thê thảm như vậy mà vẫn có nhân tài xuất hiện (như Ngô Bảo
Châu). Đất nước bị tàn phá kinh người như vậy, mà vẫn còn cảnh đẹp
(như hang Sơn Đòng). Nhưng Ngô Bảo Châu không phải là sản phẩm của
giáo dục VN, cũng như Sơn Đòng không phải là sản phẩm của du lịch
VN. Nếu không thay đổi cơ bản về hệ thống giáo dục và đào tạo, Việt
Nam sẽ chảy hết chất xám vì hầu hết nhân tài rời bỏ đất nước
8. Lễ hội quá nhiều
Gần đây có quá nhiều lễ hội
ở Việt Nam (nghe nói 9000 mỗi năm), nhưng cũng có nhiều hình ảnh
phản cảm thiếu văn hóa và thậm chí đầy bạo lực trong các hoạt động
này. Đây là hệ quả của căn bệnh “cờ đèn kèn trống”, phản ánh tâm
thức bất an của những người bị cuồng tín và quá khích, cố giành bằng
được vài biểu tượng văn hóa nào đó để trang trí, mà không hiểu đó là
dân trí thấp. Điều này có thể bị những kẻ bất lương và tham nhũng
trong chính quyền lợi dụng để “đục nươc béo cò”. Trong khi kinh tế
đang khó khăn, thì rất nhiều kinh phí nhà nước đã được chi cho những
lễ hội tốn kém như vậy. Nhiều đền chùa cổ kính vô giá đã bị phá bỏ
để biến thành những “công trình văn hóa” mới toanh rất tốn kém nhưng
chẳng có giá trị gì về lịch sử. Trong khi khu chùa Bái Đính hoành
tráng (ở Ninh Bình) góp phần thương mại hóa Phật Giáo, thì tỉnh Vĩnh
Phúc đã “mạnh dạn” đầu tư 271 tỷ VNĐ xây lại Văn Miếu của tỉnh (để
thờ Khổng Tử!). Lạm phát lễ hội là một biểu hiện của tham nhũng về
văn hóa và dân trí thấp. Tổng cục Du lịch cho biết 85% khách du lịch
quốc tế không muốn quay trở lại Việt Nam, và ngày càng nhiều người
Việt đi du lịch nước ngoài. Đó là cách họ “bỏ phiếu bằng chân”.
9. Xây để phá
Gần đây, ai đi qua đường
Bưởi ở Hà Nội đều nhìn thấy một quang cảnh như thời chiến (sau một
trận ném bom), nhà cửa dọc phố đang bị phá hủy để làm đường. Nó lặp
lại hình ảnh nhiều năm về trước khi nhà cửa dọc đường đê Yên Phụ
(phía đông bắc Hà Nội) cũng bị phá hủy như vậy để “bảo vệ đê” (thật
vậy sao?). Nghe nói bài học này đã gây tổn thất trên 10 triệu USD,
và làm cuộc sống nhiều gia đình điêu đứng. Trong thời chiến thì
những việc này có thể hiểu được, nhưng thật khó hiểu là tại sao 40
năm rồi mà tư duy thời chiến vẫn không hề thay đổi. Quy hoạch đô thị
kiểu gì mà cứ cho xây rồi lại phá? Hàng năm, Hà Nội vẫn đào vỉa hè
và đường phố lên để lát lại và sửa đường ống, chẳng ai phối hợp với
ai, vừa tốn kém và lãng phí, bất ổn cho giao thông và cuộc sống con
người. Gần đây căn bệnh này đã lây lan tới thành phố Hồ Chí Minh,
với những “lô cốt” (bịt đường để thi công) mọc lên ngày càng nhiều
trên đường phố. Hình như người Việt thích xây để phá (chứ không phải
để tồn tại). Kiểu dân trí lạ lùng này (theo “định hướng XHCN?”) có
thể biến “nền văn minh Sông Hồng” thành “nền văn minh Sông Tô Lịch”
(một con sông nhỏ tại Hà Nội đã bị chết vì ô nhiễm nặng nề).
Như để minh họa, trong
khi đang viết bài này thì một tổ công nhân (xí nghiệp “nước sạch”)
lại đến đào đường ống nước trước cửa nhà (để thay cái đồng hồ cũ).
Trước đó chỉ khoảng mấy tuần một tổ khác (cùng xí nghiệp này) đã đến
đào đường để thay ống nước mới (nhưng không chịu thay cái đồng hồ
cũ). Có trời mới biết tại sao họ không phối hợp với nhau? Tất nhiên
vấn đề không phải do họ, mà do một hệ thống bị phân liệt và dân trí
thấp.
10. Đốn hạ cây xanh
Trong khi các vấn đề nan
giải trên đây vẫn còn nguyên, thì gần đây Hà Nội đã có một quyết
định “sáng tạo” là chặt bỏ 6700 cây xanh đã tồn tại hàng thế kỷ nay
như “lá phổi” của thành phố và là hình ảnh hấp dẫn của Hà Nội. Cũng
may, cái quyết định ngu xuẩn và quái gở này đã vấp phải một làn sóng
phản kháng của dư luận, buộc lãnh đạo thành phố phải nghĩ lại và
nhân nhượng (sau khi vài trăm cây xanh đã bị giết oan). Cực đoan và
bạo lực không chỉ đe dọa con người, mà còn đe dọa thiên nhiên và môi
trường sống. Hình ảnh phản cảm về Hà Nội chặt hạ cây xanh vô tội đã
lan truyền khắp thế giới mạng, trong khi bảo vệ môi trường để đối
phó với thay đổi khí hậu đang trở thành vấn đề sống còn của loài
người. Chẳng lẽ Hà Nội muốn quay về thời kỳ đồ đá, bằng cách phá hủy
nốt những gì chiến tranh chưa kịp phá hủy?
Thay cho lời kết
Không biết sau khi Hà Nội quyết định chặt 6700 cây xanh sẽ là sự kiện gì khác tiếp theo, nhưng vụ bê bối này đã đem lại một số bài học hữu ích. Một là, khi nào báo chí mạng “lề trái” và báo chí “lề phải” cùng vào cuộc, phản ánh đồng thuận xã hội cao hơn, thì tiếng nói sẽ mạnh hơn. Hai là, khi nào dư luận trong nước và quốc tế cùng lên tiếng, thì sức ép sẽ hiệu quả hơn. Ba là, khi nào chính quyền bị động, lúng túng đối phó với dân trí cao hơn, thì họ buộc phải lắng nghe và nhân nhượng, dù chỉ để gỡ thể diện. Tuy nhiên, chừng nào hệ thống độc quyền và thân hữu (theo “định hướng XHCN”), được gia cố bằng não trạng cực đoan và bạo lực, còn ngự trị xã hội, thì mọi thứ đều có thể xảy ra. Nếu người dân không thoát khỏi nỗi sợ hãi, không nâng cao dân trí và năng lực, để buộc chính quyền phải lắng nghe, thì sẽ không có gì thay đổi. Xét cho cùng, dân trí là nền tảng của xã hội công dân và sự chấn hưng của một quốc gia.
N.Q.D.
Ngày cuối tháng 5/2015
Nguồn: Viet-studies