Hàn Thuỷ
![]() |
| Giáo sư TRẦN VĂN KHÊ |
Lịch
sử Việt Nam hiện đại, qua hai cuộc
chiến tranh khốc liệt và một giai đoạn
hoà bình tới nay cũng vẫn chẳng
suôn sẻ gì, đã tạo nên
biết bao số phận mà thực ra đều
có thể viết thành trường thiên
tiểu thuyết. Trong hoàn cảnh đó
những con người “ vượt quá
khổ ” không hiếm, và với thời
gian nhiều hồi ký đã và đang
ra đời, mô tả lại cho hậu thế
mỗi người một số phận, một
nhân cách, một sự nghiệp thật là
khác nhau, có lẽ chỉ giống nhau ở
chỗ độc đáo.
Bốn
cuốn hồi ký của Trần văn Khê
là tự sự của một chứng nhân
như vậy. Không có ai như ông, suốt
đời phục vụ cho âm nhạc dân
tộc, âm nhạc của các dân tộc
; và với niềm đam mê, với tài
nghệ, với phong cách của mình, đã
thành công rực rỡ. Cũng không ai
như ông, được sự kính phục
và vì nể của mọi người
trong mọi phía ; rõ ràng âm nhạc
là thứ ngôn ngữ, là vẻ đẹp,
phổ cập nhất ; và người sứ
giả của nó khi đã tài ba thì
thuyết phục được mọi người.
Lại cũng không ai như ông, trong giai
đoạn chia cắt và đấu tranh còn
mất, vẫn hành xử với các đối
tác ở cả hai phía một cách
đương nhiên, đàng hoàng ;
không giấu diếm lập trường của
mình nhưng lại đầy khôn khéo
và văn hoá để người khác
phải chấp nhận. Đến một vị
thế nào đấy trong môi trường
văn hoá quốc tế thì những cảnh
khó xử giữa văn hoá và chính
trị là không tránh khỏi, và
yên nhiên tự tại được trong
những hoàn cảnh đó, để đạt
được mục đích phục vụ
cho âm nhạc, là một trong những bài
học rất lý thú của hồi ký
này.
Người
viết bài điểm sách này là
kẻ dốt âm nhạc nói chung, và âm
nhạc dân tộc nói riêng, cùng
lắm chỉ biết mình thích hay không
thích một vài tác phẩm. Nhưng
có lẽ hắn, cũng như rất nhiều
người Việt Nam ở nước ngoài,
đã hơn một lần mang nợ nhạc
sư / nhạc sĩ / người kể chuyện
Trần Văn Khê, về một nét nhạc
dân tộc, về giai thoại một cây
đàn... mỗi buổi nghe ông nói
chuyện và trình diễn là một
lần thích thú, thấy mình “dân
tộc” hơn trước, nhiều khi chẳng
hiểu vì sao ; về nhà lại quên
đi, rồi lần sau đi nghe lại thấy
thích thú.
Kể
ra thì với cái duyên nợ nhẹ
nhàng ấy, và cái thẩm quyền
còn nhẹ nhàng hơn ấy, hắn không
xứng đáng để điểm bốn
tập hồi ký của ông. Những người
am hiểu âm nhạc dân tộc Việt Nam
và âm nhạc dân tộc thế giới
chắc chắn sẽ thấy được ở
đây rất nhiều bài học về so
sánh, về quan hệ lịch sử, giữa
các dụng cụ âm nhạc ; cũng như
nhiều kinh nghiệm bảo vệ, bảo tồn
và phát triển âm nhạc truyền
thống. Những người viết sử văn
hoá và âm nhạc Việt Nam qua hồi
ký này chắc chắn có nhiều tư
liệu để đánh giá đúng
đắn và đầy đủ hơn đóng
góp của Trần Văn Khê trong biết
bao công trình âm nhạc và nghệ
thuật dân tộc (của Việt Nam và
thế giới) ; như khôi phục nghệ
thuật múa rối nước, như làm
sống lại ca trù, như hỗ trợ gầy
dựng lại nền âm nhạc cổ truyền
của Mông Cổ và một vài miền
xa xôi khác.
Ở
đây chỉ xin làm một việc rất
chủ quan, nhỏ nhoi và thiên lệch. Đó
là trích một vài đoạn hồi
ký của ông đã gây ấn tượng
cho người viết bài này, chỉ trên
một khía cạnh mà có lẽ ít
người được biết về ông :
làm sao hành xử trên cương vị
một chuyên gia quốc tế trong nhiệm vụ
của mình, phải gặp gỡ và hợp
tác với đủ loại người nhưng
không quên và không đi ngược
lại bản sắc văn hoá và cả
sự dấn thân chính trị.
*
...
vào ngày 6 tháng 9 tôi rời Shiraz để
có mặt tại Newyork tham dự hội nghị
của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc
thuộc UNESCO (....) Năm 1968 chiến tranh ở
Việt Nam đang hồi ác liệt. Tổng
thống Mỹ lúc đó là Lyndon B.
Johnson mời Ban chấp hành (...) vào toà
Bạch ốc uống trà, điều này
được mọi người coi là một
vinh dự. Riêng tôi cảm thấy khó
xử.
*
Rồi
ông cũng tìm ra được tương
đối dễ dàng một lý do chính
đáng để không dự tiệc trà.
Nhưng trường hợp sau đây thì
“gay cấn” và cũng vui hơn.
Khung cảnh
: Bình Nhưỡng năm 1983. Trần Văn
Khê tham dự Diễn Đàn Âm Nhạc
Châu Á, với tư cách trưởng
đoàn của UNESCO.
Mấy
ngày kế tiếp, khi bàn tới buổi
liên hoan bế mạc diễn đàn, Ban tổ
chức nói:
-
Chúng tôi cho rằng trong Diễn đàn
nầy giáo sư là người xứng
đáng để được cử ra hát
bài ca ngợi Kim Chủ tịch, có dàn
nhạc giao hưởng phụ hoạ. Xin đề
nghị giáo sư nhận lời chúng tôi
sẽ cử người tới, tập cho giáo
sư.
Tôi
không tiện từ chối chỉ nói :
Đó
là vinh dự rất lớn cho tôi nhưng
có mấy trở ngại. Thứ nhứt là
vì tôi còn phải chủ toạ cho
nhiều buổi hội thảo nữa, ngoài
ra hàng ngày phải viết báo cáo
gởi về cho UNESCO nên công việc của
tôi rất nhiều. Thứ hai là tôi
không biết tiếng Triều Tiên lại
chưa bao giờ hát nhạc Triều Tiên,
vì vậy trong vòng hai ba bữa không
thể tập hát rành rẽ một bài
được. Xin các bạn vui lòng chọn
người khác.
Tôi
nói vậy tưởng các bạn đồng
ý, không ngờ sáng sớm bữa sau
nghe tiếng gõ cửa, một người tới
gặp tôi tự giới thiệu:
-
Tôi là người chỉ huy dàn nhạc
giao hưởng.
Ban
tổ chức chỉ định tôi tới
hướng dẫn giáo sư cách hát,
chỗ nào hát lớn chỗ nào hát
nhỏ, tôi đem bản tổng phổ tới
cho giáo sư coi.
-
Nhưng tôi đâu có nhận lời ?
-
Tôi chỉ biết Ban tổ chức yêu cầu
tôi như vậy.
-
Nhờ ông về nói lại với Ban tổ
chức tôi không thể hát được.
Tôi sẽ gặp Ban tổ chức để
bàn sau.
Lát
sau lại có tiếng gõ cửa :
-
Tôi là người lĩnh xướng có
nhiệm vụ tập cho giáo sư khi ca phát
âm đúng giọng Triều Tiên.
-
Nhưng tôi đâu có nhận lời !
-
Ban tổ chức nói phải tập cho giáo
sư trong vòng ba ngày để kịp ra
hát.
Tôi
phải tới gặp Ban tổ chức lần nữa
:
- Tôi
hết sức cảm động trước
lòng ưu ái của các bạn nhứt
định dành cho tôi vinh dự hát
bài ca ngợi Kim Chủ tịch. Thế nhưng
tôi có những điều khó khăn
riêng, trước hết là UNESCO có
chỉ thị bằng văn bản chánh thức
nói rõ : trong tất cả những lời
phát biểu của người đại diện
cho UNESCO không được ca ngợi cũng
như không chỉ trích bất cứ một
chánh khách nào. Tôi là một
uỷ viên Ban chấp hành nên phải
tuân thủ qui định nầy. Do đó
nếu tôi muốn hát bài ca ngợi
Kim Chủ tịch thì phải điện về
xin ý kiến của UNESCO có cho phép
tôi phá lệ hay không, việc nầy
rất phức tạp và không kịp thời
gian. Ngoài ra gần 20 năm nay tôi chuyên
tâm nghiên cứu nhạc truyền thống
Việt Nam, vì vậy ngay cả nhạc mới
của Việt Nam tôi cũng ít hát,
nay tôi lại hát một bản nhạc mới
nước ngoài, điều đó sẽ
làm cho đồng bào của tôi không
hiểu và không vui. Cuối cùng tôi
không thể nào học thuộc lời cũng
như tập hát cho đúng giọng trong
thời gian ngắn như vậy được.
Nếu đó là một bài ca bình
thường còn tạm chấp nhận được,
chớ bài hát ca ngợi một vị lãnh
tụ như Kim Chủ tịch mà làm như
vậy là vô phép. Tôi không dám
làm chuyện thất lễ đối với
một vị lãnh đạo lớn như Kim
Chủ tịch.
Lý
lẽ sau cùng nầy thuyết phục được
Ban tổ chức...
(tập
3 ; tr. 266-268)
*
Năm
1987, Trần Văn Khê tới Trung Quốc với
tư cách phó trưởng đoàn đại
diện UNESCO, để tham dự hội thảo
âm nhạc Châu Á - Thái Bình
Dương. Ông suốt đời giữ quốc
tịch Việt Nam, và mọi người còn
nhớ lúc ấy tình hình Việt Nam
- Trung Quốc còn căng thẳng như thế
nào. Đoạn hồi ký sau đây,
phảng phất hương vị của những
cuộc đi sứ mấy thế kỷ trước,
vì thế lại càng thêm thú vị
:
Thiên
Tân là một thành phố trước
đây bị các nước phương
Tây chiếm đóng và xây dựng
nhiều khu vực thương mãi kinh tế.
Tôi được mời đến nói
chuyện về nhạc Việt Nam tại Nhạc
viện lớn ở nơi nầy. Ông giám
đốc tiếp tôi ân cần và nói
:
-
Hôm nay tôi rất hân hạnh tiếp đón
giáo sư.
Trước
khi nghe giáo sư giới thiệu âm nhạc
Việt Nam, xin phép cho cô Wang (Vương),
sinh viên năm thứ nhứt của chúng
tôi đờn một bản để giáo
sư thưởng thức.
Ông
không giới thiệu rõ cô đờn
loại nào hay bản gì. Khi cô biểu
diễn xong ông Giám đốc yêu cầu
tôi cho biết nhận xét, tôi phát
biểu :
-
Kính thưa ông Giám đốc, thưa
các vị giáo sư, quí vị quan
khách và các em sinh viên. Tôi vừa
nghe biểu diễn một bài tỳ bà
rất đặc sắc. Tôi muốn xin được
gặp người thầy dạy cô Wang để
hỏi cho biết ông dạy cách nào
mà sinh viên năm thứ nhứt lại đờn
thuần thục đến như vậy ? Thông
thường học tỳ bà năm đầu
giỏi lắm là đờn được
các bản nhập môn loại văn khúc
đơn giản như Dương
xuân bạch tuyết
hay khó hơn chút nữa là Xuân
giang hoa nguyệt dạ
sáng tác từ đời nhà Đường.
Nếu sau hai ba năm học mà đờn được
những bản đó đã là hay
rồi. Nhưng qua tới vũ khúc kỹ
thuật rất khó, học trò năm thứ
năm thứ sáu mới tiếp thu nổi.
Trong bài bản Vũ khúc thì bài
Thập diện mai phục cô Wang vừa đờn
là một trong những bản khó nhứt,
diễn tả tích Lưu Bang với Hạng Võ
đánh nhau, khi lâm trận Hạng Võ
đi tới đâu cũng gặp mai phục.
Bài nầy có đoạn phải đờn
sao cho nghe như tiếng gươm giáo chạm
vào nhau. Tôi ngồi thưởng thức
nãy giờ không thể không nhớ lời
thơ của cụ Nguyễn Du : Nghe
ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Tôi
hết sức ngạc nhiên về trình độ
biểu diễn của cô. Tôi có người
học trò là Cheng Shui Cheng học đờn
tỳ bà đã mười mấy năm,
mỗi khi muốn trình diễn bản nầy
cũng phải tập dợt lại.
Ông
giám đốc cười nói :
Xin
lỗi giáo sư, tôi quên không nói
rõ trước khi vào học năm thứ
nhứt đại học ở đây cô
Wang đã học đờn tỳ bà đến
chín năm và là một trong những
học trò giỏi nhứt của trường.
Hoá
ra có lẽ các bạn Trung Quốc muốn
thử xem trình độ hiểu biết của
tôi về nhạc Trung Quốc đến mức
nào. Nếu tôi nghe xong rồi khen qua loa rằng
học năm thứ nhứt mà đờn như
vậy cũng khá chắc các bạn đánh
giá tôi khác rồi.
(tập
3, tr. 385-386)
*
Xuyên
qua cả 4 tập hồi ký những điều
người đọc ngạc nhiên nhất có
lẽ là diện giao du rất rộng của
ông, cộng với một trí nhớ lạ
kỳ mà ngay cả một người có
thói quen viết nhật ký đều đặn
cũng khó mà thể hiện. Tuy nhiên
đoạn trích dưới đây lại
mượn trí nhớ của Trần Văn
Khê nói về trí nhớ của một
người khác :
Trong
cả hai lần về nước trong năm 2000,
tại Thành phố Hồ Chí Minh và ở
Hà Nội tôi đều được dự
buổi diễn vở kịch Lộ Địch
của cụ Ưng Bình Thúc Dạ Thị.
Đây là một vở bi kịch có
giá trị nhân bản rất tuyệt vời
phỏng theo tác phẩm Le Cid của Corneille
(Pháp).
Cụ
Ưng Bình sử dụng cốt chuyện của
Le Cid mà sắp xếp những chi tiết sao
cho phù hợp với tâm lý của
người Việt lại hợp với sân
khấu hát tuồng Việt Nam : lúc nào
thì nói lối, lúc nào hát
Nam, lúc nào hát khách, văn chương
chải chuốt và lời thơ rất hay.
Theo tôi đây là một kiệt tác
đầu tiên đưa ra đường lối
mới để phát triển nền hát
tuồng cửa Việt Nam, được Nhà
hát Đào Tấn ở Bình Định
dàn dựng, đạo diễn là Hoà
Bình, một nghệ sĩ ưu tú rất
có tài trẻ đẹp mà nhứt là
có tấm lòng. Giáo sư Tấn sĩ
Kim Lan - dạy Triết ở trường Đại
học Munchen bên Đức - là người
đứng ra tài trợ cho việc dựng lại
vở tuồng để trình diễn trên
sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh
và Hà Nội.
Nhân
dự hội nghị nầy tôi được
dịp nghe dàn trống Thăng Long biểu
diễn, sử dụng toàn bộ trống Việt
Nam từ lớn đến nhỏ, không phải
chỉ phong phú về số lượng mà
cả về chất lượng. Có những
trống đánh theo tiết tấu rất đơn
giản trên đó lại thêu dệt
thêm những tiết tấu khác phức
tạp hơn, kết lại như đan giỏ
và làm thành một bài rất đẹp.
Đồng
thời các động tác từ cánh
tay đưa lên đánh xuống đến
bước tới bước lui đều phỏng
theo phong cách võ Việt Nam. Theo tôi dàn
trống nầy còn đi xa hơn đoàn
Phù Đổng một bước, vì các
cháu Phù Đổng chỉ có bốn
năm người, việc biểu diễn mang tính
cách gần như thi thố tài năng của
từng người, trong khi đó dàn
trống Thăng Long chú trọng đến sự
phối hợp âm thanh, màu sắc và
cả những động tác trên sân
khấu.
Đặc
biệt trong chuyến ra Hà Nội vào tháng
9 có cháu Bảo Ngọc làm một
đoạn phim tư liệu ngắn về chân
dung của tôi để phát trên Đài
truyền hình VTV3.
Cháu
mất hết ba buổi đưa tôi đến
Văn Miếu, đến khách sạn nơi
tôi ở để quay những sinh hoạt
thường ngày, phỏng vấn tôi về
quan điểm phát triển văn hoá, hỏi
thăm đôi nét về chuyến đi Hà
Nội. Đoạn phim thú vị nhứt là
cảnh tôi đến thăm cụ bà
Quách Thị Hồ. Hôm đó thân
hữu tổ chức chúc thọ cho cả bà
cụ và tôi, cụ 90 còn tôi 80
tuổi, có đủ mặt những người
con, vài bạn bè và một số học
trò của cụ Quách Thị Hồ. Khi
tôi vừa bước vào, mọi người
hỏi: - Cụ còn nhớ giáo sư Trần
Văn Khê không ? Cụ không trả lời
thẳng câu hỏi, chỉ nhìn tôi mà
cất giọng ngâm:
Vô
duyên đâu dễ chăng là
Có duyên nên khiến dù xa hoá gần
Có duyên nên khiến dù xa hoá gần
Đó
là hai câu thơ trong bài cụ Trúc
Hiền tặng tôi năm 1976. Ngừng một
chút cụ lại ngâm thêm :
Đẹp
lòng gặp lại cố nhân
Rồi
nắm tay tôi lập lại ba lần “
Cố
nhân ơi ! Cố nhân ơi ? Cố nhân
ơi ”.
Tôi
cầm tay cụ mà không cầm được
nước mắt, nhớ lại con người
tài hoa sắc sảo trước đây,
nay tuy chỉ còn da bọc xương mà
vẫn giữ được hơi ngâm, còn
nhận ra người quen cũ để mà
ngâm lên mấy câu thơ ngày xưa
chứng tỏ tâm trí còn minh mẫn.
Đó
cũng là lần cuối cùng tôi gặp
cụ Quách Thị Hồ.
(tập
4, tr. 401-403)
*
Hồi
ký của Trần Văn Khê, ngoài việc
nó là một cuốn du ký đi khắp
phương trời của một nhà nghiên
cứu tầm cỡ quốc tế, còn là
một cái nhìn đa dạng và nhân
hậu về những con người hoạt động
âm nhạc trong gần cả một nửa thế
kỷ 20, trên thế giới, và đặc
biệt ở Việt Nam. Người ta gặp lại
nhiều lần những bạn thân thiết
của ông từ thời hoạt động
văn nghệ trong nhóm sinh viên trường
thuốc tại Hà Nội, với Lưu Hữu
Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng,
Thế Lữ ... qua thời ông ở Pháp
và vẫn giao hảo tốt với các
nhạc sĩ cả hai miền như Phạm Duy,
Nguyễn Hữu Ba... cho tới thế hệ những
nghệ sĩ thời nay như Đặng Thái
Sơn, Ea Sola... Cuốn hồi ký đó
còn nói về một gia đình bốn
đời nhạc sĩ (nếu kể cả các
con ông thì phải nói năm đời)
tại miền Nam. Giá trị tư liệu
không nhỏ.
Trần
Văn Khê nhớ tới tất cả, nhắc
tới tất cả với sự trìu mến,
ưu ái ; ngay khi ông phê bình một
tác phong, một hành động nào
đó, thì cũng rất kín đáo
nhẹ nhàng.
Trí
nhớ tôi vốn rất tồi, thường
vẫn thán phục những ai trí nhớ
tốt, hình như các nghệ sĩ lớn
đều như thế. Nghiệm từ trường
hợp Trần Văn Khê tôi lại tự
hỏi, phải chăng vì ông không có
gì cần quên ? Suốt một đời
đam mê, suốt một đời chung thuỷ
với âm nhạc, với thân nhân, đồng
sự và bạn bè, với dân tộc
Việt Nam.
Hàn
Thuỷ
(*)
Bốn tập khổ A5. Tập 1 không có
tựa ( từ thời thơ ấu tới khi sang
Pháp) 302 trang. Tập 2 : Đất
khách quê người,
286 trang. Tập 3 : Bôn
ba bốn biển năm châu,
500 trang. Tập 4 : Một
gánh nhạc một cuộc đời,
430 trang.
Do
nxb Trẻ và Cty văn hoá Phương Nam,
Tp HCM, xuất bản; từ tháng giêng 2001
đến tháng 4-2002. Có bán tại
hiệu sách Việt, 146 Bvd Vincent Auriol, Paris 13.
Nguồn: diendan.org
Nguồn: diendan.org
