Bill
Hayton
Conflicting claims
A definitive look at China’s claim to the sea by a noted author and expert
Bản dịch của Phan
Văn Song
(Các chú thích
do chính tác giả gửi riêng cho người dịch)
Cái
nhìn rạch ròi của một chuyên gia và tác giả nổi tiếng về yêu sách
biển của Trung Quốc
Chỉ
trong vài tuần nữa, các thẩm phán quốc tế sẽ bắt đầu xem xét tính
hợp pháp của yêu sách ‘đường chữ U’ của Trung Quốc (Trung Quốc) ở
Biển Đông. Nơi diễn ra sẽ là Toà Trọng Tài Thường Trực tại The Hague
và bước đầu tiên của tòa - trong thời gian nghị án vào tháng 7 - sẽ
là xét xem liệu ngay cả toà [có quyền] xem xét vụ kiện này hay
không.
Điều
Trung Quốc hi vọng lớn nhất là các thẩm phán sẽ phán quyết chính họ
không có thẩm quyền bởi vì nếu không, và vụ kiện của Philippines
tiến tới, rất có khả năng Trung Quốc sẽ bị bẽ mặt rất lớn.
Philippines muốn Tòa phán quyết rằng, theo Công ước
Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Trung Quốc chỉ có thể yêu sách
chủ quyền và quyền đối với tài nguyên cách lãnh thổ đất liền một
khoảng cách nhất định trong biển này. Nếu tòa đồng ý thì điều đó
sẽ có tác dụng thu hẹp ‘đường chữ U’ to rộng đó thành một vài vòng
tròn có đường kính không quá 24 hải lý (khoảng 50km).
Trung Quốc không chính thức tham gia vào vụ kiện, nhưng họ đã đưa
ra các tranh luận gián tiếp, đặc biệt là qua ‘văn bản về lập
trường’ mà họ công bố cuối tháng 12. Văn bản này lập luận rằng
khi chưa có phán quyết của một tòa án khác cho tất cả các yêu sách
lãnh thổ cạnh tranh đối với các đảo, đá và rạn san hô khác nhau
thì tòa này không nên xét xử vụ kiện của Philippines. Đây là
vấn đề mà các thẩm phán sẽ phải xem xét trước tiên.
Chiến lược của Trung Quốc trong ‘cuộc chiến pháp
lý’ trên Biển Đông là tung ra các lập luận lịch sử để đánh tạt
đi các lập luận dựa trên UNCLOS. Trung Quốc ngày càng có vẻ coi
UNCLOS không phải là một phương tiện trung tính trong việc giải
quyết các tranh chấp mà là một vũ khí phe phái do các nuớc khác
nắm lấy để từ chối các quyền tự nhiên của Trung Quốc.
Nhưng có một vấn đề lớn đối với Trung Quốc trong việc
sử dụng lập luận lịch sử. Hầu như họ không có bất kỳ bằng chứng
nào.
Đây
không phải là ấn tượng mà người đọc bình thường thu được khi đọc
hầu hết các bài báo hoặc các báo cáo của các nhóm chuyên gia
(think-tank) viết về tranh chấp Biển Đông trong những năm gần đây.
Đó là vì hầu như tất cả các bài báo và báo cáo này đều có căn cứ
lịch sử dưa trên một số lượng rất nhỏ các bài viết và sách.
Đáng lo ngại là việc kiểm tra chi tiết những công trình này gợi
ra rằng họ sử dụng các căn cứ không đáng tin cậy để từ đó viết ra
những chuyện lịch sử [đuợc cho là] đáng tin cậy.
Đây
là một trở ngại đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp vì việc
Trung Quốc đọc nhầm các bằng chứng lịch sử là yếu tố gây bất ổn
lớn nhất trong đợt căng thẳng hiện nay. Sau nhiều thập niên giáo
dục sai, người dân và lãnh đạo Trung Quốc dường như tin rằng Trung
Quốc là chủ sở hữu hợp lẽ tất cả các thể địa lý trong biển này-
và có thể tất cả các vùng biển ở giữa. Quan điểm này đơn giản là
không được các bằng chứng từ thế kỷ 20 hậu thuẫn.
Ai kiểm soát quá khứ sẽ kiểm soát tương lai
Vấn đề đối với khu vực này là việc giáo dục sai
không chỉ giới hạn ở Trung Quốc. Bằng chứng không đáng tin cậy che
phủ diễn ngôn quốc tế
về tranh chấp Biển Đông. Nó đang bẽ lệch các đánh giá về tranh chấp
này ở cấp cao trong chính phủ - cả ở Đông Nam Á lẫn ở Hoa Kỳ. Tôi
sẽ sử dụng ba tài liệu công bố gần đây để minh họa cho quan điểm
của mình: hai bài ‘Bình Luận’ năm 2014 của Trường Nghiên Cứu
Quốc Tế Rajaratnam ở Singapore do học giả Trung Quốc Li Dexia (Lý
Đức Hà) và một người Singapore tên Tan Keng Ta viết[1],
một bài thuyết trình năm 2015 của cựu Phó Đại sứ Mỹ tạiTrung Quốc
Charles Freeman tại Đại học Brown[2]
và một bài báo năm 2014 của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân có trụ sở
tại Hoa Kỳ.[3]
Điểm nổi bật về những công trình gần đây này - và
chúng chỉ là một các mẫu của một luồng văn bản rộng lớn hơn nhiều
- là chúng tin vào các tài liệu lịch sử công bố nhiều năm trước
đây: một số lượng nhỏ các bài viết được công bố trong thập niên
1970, đáng chú ý là tài liệu của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park;[4]
cuốn sách Contest for the South China Sea của Marwyn Samuels
năm 1982;[5]
cuốn sách China’s Ocean Frontier[6]
của Greg Austin năm 1998 và hai bài báo của Jianmeng Shen [申建明
(Thân Kiến Minh)] công bố năm 1997[7]
và 2002.[8]
Các tài liệu này đã tới chỗ thành ‘kiến thức
phổ thông’ (conventional wisdom) về các tranh chấp [ở Biển Đông].
Google Scholar tính ra rằng tài liệu của Chiu và Park được 73 công
trình khác trích dẫn, và sách của Samuels đuợc 143. Những công
trình có trích dẫn các tác giả này gồm một của Brian Murphy năm
1994[9]
và những công trình của Jianming Shen năm 1997 và 2002 - rồi tới
phiên chúng lại được trích dẫn tương ứng bởi 34 và 35 công trình
khác và bởi Chi-kin Lo mà cuốn sách của ông lại được 111 công trình
khác nữa trích dẫn.[10]
Đối với hầu hết các diễn giải lịch sử, Lo dựa vào Samuels một cách
rõ rệt, thực sự ca ngợi ông vì “xử lý tỉ mỉ cácdữ liệu lịch sử”
(p.16). Đô Đốc (hưu) Michael McDevitt khi viết lời mở đầu cho bài
viết của CNA, lưu ý rằng quyển Contest for the South China “
vẫn đứng rất vững cho tới khoảng 40 năm nữa.”
Những công trình này là những nỗ lực đầu tiên giảng
giải lịch sử của các tranh chấp cho người xem nói Tiếng Anh. Chúng
có một số đặc điểm chung:
● Chúng được viết bởi các chuyên gia về luật quốc tế hay khoa học chính trị chứ không phải là nhà sử học về biển của khu vực này.
● Chúng thường thiếu các tham khảo từ nguồn tài liệu gốc (primary source material)
● Chúng có xu hướng dựa vào các nguồn trên báo chí Trung Quốc mà các nguồn này lại không đưa ra nguồn ttham khảo nào từ các bằng chứng ban đầu hoặc từ các công trình có tham khảo các nguồn này
● Chúng có xu hướng trích dẫn các bài báo nhiều năm sau đó như là bằng chứng có thật
● Chúng thường thiếu thông tin bối cảnh lịch sử
● Chúng được viết bởi tác giả có các quan hệ mạnh mẽ với Trung Quốc
Các công trình ban đầu về tranh chấp
Việc viết về các tranh chấp ở Biển Đông bằng tiếng
Anh nổi lên như hậu quả trực tiếp của ‘Trận đánh ở quần đảo Hoàng
Sa’ vào tháng 1 năm 1974, khi quân đội Trung Quốc đuổi quân đội Việt
Nam Cộng Hòa (‘Nam Việt Nam’) ra khỏi nửa phía Tây của quần đảo này.
Các phân tích đầu tiên mang tính báo chí, trong
đó có một bài của Cheng Huan, lúc đó là một sinh viên luật người
Malaysia gốc Hoa ở London mà bây giờ là một khuôn mặt pháp lý cao
cấp tại Hong Kong, trong ấn bản tháng sau đó của Far Eastern
Economic Review (Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông).[11]
Trong bài đó, ông phát biểu rằng, “yêu sách lịch sử của Trung Quốc
[đối với quần đảo Hoàng Sa] rất vững chải về mặt tài liệu ghi
chép (well documented) và đi ngược về quá khứ xa xưa rất nhiều
năm, rằng sẽ gần như bất khả để bất kỳ nước nào khác đưa ra một
phản yêu sách có ý nghĩa.” Lời thẩm định của một sinh viên còn
non choẹt đã được chuẩn nhận trích dẫn trong cuốn sách ‘China’s
Policy Towards Territorial Dispute’ của Chi-Kin Lo xuất bản năm
1989.[12]
Các công trình có tính học thuật đầu tiên xuất
hiện năm sau đó. Chúng gồm một bài viết của Tao Cheng cho Tạp Chí
Luật Quốc Tế Texas[13]
và một bài khác của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cho Ocean
Development & International Law.[14]
Năm sau, Viện Nghiên Cứu Châu Á tại Hamburg xuất bản một chuyên khảo
của học giả Đức Dieter Heinzig có tựa là ‘Disputed islands in
the South China Sea’ (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông).[15]
Đây là những bài viết mở đuờng nhưng nội dung - và do đó phân
tích của chúng- còn xa mới có tính trung lập.
Bài của Cheng chủ yếu dựa vào nguồn của Trung Quốc
với các thông tin bổ sung từ báo chí Mĩ. Các nguồn chính của Trung
Quốc là các tạp chí thương mại hồi thập niên 1930, đáng chú ý là các
số của tạp chí Wai Jiao Ping Lun [外交评论
(Ngoại Giao Bình Luận)] ở Thượng Hải năm 1933 và năm 1934 và
Xin Ya Xiya yue kan
[新亚细亚月刊
(Tân Á Tế Á Nguyệt San: Nguyệt san Châu Á mới)] năm 1935. Các
nguồn này được bổ sung bằng các tài liệu từ tạp chí tin tức hàng
tháng
Ming Pao
[明报
(Minh Báo)] ở Hong Kong năm 1973 và năm 1974. Các báo khác được
trích dẫn bao gồm
Kuo Wen Chou Pao
[国文周报
(Quốc Văn Chu Báo: Tuần Báo Quốc Văn)], xuất bản tại Thượng Hải
từ năm 1924 đến 1937,
Renmin Ribao
[Nhân Dân Nhật Báo] và New York Times. Cheng không tham khảo bất kỳ
nguồn nào của Pháp, Việt Nam hoặc Philippines, ngoại trừ một bài
báo từ La Geographie (Địa Lí) năm 1933 đã được dịch và in lại
trong Wai Jiao Ping Lun.
Bài báo của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cũng
dựa trên các nguồn tương tự. Trong những phần cốt lõi, bài viết
trích dẫn bằng chứng dựa trên các bài báo được xuất bản vào năm
1933 trong Wai Jiao Ping Lun[16]
và Wai Jiao Yue Bao [外交月报
(Ngoại Giao Nguyệt Báo)][17],
và Fan-chih Yueh-k'an [方志月刊
(Phuơng
Chí Nguyệt San)] năm 1934[18]
cũng như Kuo-wen Chou Pao (Quốc Văn Chu Báo) năm 1933 và
Wai-Chiao-pu kung-pao [外教部公宝:(Ngoại
Giao Bộ Công Báo: Công báo Bộ Ngoại Giao)] của chính phủ Trung
Quốc.[19]
Nó bổ sung thông tin này với các tài liệu thu thập được từ quyển
Nan-hai chu-tao ti-li chih lūeh [南海诸岛地理志略
(Nam Hải chư đảo
địa lý chí lược)] của Cheng Tzu-Yueh [郑资约
(Trịnh Tư Ước)] xuất bản năm 1948 ở Thượng Hải,[20]
và các tuyên bố của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (Trung Hoa
Dân Quốc) từ năm 1956[21]
đến 1974.[22]
Chiu
và Park có sử dụng một số tài liệu tham khảo của Việ Nam, đặc biệt
là 8 thông cáo báo chí hay các bảng kê sự kiện do Tòa Đại Sứ Việt
Nam Cộng Hòa ở Washington đưa ra. Họ cũng tham khảo một số “tài
liệu chưa được công bố thuộc sở hữu của hai tác giả.” Tuy nhiên,
phần lớn nguồn của họ là từ báo chí Trung Quốc.
Viết
một năm sau đó, Dieter Heinzig dựa vào, đặc biệt là các ấn bản của
hai tạp chí Hong Kong Ch'i-shih nien-tai [七十年代
(Thất thập niên đại)] và
Ming Pao
[明报
(Minh Báo)][23]
xuất
bản lần lượt vào tháng 3 và tháng 5 năm 1974.
Điều
quan trọng là tất cả những bài viết nền tảng này đã được sử
dụng làm tài liệu tham khảo cơ bản cho các bài báo Trung Quốc
xuất hiện trên truyền thông vào những thời điểm khi thảo luận về
Biển Đông đã bị chính trị hóa cao độ. Năm 1933 là năm mà Pháp chính
thức sáp nhập các thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa - kích động
sự giận dữ lan rộng ở Trung Quốc, 1956 là năm mà doanh nhân Tomas
Cloma của Philippines tuyên bố hầu hết quần đảo Trường Sa là
quốc gia độc lập "Freedomland" của chính mình - kích động các
phản yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc, Trung Quốc và Việt Nam Cộng
Hòa; và 1974 là năm có trận đánh Hoàng Sa.
Các
bài báo được công bố trong ba thời kỳ này thì không thể được xem là
các nguồn trung lập và vô tư về bằng chứng thực tế mà cần phải
được xem là những tài liệu phe phái ủng hộ các quan điểm quốc gia
cụ thể. Điều này không có ý nói rằng các tài liệu đó sẽ tự
động không chính xác mà cần phải thận trọng kiểm chứng những
điều chúng khẳng định với các nguồn tài liệu gốc. Đây không phải là
điều mà các tác giả đã làm.
Khuôn mẫu do Cheng, Chiu và Park và Heinzig thiết lập sau đó đã
được lặp lại trong cuốn sách Contest for the South China Sea
của Marwyn Samuels.[24]
Chính Samuels tự thừa nhận sự thiên vị Trung Quốc trong các nguồn
của ông trong Lời Mở Đầu của cuốn sách, khi ông nói “đây không
phải là một nghiên cứu chủ yếu về lịch sử trên biển, chính sách đại
dương hoặc lợi ích của Việt Nam hay Philippines ở Biển Đông. Thay
vào đó, ngay cả khi với các yêu sách và phản yêu sách khác nhau
được bàn luận khá dài, mối quan tâm cuối cùng ở đây là với tính
chất thay đổi trong chính sách đại dương của Trung Quốc.” Kết hợp
các vấn đề lại, Samuels thừa nhận rằng nghiên cứu Châu Á của ông
chủ yếu trong kho lưu trữ của Đài Loan. Tuy nhiên, các hồ sơ chính
yếu liên quan đến hành động của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông trong
đầu thế kỷ 20 chỉ được giải mật năm 2008/9, sau khi công trình của
ông được công bố khá lâu.[25]
Có một sự bùng nổ về việc viết lịch sử vào cuối
thập niên 1990. Nhà địa lý Daniel Dzurek, cưu nhân viên Bộ Ngoại
Giao Hoa Kỳ sau trở thành nhà tư vấn trong lĩnh vực dầu khí đã
viết một bài báo cho Đơn vị nghiên cứu các ranh giới quốc tế của Đại
học Durham vào năm 1996 và cuốn sách của một nhà phân tích Úc Greg
Austin xuất bản vào năm 1998. Phần lịch sử của Austin tham khảo sách
của Samuels, các bài viết của Chiu và Park, tài liệu có tên ‘Chủ
quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và
Nam Sa’ do Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố tháng 1 năm 1980[26]
và một bài viết của Lin Jinzhi (Lâm Kim Chi) trên tờ Nhân Dân.[27]
Cuốn sách của Dzurek cũng tương tự.
Người đóng góp quan trọng kế tiếp cho cách tường
thuật này là một giáo sư luật Mỹ gốc Hoa, Jianming Shen thuộc
Trường Luật Đại học St. John ở New York. Năm 1997, ông công bố một
bài viết then chốt trong Hastings International and Comparative Law
Review. Giống như Tạp Chí Luật quốc tế Texas, Tạp Chí này là một ấn
phẩm do sinh viên biên tập. Hầu như không cần phải nói rằng ban
biên tập gồm các sinh viên khó có thể là cơ quan tốt nhất để giám
sát các công trình về lịch sử biển Châu Á. Tiếp sau bài viết này,
Shen có một bài thứ hai trong một tạp chí có uy tín hơn, the
Chinese Journal of International Law - mặc dù trong nhiều mục nó chỉ
đơn giản là tham khảo bài viết thứ nhất.
Hai
bài viết của Shen đặc biệt có ảnh hưởng - chẳng hạn bài của CNA
2014 dẫn ít nhất là 170 lần hai bài này. Tuy nhiên, khi kiểm tra
lại nguồn thì thấy rõ hai bài này cũng đáng nghi như các bài có
trước. Các mục về lịch sử nhằm cung cấp các bằng chứng cho bài năm
1997 của ông dựa phần lớn vào hai nguồn. Một là một cuốn sách của
Duanmu Zheng [端木正
(Đoan Mộc Chính)] có tên
Guoji Fa
[Quốc Tế Pháp (Luật quốc tế)] do nhà xuất bản Đại Học Bắc
Kinh xuất bản năm 1989 (đuợc tham chiếu ít nhất 18 lần).[28]
Năm sau Duanmu chính thức trở thành quan chức pháp luật đứng thứ
hai ở Trung Quốc - Phó Chánh Án Toà án Nhân dân Tối cao của Trung
Quốc - và sau đó là một trong những người dự thảo Luật Cơ bản của
Hong Kong.[29]
Nói cách khác, ông là một quan chức cấp cao của nhà nước Trung Quốc.
Nguồn sử liệu chính khác của Shen là một tập hợp các bài từ một hội
nghị chuyên đề về các đảo ở Biển Đông do Viện Chiến lược Phát
triển Biển, một bộ phận của Cục Hải Dương Quốc Gia Trung Quốc,
tổ chức năm 1992 (đuợc tham chiếu dẫn ít nhất 11 lần). Có vẻ còn
hơn là trớ trêu rằng tài liệu do Cục Quản Lý Hải dương Quốc Gia
làm ra và tiếp đó được các cơ quan pháp lý của Trung Quốc xào nấu
thông qua các tác phẩm của giáo sư Shen và của Trung Tâm Phân Tích
Hải Quân lúc đó mà bây giờ lại trở thành một thành phần trong hiểu
biết của Lầu Năm Góc về lịch sử Biển Đông.
Không ai trong số các tác giả được nói tới cho đến
giờ là chuyên gia về lịch sử biển ở Biển Đông mà là nhà khoa học
chính trị (Cheng và Samuels), luật sư (Chiu và Park và Shen) hoặc
chuyên gia quan hệ quốc tế (Heinzig và Austin). Như một quy luật,
các công trình của họ không kiểm tra tính toàn vẹn của các lời văn
mà họ trích dẫn, và họ cũng không bàn luận về bối cảnh mà chúng được
tạo ra. Đặc biệt Cheng cùng với Chiu và Park lại đưa vào các khái
niệm lỗi thời - chẳng hạn như ‘đất nước’ (country) để mô tả quan hệ
tiền hiện đại giữa các thực thể chính trị xung quanh Biển Đông - cho
những giai đoạn mà các quan hệ chính trị rất khác biệt với các quan
hệ đang có hiện nay.
Cũng
đáng chú ý là Cheng, Chiu và Shen đều là người gốc Hoa. Cheng và
Shen đều tốt nghiệp LLB (Cử Nhân Luật) tại Đại học Bắc Kinh. Chiu
tốt nghiệp Đại học Quốc gia Đài Loan. Dù điều này tất nhiên không tự
động làm cho họ thành thiên vị, nhưng sẽ hợp lý để cho rằng họ quen
thuộc với các tài liệu của Trung Quốc và các quan điểm của Trung
Quốc nhiều hơn. Cả Samuels lẫn Heinzig đều là những học giả về Trung
Quốc.
Bằng chứng có lổ hổng
Hầu
như không đáng ngạc nhiên rằng những tài liệu bằng tiếng Anh đầu
tiên về tranh chấp [Biển Đông], được viết như thể chúng do các tác
giả Trung Quốc viết và dựa trên các nguồn của Trung Quốc, ủng hộ
lập luận của Trung Quốc. Cheng đánh giá (p. 277) rằng “có lẽ an
toàn để nói rằng vị thế của Trung Quốc trong tranh chấp các đảo ở
Biển Đông là một ‘yêu sách vượt trội hơn cả’.” Chiu và Park (p.20)
kết luận rằng “Trung Quốc có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa (Spratlies [sic]) mạnh mẽ hơn Việt Nam.” Có
thể thấy rõ quan điểm của Shen qua tựa hai bài báo của ông ta: ‘Các
quy tắc của luật quốc tế và bằng chứng lịch sử hậu thuẫn quyền sở
hữu của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông’ và ‘Chủ quyền của
Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông.’
Những lời phán này vẫn còn có ảnh hưởng tới ngày nay:
chẳng hạn chúng đã được các bài viết của Li và Tan năm 2014 trích
dẫn. Tuy nhiên, khi xem xét cặn kẽ hơn các bằng chứng mà họ dựa vào
thì sẽ thấy chúng sai lầm trầm trọng. Những bài viết vào năm 1933,
1956 và 1974 không nên được coi là bằng chứng trung lập mà là
các bài đọc có tính phe phái về lịch sử tranh chấp.
Bài
viết này không có chỗ để nêu lên tất cả những khẳng định mà các
tác giả đã đưa ra về các sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, các điều
Cheng, Chiu và Park, Samuels và Shen đưa ra đều có cùng giả định
chung: đó là Trung Quốc luôn luôn chiếm ưu thế hải quân, thương mại
và khả năng đánh cá ở Biển Đông. Chẳng hạn như Cheng đã nêu như thế
này, “Nó là một phần quan trọng của tuyến đường biển từ Châu Âu đến
Phương Đông kể từ thế kỷ thứ 16, là nơi trú ẩn cho ngư dân Đảo Hải
Nam, và là cửa ngõ cho các thương gia Trung Quốc từ miền Nam Trung
Quốc đến Đông Nam Á kể thời xa xưa”(p.266).
Lịch sử dựa vào thực tiễn Biển Đông nhiều hơn
gợi cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều. Các công trình của các
nhà sử học Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich
Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade
đã cho thấy việc sử dụng biển trong thời tiền hiện đại đa phương hơn
rất nhiều. Tàu thuyền và các thương nhân Trung Quốc hầu như không
có vai trò trong giao thương đường biển cho mãi đến thế kỷ thứ 10 và
thậm chí sau đó cũng chưa bao giờ chiếm ưu thế mà sử dụng biển chung
với người Malaysia, Ấn Độ, Ả Rập và Châu Âu. Nghiên cứu của
François-Xavier Bonnet,[30]
Ulises Granados[31]
và Stein Tønnesson[32]
cho thấy mô thức tương tự đã kéo dài vào thế kỷ 20 như thế nào.
Nhiều tài liệu tiết lộ hồi đầu thế kỷ 20 cho thấy rằng nhà nước
Trung Quốc gặp khó khăn rất lớn trong việc kiểm soát ngay cả bờ biển
của chính mình, và hoàn toàn khôngcó khả năng triển khai thẩm quyền
tới các đảo cách xa hàng trăm cây số ngoài khơi. Ví dụ, hai bài báo
trên The Times ở London tháng 1 năm 1908 mô tả sự bất lực của chính
quyền Trung Quốc trong việc kiểm soát ‘cướp biển’ ở sông TâyGiang -
trong nội địa ở Canton / Quảng Châu.[33]
Một bài báo trên tờ The Examiner của Australia năm 1909 cho chúng ta
biết rằng người nước ngoài (“hai người Đức, một người Nhật, và một
số người Malaysia”) đã bắt đầu các hoạt động khai mỏ trên đảo Hải
Nam mà không có cơ quan chức năng nào phát hiện cho đến mãi sau này[34].
Điều mà các tài liệu này bộc lộ là một Biển Đông
cho đến giữa thế kỷ 20 cơ bản vẫn không ai cai quản trừ các can
thiệp khi cần của các cường quốc nước ngoài để chống cướp biển. Chỉ
trong năm 1909, sau vụ ôm sồm xung quanh việc nhà khai thác phân
chim Nhật Nishizawa Yoshiji chiếm đảo Pratas [Trung Quốc gọi là Đông
Sa] thì nhà chức trách Trung Quốc mới trở nên quan tâm đến các đảo
ngoài khơi.[35]
Việc phản đối các cuộc khảo sát của Đức
Tuy nhiên, Samuels (p. 52) cho rằng có thể xem
Trung Quốc đã ngầm yêu sách quần đảo Trường Sa từ năm 1883
khi (theo trình bày của ông) chính phủ nhà Thanh chính thức phản đối
đoàn khảo sát (có nhà nước bảo trợ) Đức tới quần đảo Trường Sa.
Khẳng định này lấy nguồn từ số tháng 5 năm 1974 của tạp chí tháng
Ming Pao của Hong Kong mà không có bằng chứng bổ trợ nào khác.
Chiu và Park (trong chú thích 47) quy nó về một bài báo trong Wai
Jiao Yue Bao năm 1933, tức viết ra sau sự kiện đang nghi vấn này
những 50 năm,[36]
Heinzig cũng trích dẫn cùng số Ming Pao mà Samuels dựa vào để
nói rằng đoàn khảo sát Đức năm 1883 thực sự đã rút đi sau khi có
phản đối của Trung Quốc.
Điều khẳng định này có vẻ rất khó xảy ra bởi vì
các nhà khảo sát Đức đã lập bản đồ quần đảo Hoàng Sa (không phải
Trường Sa) từ năm 1881 đến năm 1883, hoàn tất công việc và sau đó
đã xuất bản một hải đồ. Ấn bản tiếng Pháp của hải đồ đó được xuất
bản năm 1885.[37]
Công ước Pháp-Thanh [Sino-Tonkin] 1887
Samuels lập luận rằng công ước Pháp -Thanh 1887 do
chính phủ Pháp đàm phán, trên danh nghĩa là thay mặt cho cho Bắc Kỳ
[Tonkin], cho ra một thỏa thuận quốc tế phân các đảo này [Hoàng Sa
và Trường Sa] cho Trung Quốc (p. 52). Điều 3 của Công ước quả thực
có phân các đảo phía Đông kinh tuyến Paris 105° 43' cho Trung Quốc.
Nhưng Samuels và các tác giả khác không để ý rằng Công Ước này áp
dụng cho Bắc Bộ - khu vực phía Bắc của vùng đất bây giờ là Việt Nam
và do đó chỉ có thể liên quan đến các đảo trong Vịnh Bắc Bộ. Quần
Đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm lệch xa về phía Nam trong khu vực mà
lúc đó là lãnh địa của An Nam (Trung Kỳ) và Nam Kì không thuộc phạm
vi của Công Ước.
Bí
ẩn của chuyến đi năm 1902
Ngoài ra còn xuất hiện một số nhầm lẫn về thời gian của chuyến đi
đầu tiên của các quan chức Trung Quốc tới quần đảo Hoàng Sa. Samuels
(p. 53), tin vào của bài viết trên Ming Pao năm 1974, cho
chuyến đi đó là vào năm 1902 với chuyến đi thứ hai vào năm 1908.
Austin và Dzurek viết theo Samuels trong sự việc này. Li và Tan
(2014) cũng khẳng định là năm 1902, cùng với một chuyến đi riêng
biệt khác vào năm 1907. Cheng cho nó là vào năm 1907, dựa trên một
số tài liệu tham khảo năm 1933[38]
như Chiu và Park đã làm, hai tác giả này dẫn một ấn bản năm 1933 của
Kuo-wen chou -pao.[39]
Tuy nhiên, trái ngược với các tường thuật này, được viết sau cái cho
là các sự kiện mà họ định mô tả tới 26 và 72 năm, việc khảo sát
báo chí cùng thời đó cho thấy khá rõ rằng các chuyến đi diễn ra vào
năm 1909.
Có
lý do chính đáng cho sự nhầm lẫn về chuyến đi năm 1902 này. Vào
tháng 6 năm 1937, trưởng khu hành chính số 9 của Trung Quốc, Huang
Qiang đã được phái đến quần đảo Hoàng Sa thực hiện một nhiệm vụ bí
mật - một phần là để kiểm tra xem có hoạt động của người Nhật trên
các đảo hay không.
Nhưng ông cũng có một nhiệm vụ khác - mà một phụ lục bí mật kèm báo
cáo của ông cho thấy rõ. Một đoạn trích của phụ lục này đã được Ủy
ban Địa Danh Tỉnh Quảng Đông in lại vào năm 1987.[40]
Tàu của ông chở theo 30 cột mốc (marker) bằng đá - một số ghi năm
1902, một số ghi năm 1912 và một số khác ghi năm 1921. Trên Cồn Bắc,
họ chôn 2 cột ghi năm 1902 và 4 cột ghi năm 1912; trên
Đảo Linh Côn (Lincoln),
toán công tác chôn 1 cột ghi năm 1902, 1 cột ghi năm 1912 và 1 cột
ghi năm 1921 và trên đảo Phú Lâm, 2 cột ghi năm 1921. Cuối cùng,
trên Đảo Đá (Rocky), họ chôn 1 cột mốc duy nhất ghi năm 1912.
Các cột mốc này bị quên lãng cho mãi đến năm 1974
khi mà, sau trận đánh Hoàng Sa, chúng được tìm thấy và ‘khám phá’
này được làm ầm ĩ trên báo chí Hồng Kông - như Ming Pao. Chuyến đi
năm 1902 không hề tồn tại này sau đó lại đi vào sử sách. Chỉ tới bây
giờ nó mới bị nhà địa lý học người Pháp làm việc ở Manila
Francois-Xavier Bonnet vạch trần.[41]
Tên các đảo
Trong bài viết năm 1997, Shen khẳng định Chính phủ
Trung Hoa Dân Quốc ‘thẩm tra lại tên các đảo ở biển Nam Trung Quốc’
năm 1932. Trên thực tế ủy ban chính phủ đó chỉ đơn giản dịch hay
phiên âm tên Tiếng Anh hoặc tên quốc tế hiện có. Kết quả là một số
trong những cái tênTiếng Trung tiếp tục vinh danh các nhà khảo sát
Anh vốn lập bản đồ các thể địa lý này lần đầu tiên. Trong quần đảo
Hoàng Sa có Ling yang Jiao [Linh Dương Tiêu] - dịch từ
Antelope Reef (Đá Hải Sâm) - vốn được đặt tên theo một tàu khảo sát
Antelope của Anh. Jin Yin Dao [Kim Ngân Đảo] - Money Island
(Đảo Quang Ảnh) - không phải được đặt tên theo tiền và bạc - mà theo
tên tổng giám sát William Taylor Money của Bombay Marine - đoàn tàu
của Công ti Đông Ấn.
Phản đối ngoại giao năm 1933?
Một
lập luận vốn là chìa khóa cho yêu sách của Trung Quốc đối với quần
đảo Trường Sa là việc khẳng định thường được lặp đi lặp lại rằng
Trung Hoa Dân Quốc đã chính thức phản đối Chính Phủ Pháp sau khi
nước này chính thức sáp nhập một số thể địa lý trong quần đảo
Trường Sa vào ngày 26 tháng 7 năm 1933. Điều chắc chắn đúng là sự
sáp nhập gây kinh ngạc trong chính phủ và nỗi tức giận dân tộc chủ
nghĩa trong công chúng. Tuy nhiên, có chăng một phản đối chinh thức
đã được đưa ra?
Tao Cheng, trong bài báo năm 1975, dẫn một bài
viết trong Xin Ya Ya Xi Yue Kan [Hsin-ya-hsi-ya Yueh kan
(Tân Á Tế Á Nguyệt San)], ra hai năm sau đó, năm 1935.[42]
Chiu và Park nêu trong một chú thích rằng “có bằng chứng rằng Trung
Quốc cũng phản đối.” Họ tham khảo bài viết của Cho Min trong
Wai-Chiao Yueh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo],[43]
và một cuốn sách Nan-hai-chu tao ti-li chih- lūeh [Nam Hải
chư đảo địa lí chí lược] năm 1948 của Cheng Tzu-Yueh.[44]
Tuy
nhiên, họ thừa nhận rằng “Ngày Trung Quốc đưa ra phản đối không có
nêu trong cuốn sách của Cheng, và cũng không được nói tới trong ‘Bản
ghi nhớ về bốn quần đảo lớn của nước Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông’
do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc công bố vào tháng 2 năm 1974.
Xem Lien-ho-pao [联合报
(Liên Hiệp Báo)], ấn bản nước ngoài, 25 tháng 2 năm 1974, p. 3.”
Điều khẳng định này xuất hiện trong bài thuyết
trình của Đại Sứ Freeman và trong bài của CNA - bài này trích dẫn
Shen. Trong bài báo năm 1997, Shen trích dẫn hai nguồn: Cheng, và
Chiu và Park - nhưng như chúng ta đã thấy - các tác giả này không
nêu ra bất kỳ tài liệu tham khảo nào cho khẳng định của mình. Trong
bài báo năm 2002, Shen dẫn các bài viết của hội nghị chuyên đề của
Cục Hải Dương Quốc Gia.[45]
Những bài viết này không tìm thấy bên ngoài Trung Quốc, nhưng có
bằng chứng tốt rằng tất cả các công trình này đều chỉ đơn giản là
sai.
Francois-Xavier Bonnet đã tìm được hồ sơ của Mỹ cho thấy rằng ngay
sau công bố của Pháp chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu viên lãnh sự ở
Manila, ông Kuan-ling Kwong đến hỏi chính quyền thực dân Mỹ về bản
đồ có vẽ vị trí của các đảo đó. Chỉ sau đó chính phủ ở Nam Kinh mới
hiểu được rằng những đảo này không thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó
đã quyết định không đưa ra bất kỳ phản đối chính thức nào.[46]
Theo Bonnet, nguyên do của việc này có thể thấy
rõ từ biên bản của cuộc họp của Hội đồng quân sự Trung Hoa Dân Quốc
vào ngày 1 tháng 9 năm 1933, “Tất cả các nhà địa lý chuyên nghiệp
của chúng ta nói rằng Đảo Tri Tôn [thuộc Hoàng Sa] là đảo cực nam
của lãnh thổ của chúng ta.”[47]
Trung Hoa Dân Quốc quyết định rằng họ không có yêu sách trong quần
đảo Trường Sa vào thời điểm đó và do đó không có gì để phản đối.
Nghiên cứu của Chris Chung, một nghiên cứu sinh người Canada, đã
phát hiện ra rằng cho tới năm 1946, các hồ sơ của Trung Hoa Dân Quốc
đã dẫn chứng việc Trung Quốc phản đối chính thức vào năm 1933 như
thể nó là có thật. Điều này sau đó đã trở thành cách biện minh của
Trung Quốc cho việc ‘đòi lại’ những đảo này từ tay Nhật Bản sau
Chiến tranh thế giới thứ hai.[48]
Tóm
lại, những gì có vẻ như đã xảy ra là hơn 13 năm sau khi Pháp sáp
nhập các đảo, một hiểu biết khác biệt về những gì đã xảy ra vào năm
1933 đã bám cứng trong giới cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc. Theo tôi
đoán, các quan chức Trung Quốc nhầm lẫn một phản kháng có thật năm
1932 về hoạt động của Pháp ở quần đảo Hoàng Sa với một phản kháng
năm 1933 không hề tồn tại về quần đảo Trường Sa.
Các cuộc khảo sát trong thập niên 1930
Trong bài báo năm 2002, Shen cho rằng Trung Hoa Dân
Quốc, “đã tổ chức ba đợt khảo sát quy mô lớn cùng các hoạt động đặt
tên lại tương ứng vào năm 1932, 1935 và 1947” (p.107) nhưng không có
công việc khảo sát nào đã được thực hiện ở quần đảo Trường Sa mà chỉ
là việc sao chép lại bản đồ quốc tế. Điều này có vẻ là lý do tại sao
Trung Hoa Dân Quốc đã dịch sai tên của James Shoal [Bãi Ngầm James]
- ban đầu gọi nó Zengmu Tan [曾母滩Tăng
Mẫu Than)].
Zeng-mu
chỉ đơn giản là phiên âm của từ James. Tan [滩
(than)] có nghĩa là bãi cát, trong khi thực tế thì ‘shoal’ là bãi
ngầm. Qua việc dịch sai đơn giản này một mảnh đáy biển đã trở thành
một đảo và được coi là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc cho đến tận
hôm nay - dù nó không tồn tại! Những cái tên đó đã được Trung Hoa
Dân Quốc sửa đổi lại năm 1947 (lúc đó Zengmu Tan trở thành
Zengmu Ansha - [暗沙
(ám sa: rạn san hô ngầm)]) và Trung Quốc chỉnh lại một lần nữa
năm 1983.[49]
Tuyên bố Cairo
Shen
(2002 p. 139), và Li và Tan (2014 ) lập luận theo đúng Bộ Ngoại giao
Trung Quốc rằng theo Tuyên bố Cairo 1943, các đồng minh thời chiến
đã trao các đảo ở Biển Đông cho Trung Quốc. Bài của CAN bàn luận về
khẳng định này và rạch ròi bác bỏ nó trên cơ sở rằng,
"Tuyên
bố Cairo, như được củng cố bởi Tuyên Ngôn Potsdam , chỉ
quy định rằng Trung Quốc sẽ thu hồi lại Mãn Châu, Formosa [Đài
Loan], và Pescadores [Quần đảo Bành Hồ] sau chiến tranh. Câu tiếp
theo chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản sẽ bị trục xuất khỏi các ‘vùng
lãnh thổ khác’ mà họ đã chiếm bằng bạo lực, nhưng không chỉ ra rằng
những ‘vùng lãnh thổ khác’ đó sẽ được trả lại cho Trung Quốc. Dù
không được nêu cụ thể, kết luận hợp lý duy nhất là những ‘vùng lãnh
thổ khác’ bao gồm cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, vốn đã
bị đoạt lấy bằng bạo lực từ tay Pháp chứ không phải từ tayTrung
Quốc.” (p. 97)
Tuy
nhiên, Freeman (2015) lập luận rằng vì nhà chức trách Nhật Bản sáp
nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào tỉnh Đài Loan nên
Tuyên bố Cairo trả chúng cùng với phần còn lại của ‘Tỉnh Đài Loan’
về cho Trung Quốc. Nhưng Tuyên bố không đề cập đến từ ‘Đài Loan.’ Nó
nói về Formosa và Pescadores. Kết luận hợp lý là đồng minh chỉ đồng
ý rằng hai quần đảo cụ thể này [Formosa và Pescadores] sẽ được trả
lại cho Trung Quốc.
Nhật Bản đầu hàng ở quần đảo Hoàng Sa
Cả
bài của CNA lẫn bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman đều chuyển tải
khẳng định rằng quân đội Trung Quốc tiếp nhận sự đầu hàng của các
đơn vị của Nhật Bản trú đóng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào
cuối Thế Chiến thứ hai. Freeman lập luận rằng Hải Quân Mỹ thực sự đã
chở lực lượng Trung Hoa tới hai quần đảo đó cho mục đích này. Trong
trao đổi riêng với tác giả, ông đã không thể cung cấp bất kỳ bằng
chứng bổ trợ nào cho khẳng định đó.
Dựa trên những bằng chứng từ kho lưu trữ của quân
đội Mỹ và Úc, khẳng định đó khó có vẻ là sự thật. Trong chiến tranh,
Nhật Bản đã có các căn cứ quân sự trên Đảo Hoàng Sa (Pattle) và Phú
Lâm (Woody) thuộc quần đảo Hoàng Sa và Đảo Ba Bình (Itu-Aba) thuộc
quần đảo Trường Sa. Đảo Phú Lâm bị tàu ngầm USS Pargo pháo
kích ngày 6 tháng 2 năm 1945[50]
và ngày 8 tháng 3 máy bay Mỹ ném bom đảo này cùng với Đảo Hoàng Sa.[51]
Khi tàu ngầm USS Cabrilla ghé Đảo Phú Lâm vào ngày 2 tháng 7, cờ tam
tài [ba màu] của Pháp còn đang treo, nhưng lúc đó cũng có với một lá
cờ trắng [mặt trời] ở trên nó.[52]
Ba
Bình đã bị máy bay Mỹ ném bom xăng ngày 1 tháng 5 năm 1945. Sáu
tháng sau đó, Hải Quân Mỹ đã phái một toán trinh sát đến Ba Bình.
Toán này đổ bộ lên đảo ngày 20 tháng 11 năm 1945 và nhận thấy đảo
không người - người Nhật đã bỏ đi.
Mãi
cho đến hơn một năm sau đó - tháng 12 năm 1946 mới có một phái đoàn
Trung Hoa Dân Quốc dùng tàu chiến cũ của Mỹ (vừa được chuyển cho Hải
Quân Trung Hoa Dân Quốc) mới có thể đi tới được đảo này. (Hai tháng
trước đó người Pháp đã đến và khẳng định lại chủ quyền đảo này nhưng
điều này hiếm khi được đề cập trong các nguồn Trung Quốc.) Tên tiếng
Trung của Ba Bình là
Taiping Dao (Thái Bình Đảo), được đặt theo tên tàu chiến chở
phái đoàn này. Tàu Taiping trước đây là tàu USS Decker. Điều
trớ trêu là nếu như Hoa kỳ không cung cấp những tàu chiến đó thì
Trung Quốc sẽ không có yêu sách nào trong quần đảo Trường Sa hiện
nay.
Kết luận
Việc
xem xét lại các bằng chứng kiểm chứng được cho thấy một lịch sử về
các đảo ở Biển Đông khác biệt với lịch sử có trong hầu hết các tài
liệu tham khảo thường được sử dụng. Nhà nước Trung Quốc chỉ bắt đầu
quan tâm tới các đảo này từ thế kỷ 20. Chưa có bằng chứng nào về
việc có viên chức nhà nước Trung Quốc đến quần đảo Hoàng Sa trước
ngày 6 tháng 6 năm 1909 đã được đưa ra. Chỉ trong năm 1933 sự chú ý
của quốc gia mới chuyển sang quần đảo Trường Sa - và tại thời điểm
đó Trung Hoa Dân Quốc đã quyết định
không cố yêu sách quần đảo này. Sự chú ý đã được hồi sinh ngay
lập tức sau Thế Chiến thứ hai, dựa trên những hiểu lầm về những gì
xảy ra vào năm 1933 và lần đầu tiên trong lịch sử một quan chức
Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa vào ngày 12 tháng 12 năm
1946.
Năm
1933, 1956, 1974 và hiện nay cũng vậy lịch sử về các đảo này được
viết và viết lại. Trong mỗi cuộc khủng hoảng, những kẻ ủng hộ lập
trường của Trung Quốc lại công bố những phiên bản mới của lịch sử
vốn vẫn tái chế những sai lầm trước đó và đôi khi lại thêm vào trong
đó nhiều sai lầm mới của chính họ. Khi mà các cách nhìn nhận này
vượt qua rào cản ngôn ngữ nhảy sang tiếng Anh vào giữa thập niên
1970, nền móng lung lay của chúng lại có vẻ rắn chắc đối với những
người mới tìm tòi lịch sử lần đầu. Chúng đã được in trên các tạp chí
học thuật Phương Tây và ‘trở thành sự thật.’ Nhưng việc xem xét lại
các nguồn của chúng làm lộ ra điểm yếu cố hữu của chúng.
Không còn đủ thuận lợi cho những kẻ ủng hộ yêu sách
của Trung Quốc dùng những bằng chứng vô căn cứ như vậy làm cơ sở cho
lập luận của mình. Đã tới lúc cần thực hiện một một nỗ lực phối hợp
để xem xét lại các nguồn thông tin gốc đối với phần lớn các khẳng
định được các tác giả này đưa ra cũng như đánh giá lại độ chính xác
của chúng. Việc giải quyết các tranh chấp phụ thuộc vào đó - cả
trong phòng xử án ở The Hague lẫn trong các vùng nước của Biển Đông.
Cựu
phóng viên BBC Bill Hayton là tác giả của The South China Sea: the
struggle for power in Asia,’ (Biển Đông: cuộc tranh giành quyền lực
ở Châu Á), gọi là cuốn sách đầu tiên đưa ra ý nghĩa rõ ràng về các
tranh chấp ở Biển Đông.
[1]
Li Dexia and Tan Keng Tat, South China Sea Disputes: China
Has Evidence of Historical Claims. RSIS Commentary 165 dated
15 August 2014 Available at
http://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/08/CO14165.pdf.
See also Li Dexia, Xisha (Paracel) Islands: Why China’s
Sovereignty is ‘Indisputable’. RSIS Commentary 116 dated 20
June 2014. Available at
http://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/07/CO14116.pdf
[2]
Charles Freeman, Diplomacy on the rocks. Remarks at a
Seminar of the Watson Institute for International Studies,
Brown University 10 April 2015.
http://chasfreeman.net/diplomacy-on-the-rocks-china-and-other-claimants-in-the-south-china-sea/
[3]
Pete Pedrozo, China versus Vietnam: An Analysis of the
Competing Claims in the South China Sea, Center for Naval
Analyses, August 2014. Available at
http://www.cna.org/sites/default/files/research/IOP-2014-U-008433.pdf
[4]
Hungdah Chiu & Choon‐Ho
Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly
Islands, Ocean Development & International Law, 3:1,
1-28.
[5]
Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea, Methuen
New York, 1982.
[6]
Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law,
Military Force, and National Development. Allen & Unwin,
1998
[7]
Jianming Shen, International Law Rules and Historical
Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea
Islands, 21 Hastings International and Comparative Law
Review. 1‐75 (1997‐1998).
[8]
Jianming Shen, China’s Sovereignty over the South China Sea
Islands: A Historical Perspective, CHINESE JIL (2002), pp.
94‐157
[9]
Brian K. Murphy, Dangerous Ground: the Spratly Islands and
International Law, Ocean and
Coastal L.J. (1994), pp. 187–212
[10]
Chi-kin Lo, China's Policy Towards Territorial Disputes: The
Case of the South China Sea Islands. Routledge 1989
[11]
Cheng Huan, A matter of legality. Far Eastern Economic
Review. February 1974
[12]
Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes.
Routledge, London. 1989
[13]
Tao Cheng, Dispute over the South China Sea Islands,
Texas International Law Journal 265 (1975)
[14]
Chiu & Park (1975) ibid
[15]
Dieter Heinzig. ‘Disputed islands in the South China Sea:
Paracels, Spratlys, Pratas, Macclesfield Bank’ Institut
für Asienkunde (Hamburg). 1976
[16]
Wai-chiao p'ing-lun
[Ngoại Giao Bình Luận], Shanghai, vol. 2, no.
10 (October 1933), pp. 64-65
[17]
Wai-chiao yüeh-pao
[Ngoại Giao Nguyệt Báo]], vol 3, no. 3
(Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78
[18]
Fan-chih yüeh-k'an
[Phương Chí Nguyệt San], vol. 7, no. 4 (Nanking, April 1,
1934), p. 2
[19]
Wai-chiao-pu kung-pao,
[Công Báo Bộ Ngoại Giao] vol 6, no. 3 (July-September 1933),
p. 208
[20]
Cheng Tzu-yüeh, Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam
Hải Chư Đảo Địa Lí Chí Lược] (Shanghai: Shang-wu
ying-shu-kuan, 1948).
[21]
Tuyên bố do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc đưa rangày 10
tháng 6 năm 1956, tóm lược trong “Vietnamese Claim of
Sovereignty Refuted,"
Free China Weekly,
June 26, 1956, p. 3; Chung-yang jih-pao,
June 11, 1956, p. 6; Shao Hsun-cheng, "Chinese Islands in
the South China Sea," People's China, no. 13 (Peking,
1956)
Foreign Languages Press
[22]
Lien-ho-pao
[United daily news], overseas edition,
February 25, 1974, p. 3; "Memorandum on Four Large
Archipelagoes," ROC Ministry of Foreign Affairs (February
1974).
[23]
Ming Pao (nguyệt san) No. 101 May 1974
[24]
Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea’,
Methuen, New York. 1982
[25]
Chris P.C. Chung, “Since Time
Immemorial”:
China’s
Historical Claim in the South China Sea.
MA Thesis, University of Calgary, September 2013. p8
[26]
PRC Ministry of Foreign Affairs, China’s indisputable
sovereignty over the Xisha and Nansha islands, Beijing
Review Vol. 23 No.7 1980 pp15-24
[27]
Lin Jinzhi, Renmin Ribao (People’s Daily) 7 April 1980.
FBIS-PRC-80-085 30 April 1980 p.E6
[28]
Duanmu Zheng ed. Guoji Fa (International Law)
Peking University Press, Beijing 1989
[29]
Điều đáng lưu ý là Duanmu không phải là đảng
viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà là thành viên của Liên Đoàn
Dân Chủ Trung Quốc. Colin Mackerras, The New Cambridge
Handbook of Contemporary China. Cambridge University Press,
2001 p85.
[30]
Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal.
Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on
Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012
[31]
Ulises Granados, As China Meets the Southern
Sea Frontier: Ocean Identity in the Making, 1902-1937.
Pacific Affairs
Vol. 78, No. 3 (Fall, 2005), pp. 443-461
[32]
Xem, đặc biệt là, Stein Tonnesson, The South
China Sea in the Age of European Decline. Modern Asian
Studies. Vol 40, Issue 01. February 2006, pp 1-57 and An
International History of the Dispute in the South China Sea,
East Asia Institute Working Paper No. 71 (2001)
[33]
The Times
“Chinese foreign relations” Jan 18, 1908; pg. 5; The
Times “The recent piracy in Canton waters”. Jan 25,
1908; pg. 5
[34]
The Examiner (Launceston, Tasmania)
“China and her islands-keeping an eye on foreign nations”
Saturday 12 June 1909 p 8
[35]
Xem Granados (2005) phía trên.
[36]
Điều này được chính quyền Tỉnh Quảng Đông tiết lộ năm 1933.
XemCho Min, "The Triangular Relation- ship Among China,
France and Japan and the Question of Nine Islands in South
Sea," Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], Vol 3,
no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933); p. 82, note 4.
[37]
Hydrographic Office, The Admiralty, The China
Sea Directory, Vol. 2, London, 1889, p.103. Quoted in Bonnet
2012
[38]
Tham khảo của Cheng: Saix, Iles Paracels,
La Geographie (Nov.-Dec. 1933), reprinted in 3 Wai
Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 5 (Hu
Huan-Yung Chinese transl. May 1934), at 65-72;, at 67;
Hu, Fa-jen Mou-tuo Hsi-Sha Ch’ün-tao [The French Plot to
Snatch the Paracel Islands], 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign
Affairs Review), No. 4 (April 1934), at 92.
[39]
"On Li Chun's Patrol of the Sea"(Về chuyến
tuần tra của Lí Chuẩn) Kuo-wen chou-pao
[National news weekly], vol. 10, no. 33 (August 21, 1933),
p. 6.
[40]
Committee of Place Names of the Guangdong Province
[Guangdong sheng di ming wei yuan hui (Quảng Đông Tỉnh địa
danh uỷ viên hôi)], Compilation of references of the names
of all the South Sea islands [Nan Hai zhu dao di ming zi
liao hui bian (Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên)],
Guangdong Map Publishing Company [Guangdong sheng di tu chu
ban she], 1987, p.289
[41]
Bài viết do Francois-Xavier Bonnet trình bày tại the
Southeast Asia Sea conference, Ateneo Law Center, Makati,
Manila. March 27 2015. (Tường thuật có ở đây:
http://opinion.inquirer.net/84307/a-chinese-strategy-manipulating-the-record)
[42]
Lu, Hsi-sha Ch'iin-tao Chih-yao [Tây Sa Quần đảo Sơ yếu], 9
Hsin Ya Hsi Ya Yueh Kan No. 6 (June 1935), at 50-54.
[43]
Cho Min, "The Triangular Relationship Among
China, France and Japan and the Question of Nine Islands in
South Sea,"
Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], vol 3, no. 3
(Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78.
[44]
Cheng Tzu-yüeh [Trịnh Tư Ước], Nan-hai
chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí
lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948), p.80
[45]
Jianming Shen, International Law Rules and
Historical Evidence Supporting China’s Title to the South
China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative
Law Review. 1‐75 (1997) footnote 160.
[46]
François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal,
IRASEC Discussion Papers #14, Bangkok November 2012.
[47]
Wai Jiao bu nan hai zhu dao dang an hui bian
[Ngoại Giao Bộ Nam Hải chư đảo đương án hội
biên], Vol. 1, Taipeh, 1995, p. 47-49. Trích dẫn trong
François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal.
Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on
Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012
[48]
Xem Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島,
or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of
the Department of Modern History in the Academia Sinica
[Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang
中央研究院近代史研究所檔案館藏],
file series 019.3/0012, file 031. This ROC official telegram
is dated August 24, 1946. AND Ministry of Foreign Affairs,
“Nansha Qundao [南沙群島,
or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of
the Department of Modern History in the Academia Sinica
[Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang
中央研究院近代史研究所檔案館藏],
file series 019.3/0012, file 145-146. This ROC official
telegram is also dated to 1946. The month is unclear.
[49]
Chen Keqin, Zhong guo nan hai zhu dao (Trung
Quốc Nam Hải chư đảo) Hainan International Press and
Publication Center, Haikou 1996
[50]
A.B. Feuer, Australian Commandos: Their
Secret War Against the Japanese in World War II
(Mechanicsburg, Pennsylvania, 2006), Chapter 6.
[51]
US Navy Patrol Bombing Squadron 117
(VPB–117), Aircraft Action Report No. 92, available at
http://www.fold3.com/image/#302109453.
[52]
US Navy, USS Cabrilla Report of 8th War
Patrol, available at
http://www.fold3.com/image/#300365402
.
Nguồn từ viet-studies.info